BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 26 tháng 12, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập II – Thiên Nhân Duyên. Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ (S, II, 267)
  Bài 231. CƯ TRẦN PHẢI BIẾT CÁCH BẤT NHIỄM TRẦN- Kinh Con Voi (Nāgasuttaṃ). -

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Cùng một hoàn cảnh sống nhưng có người giữ được cõi lòng thanh thản có kẻ lại không. Cùng đi trong sương sớm có người vô sự nhưng có kẻ bị trúng sương ngã bệnh. Không phải thấy người làm được thì ỷ lại mình cũng vậy thôi. Danh lợi có thể là phù du với người thật sự trưởng thành trong đạo giải thoát nhưng lại là mãnh lực làm điên đảo những ai chưa thật sự vững vàng. Biết tự lượng sức mình là bí quyết quan trọng.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena aññataro navo bhikkhu ativelaṃ kulāni upasaṅkamati. Tamenaṃ bhikkhū evamāhaṃsu – ‘‘māyasmā ativelaṃ kulāni upasaṅkamī’’ti. So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno evamāha – ‘‘ime hi nāma therā bhikkhū kulāni upasaṅkamitabbaṃ maññissanti, kimaṅgaṃ panāha’’nti?

Tôi dược nghe như vầy,

Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ Viên), ngôi già lamdo ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc) dâng cúng.

Bấy giờ có một tỳ khưu mới xuất gia lui tới các gia đình cư sĩ quá nhiều. Những tỳ khưu khác nói với vị ấy: “Hiền giả không nên lui tới với các gia đình cư sĩ quá nhiều như vậy”.  Nghe nói vậy vị tỳ khưu mới tu trả lời: “Những trưởng lão tỳ khưu cũng đi đến các gia đình như vậy sao tôi lại không được?”

Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ – ‘‘idha, bhante, aññataro navo bhikkhu ativelaṃ kulāni upasaṅkamati. Tamenaṃ bhikkhū evamāhaṃsu – ‘māyasmā ativelaṃ kulāni upasaṅkamī’ti. So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno evamāha – ‘ime hi nāma therā bhikkhū kulāni upasaṅkamitabbaṃ maññissanti, kimaṅgaṃ panāha’’’nti.

Rồi một số tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi bên bên.  Các vị ấy bạch với Đức Thế Tôn:

-- Bạch Đức Thế Tôn, có một tỳ khưu mới xuất gia lui tới các gia đình cư sĩ quá nhiều. Những tỳ khưu khác nói với vị ấy: “Hiền giả không nên lui tới với các gia đình cư sĩ quá nhiều như vậy”.  Nghe nói vậy vị tỳ khưu mới tu trả lời: “Những trưởng lão tỳ khưu cũng đi đến các gia đình như vậy sao tôi lại không được?”

‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, araññāyatane mahāsarasī. Taṃ nāgā upanissāya viharanti. Te taṃ sarasiṃ ogāhetvā soṇḍāya bhisamuḷālaṃ abbuhetvā suvikkhālitaṃ vikkhāletvā akaddamaṃ saṅkhāditvā ajjhoharanti. Tesaṃ taṃ vaṇṇāya ceva hoti balāya ca, na ca tatonidānaṃ maraṇaṃ vā nigacchanti maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ. Tesaṃyeva kho pana, bhikkhave, mahānāgānaṃ anusikkhamānā taruṇā bhiṅkacchāpā taṃ sarasiṃ ogāhetvā soṇḍāya bhisamuḷālaṃ abbuhetvā na suvikkhālitaṃ vikkhāletvā sakaddamaṃ asaṅkhāditvā ajjhoharanti. Tesaṃ taṃ neva vaṇṇāya hoti na balāya. Tatonidānaṃ maraṇaṃ vā nigacchanti maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ.

-- Này chư Tỳ Khưu, thuở xưa có bầy voi lớn sống ven hồ nước lớn trong khu rừng. Các con voi đi xuống hồ dùng vòi nhỗ lên các củ sen và ngó sen rửa sạch bùn rồi ăn. Nhờ ăn như vậy các con voi sống khoẻ khoắn, tươi tắn. Và không vì sự ăn uống vậy mà chết hay đau khổ gần chết.

Một số các con voi nhỏ học đòi theo những con voi lớn cũng xuống hồ dùng vòi nhỗ lên các củ sen và ngó sen nhưng không biết rửa sạch bùn đê ăn. Do ăn củ sen và ngó sen dính đầy bùn như vậy các con voi nhỏ bị bệnh, tiều tuỵ. Và vi vậy mà chết hay đau khổ gần chết.

‘‘Evameva kho, bhikkhave, idha therā bhikkhū pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya pavisanti. Te tattha dhammaṃ bhāsanti. Tesaṃ gihī pasannākāraṃ karonti. Te taṃ lābhaṃ agadhitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjanti. Tesaṃ taṃ vaṇṇāya ceva hoti balāya ca, na ca tatonidānaṃ maraṇaṃ vā nigacchanti maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ. Tesaṃyeva kho pana, bhikkhave, therānaṃ bhikkhūnaṃ anusikkhamānā navā bhikkhū pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya pavisanti. Te tattha dhammaṃ bhāsanti. Tesaṃ gihī pasannākāraṃ karonti. Te taṃ lābhaṃ gadhitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti. Tesaṃ taṃ neva vaṇṇāya hoti na balāya, te tatonidānaṃ maraṇaṃ vā nigacchanti maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ. Tasmātiha, bhikkhave, evaṃ sikkhitabbaṃ – ‘agadhitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā taṃ lābhaṃ paribhuñjissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti.

Này chư Tỳ Khưu, ở đây cũng giống như vậy, các trưởng lão tỳ khưu vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y (kép) đi vào làng hay phố thị khất thực. Tại đây các vị thuyết pháp vànhững cư sĩ thể hiện lòng tin đối với những vị ấy. Các tỳ khưu ấy thọ dụng sự cúng dường với tâm không mê đắm, không bị chi phối, biết rõ sự nguy hại, biết rõ sự xuất ly bằng trí tuệ. Các tỳ khưu thọ dụng như vậy được khang kiện, tăng tướng tốt đẹp, không bị khổ luỵ mạng vong hay dở sống dở chết.

Nhưng này chư Tỳ Khưu, ở đây một số các tỳ khưu mới xuất gia học theo các trưởng lão tỳ khưu vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y (kép) đi vào làng hay phố thị khất thực. Tại đây các vị thuyết pháp và những cư sĩ thể hiện lòng tin đối với những vị ấy. Các tỳ khưu ấy thọ dụng sự cúng dường với tâm  mê đắm, bị chi phối, không biết rõ sự nguy hại, không biết rõ sự xuất ly bằng trí tuệ. Do các tỳ khưu thọ dụng như vậy bị bệnh hoạ tiều tuỵ, bị khổ luỵ mạng vong hay dở sống dở chết.

Này chư Tỳ khưu, do vậy các thầy cần tu tập như sau: “Chúng ta thọ dụng sự cúng dường với tâm không mê đắm, không bị chi phối, biết rõ sự nguy hại, biết rõ sự xuất ly bằng trí tuệ+.

Này chư Tỳ khưu, các thầy cần tu tập như vậy.

Chú Thích

Thí dụ về con voi trong bài kinh nầy của tìm thấy trong Luật Tạng ( Vin II 120) liên quan tới Devadatta.

Theo Sớ Giải thì câu “những cư sĩ thể hiện lòng tin đối với những vị ấy” có nghĩa là phát tâm cúng dường tứ sự (pasannākāraṃ karonti).

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-