|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 02 tháng 12, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 202. QUẢ NGHIỆP KHÓ TƯỞNG TƯỢNG - Kinh Bộ Xương (Aṭṭhisuttaṃ). -
Hình tướng và cuộc sống của chúng sanh vốn đa dạng và khó có thể thấy hết, biết hết. Chỉ riêng những gì con người thấy biết trên mặt đất, dưới đại dương đã vượt tầm nhìn của bất cứ cá nhân nào. Sự hiện hữu là kết quả của nghiệp. Hạnh nghiệp là hiển bày của tâm. Tâm tư vốn phức tạp vô cùng thì sự hiện hữu của kiếp trầm luân thật là thiên hình vạn trạng. Ý thức được nhân quả trong cuộc tử sanh sẽ khiến người trí hướng cầu giác ngộ giải thoát hơn là dong ruổi luân hồi.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati
veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena āyasmā ca
lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno gijjhakūṭe pabbate
viharanti. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya yenāyasmā lakkhaṇo
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ lakkhaṇaṃ etadavoca
– ‘‘āyāmāvuso lakkhaṇa, rājagahaṃ piṇḍāya pavisissāmā’’ti.
‘‘Evamāvuso’’ti kho āyasmā lakkhaṇo āyasmato
mahāmoggallānassa paccassosi. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno
gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṃ padese sitaṃ
pātvākāsi. Atha kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṃ
mahāmoggallānaṃ etadavoca – ‘‘ko nu kho, āvuso moggallāna,
hetu ko paccayo sitassa
pātukammāyā’’ti? ‘‘Akālo kho, āvuso lakkhaṇa, etassa
pañhassa. Bhagavato maṃ santike etaṃ pañhaṃ pucchā’’ti.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở
Đức
Thế Tôn
ngự
ở Rājagaha
(Vương Xá), ở
Veḷuvana (Trúc Lâm),
tại
Kalandakanivāpe
(chỗ cho sóc ăn).
Bấy
giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahāmoggallāna
trú ở núi Gijjhakūta (Linh Thứu).
Vào
buổi sángTôn giả Mahā Moggallāna đắp y, cầm y
(kép) và bình
bát, đi đến Tôn giả Lakkhana
và nói:
-- Hiền giả Lakkhana,
chúng
ta hãy cùng đi
vào Rājagaha để khất thực.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhana
trả lời
Tôn giả Mahā Moggallāna.
Lúc
Tôn giả Mahāmoggallāna
đi xuống từ
Gijjhakūta
ngang qua một đoạn đường
liền mỉm cười.
Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahāmoggallāna:
-- Này Hiền giả Moggallāna,
bởi nguyên do gì khiến
Hiền giả
mỉm cười?
-- Này Hiền giả Lakkhana,
bây giờ không phải là lúc để hỏi câu nầy.
Hãy
hỏi tôi câu hỏi ấy
trước
sự hiện diện của Đức
Thế Tôn,
Atha kho āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno
rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantā
yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Ekamantaṃ nisinno kho
āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ etadavoca –
‘‘idhāyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto
aññatarasmiṃ padese sitaṃ pātvākāsi. Ko nu kho, āvuso
moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā’’ti?
Sau
khi đi
trì bình và thọ thực
ở Rājagaha xong, trên con đường về Tôn giả Lakkhana và Tôn
giả Mahāmoggallāna
đi đến Thế Tôn
đảnh lễ Thế Tôn
và
ngồi xuống một bên.
Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahāmoggallāna:
--
Khi
Tôn giả Mahāmoggallāna
đi xuống
từ Gijjhakūta
ngang qua một đoạn đường
liền mỉm cười.
Bởi nguyên do gì khiến
Hiền giả
mỉm cười?
‘‘Idhāhaṃ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṃ
aṭṭhikasaṅkhalikaṃ vehāsaṃ gacchantiṃ. Tamenaṃ gijjhāpi
kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā phāsuḷantarikāhi
vitudenti vitacchenti virājenti. Sā sudaṃ aṭṭassaraṃ karoti.
Tassa mayhaṃ, āvuso, etadahosi – ‘acchariyaṃ vata, bho,
abbhutaṃ vata, bho! Evarūpopi nāma satto bhavissati!
Evarūpopi nāma yakkho bhavissati! Evarūpopi nāma
attabhāvapaṭilābho bhavissatī’’’ti!!
--
Này
Hiền giả,
chuyện là vầy. Khi
từ núi Gijjhakūta
đi
xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên
hư không.
Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng
bay theo
theo cắn xé nó, cắn mổ xương sườn nó, và nó kêu lên những
tiếng kêu đau đớn. Này Hiền giả, tôi suy nghĩ: "Thật
kỳ lạ!
Thật
khó tưởng tượng nổi!
Có một chúng sanh như vậy, có loài ngạ quỷ như vậy, có sự
tồn tại của một tự thể như vậy!”
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘cakkhubhūtā vata,
bhikkhave, sāvakā viharanti; ñāṇabhūtā vata, bhikkhave,
sāvakā viharanti, yatra hi nāma sāvako evarūpaṃ ñassati vā
dakkhati vā sakkhiṃ vā karissati. Pubbeva me so, bhikkhave,
satto diṭṭho ahosi, api cāhaṃ na byākāsiṃ. Ahañcetaṃ
byākareyyaṃ, pare ca me na saddaheyyuṃ. Ye me na
saddaheyyuṃ, tesaṃ taṃ assa dīgharattaṃ ahitāya dukkhāya.
Eso, bhikkhave, satto imasmiṃyeva rājagahe goghātako ahosi.
So tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni
bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye
paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṃ
attabhāvapaṭilābhaṃ paṭisaṃvedayatī’’ti. (Sabbesaṃ
suttantānaṃ eseva peyyālo).
Lúc ấy Đức
Thế Tôn
nói với chư tỳ khưu:
--
Này chư Tỳ khưu,
có những thinh văn đệ tử cộng trú là bậc chứng thiên nhãn,
là bậc có hiểu biết có thể thấy và chứng kiến cảnh tượng như
vậy. Này chư Tỳ khưu, trước đây Ta cũng từng thấy nhưng
không nói. Bởi vì nếu Ta nói thì có những người không tin và
thái độ ngờ vực đối với Ta khiến họ bị bất hạnh và đau khổ
lâu dài.
Này chư Tỳ khưu,
chúng
sanh ấy
nguyên
là một đồ tể giết
trâu bò
ở Rājagaha này.
Sau
khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm,
nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả
dị
thục
dư xót,
người đó cảm thọ một tự
thể
như vậy.
Chú
Thích Tôn
giả
Lakkhaṇa
vốn là một trong nhóm một ngàn đạo sĩ jaṭila đệ tử của ngài
Uruvelakassapa đồng xuất gia theo Đức Phật. Vị nầy được gọi
là Lakkhaṇa vì có hảo tướng như phạm thiên. Vị nầy cũng có
thần lực tam muội định, nhưng theo Sớ Giải, thì không thấy
ngạy quỷ ấy do không để ý.
Theo Sớ Giải, thì sự mìm cười của tôn giả
Mahāmoggallāna
không phải do thiéu tâm bi mẫn mà do quán sát tự thân đã
thoát vòng sanh tử và nhìn hiện tượng pháp giới với Phật trí
(suppaṭividdhā buddhānaṃ dhammadhātu). Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |