BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 02 tháng 12, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập II – Thiên Nhân Duyên. Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana – Phẩm Thứ Nhất (S,ii,254)
  Bài 202. QUẢ NGHIỆP KHÓ TƯỞNG TƯỢNG - Kinh Bộ Xương (Aṭṭhisuttaṃ). -

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Hình tướng và cuộc sống của chúng sanh vốn đa dạng và khó có thể thấy hết, biết hết. Chỉ riêng những gì con người thấy biết trên mặt đất, dưới đại dương đã vượt tầm nhìn của bất cứ cá nhân nào. Sự hiện hữu là kết quả của nghiệp. Hạnh nghiệp là hiển bày của tâm. Tâm tư vốn phức tạp vô cùng thì sự hiện hữu của kiếp trầm luân thật là thiên hình vạn trạng. Ý thức được nhân quả trong cuộc tử sanh sẽ khiến người trí hướng cầu giác ngộ giải thoát hơn là dong ruổi luân hồi.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno gijjhakūṭe pabbate viharanti. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yenāyasmā lakkhaṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ lakkhaṇaṃ etadavoca – ‘‘āyāmāvuso lakkhaṇa, rājagahaṃ piṇḍāya pavisissāmā’’ti. ‘‘Evamāvuso’’ti kho āyasmā lakkhaṇo āyasmato mahāmoggallānassa paccassosi. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṃ padese sitaṃ pātvākāsi. Atha kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ etadavoca – ‘‘ko nu kho, āvuso moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā’’ti? ‘‘Akālo kho, āvuso lakkhaṇa, etassa pañhassa. Bhagavato maṃ santike etaṃ pañhaṃ pucchā’’ti.

Tôi được nghe như vầy,

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha (Vương Xá), ở Veḷuvana (Trúc Lâm),  tại  Kalandakanivāpe (chỗ cho sóc ăn).

Bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahāmoggallāna trú ở núi Gijjhakūta (Linh Thứu). Vào buổi sángTôn giả Mahā Moggallāna đắp y, cầm y (kép) và bình bát, đi đến Tôn giả Lakkhana và nói:

-- Hiền giả Lakkhana, chúng ta hãy cùng đi vào Rājagaha để khất thực.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Lakkhana trả lời Tôn giả Mahā Moggallāna.

Lúc Tôn giả Mahāmoggallāna đi xuống  từ  Gijjhakūta ngang qua một đoạn đường liền mỉm cười.

Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahāmoggallāna:

-- Này Hiền giả Moggallāna, bởi nguyên do gì khiến  Hiền giả  mỉm cười?

-- Này Hiền giả Lakkhana, bây giờ không phải là lúc để hỏi câu nầy.  Hãy hỏi tôi câu hỏi ấy trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn,

Atha kho āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ etadavoca – ‘‘idhāyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṃ padese sitaṃ pātvākāsi. Ko nu kho, āvuso moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā’’ti?

Sau khi đi trì bình và thọ thực ở Rājagaha xong, trên con đường về Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahāmoggallāna đi đến Thế Tôn đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahāmoggallāna:

-- Khi Tôn giả Mahāmoggallāna  đi xuống  từ  Gijjhakūta ngang qua một đoạn đường liền mỉm cười. Bởi nguyên do gì khiến  Hiền giả  mỉm cười?

‘‘Idhāhaṃ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṃ aṭṭhikasaṅkhalikaṃ vehāsaṃ gacchantiṃ. Tamenaṃ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā phāsuḷantarikāhi vitudenti vitacchenti virājenti. Sā sudaṃ aṭṭassaraṃ karoti. Tassa mayhaṃ, āvuso, etadahosi – ‘acchariyaṃ vata, bho, abbhutaṃ vata, bho! Evarūpopi nāma satto bhavissati! Evarūpopi nāma yakkho bhavissati! Evarūpopi nāma attabhāvapaṭilābho bhavissatī’’’ti!!

-- Này Hiền giả, chuyện là vầy. Khi  từ núi Gijjhakūta đi xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên hư không. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng bay theo theo cắn xé nó, cắn mổ xương sườn nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn. Này Hiền giả, tôi suy nghĩ: "Thật kỳ lạ! Thật khó tưởng tượng nổi! Có một chúng sanh như vậy, có loài ngạ quỷ như vậy, có sự tồn tại của một tự thể như vậy!”

Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti; ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti, yatra hi nāma sāvako evarūpaṃ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṃ vā karissati. Pubbeva me so, bhikkhave, satto diṭṭho ahosi, api cāhaṃ na byākāsiṃ. Ahañcetaṃ byākareyyaṃ, pare ca me na saddaheyyuṃ. Ye me na saddaheyyuṃ, tesaṃ taṃ assa dīgharattaṃ ahitāya dukkhāya. Eso, bhikkhave, satto imasmiṃyeva rājagahe goghātako ahosi. So tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṃ attabhāvapaṭilābhaṃ paṭisaṃvedayatī’’ti. (Sabbesaṃ suttantānaṃ eseva peyyālo).

Lúc ấy Đức Thế Tôn nói với chư tỳ khưu:

-- Này chư Tỳ khưu, có những thinh văn đệ tử cộng trú là bậc chứng thiên nhãn, là bậc có hiểu biết có thể thấy và chứng kiến cảnh tượng như vậy. Này chư Tỳ khưu, trước đây Ta cũng từng thấy nhưng không nói. Bởi vì nếu Ta nói thì có những người không tin và thái độ ngờ vực đối với Ta khiến họ bị bất hạnh và đau khổ lâu dài.

Này chư Tỳ khưu, chúng sanh ấy nguyên  là một đồ tể giết trâu bò ở Rājagaha này. Sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả dị thục dư xót, người đó cảm thọ một tự thể như vậy.

Chú Thích

Tôn giả Lakkhaṇa vốn là một trong nhóm một ngàn đạo sĩ jaṭila đệ tử của ngài Uruvelakassapa đồng xuất gia theo Đức Phật. Vị nầy được gọi là Lakkhaṇa vì có hảo tướng như phạm thiên. Vị nầy cũng có thần lực tam muội định, nhưng theo Sớ Giải, thì không thấy ngạy quỷ ấy do không để ý.

Theo Sớ Giải, thì sự mìm cười của tôn giả Mahāmoggallāna không phải do thiéu tâm bi mẫn mà do quán sát tự thân đã thoát vòng sanh tử và nhìn hiện tượng pháp giới với Phật trí (suppaṭividdhā buddhānaṃ dhammadhātu).

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-