|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 26 tháng 12, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 231. CƯ TRẦN PHẢI BIẾT CÁCH BẤT NHIỄM TRẦN- Kinh Con Voi (Nāgasuttaṃ). -
Cùng một hoàn
cảnh sống nhưng có người giữ được cõi lòng thanh thản có kẻ
lại không. Cùng đi trong sương sớm có người vô sự nhưng có
kẻ bị trúng sương ngã bệnh. Không phải thấy người làm được
thì ỷ lại mình cũng vậy thôi. Danh lợi có thể là phù du với
người thật sự trưởng thành trong đạo giải thoát nhưng lại là
mãnh lực làm điên đảo những ai chưa thật sự vững vàng. Biết
tự lượng sức mình là bí quyết quan trọng.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ
bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa
ārāme. Tena kho pana samayena aññataro navo bhikkhu ativelaṃ
kulāni upasaṅkamati. Tamenaṃ bhikkhū evamāhaṃsu – ‘‘māyasmā
ativelaṃ kulāni upasaṅkamī’’ti. So bhikkhu bhikkhūhi
vuccamāno evamāha – ‘‘ime hi nāma therā bhikkhū kulāni
upasaṅkamitabbaṃ maññissanti, kimaṅgaṃ panāha’’nti?
Tôi dược nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthi
(Xá-vệ), Jetavana (Kỳ Viên), ngôi già lamdo ông
Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc) dâng cúng.
Bấy giờ có một tỳ
khưu mới xuất gia lui tới các gia đình cư sĩ quá nhiều.
Những tỳ khưu khác nói với vị ấy: “Hiền giả không nên lui
tới với các gia đình cư sĩ quá nhiều như vậy”.
Nghe nói vậy vị tỳ khưu mới tu trả lời: “Những trưởng
lão tỳ khưu cũng đi đến các gia đình như vậy sao tôi lại
không được?”
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu.
Ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ –
‘‘idha, bhante, aññataro navo bhikkhu ativelaṃ kulāni
upasaṅkamati. Tamenaṃ bhikkhū evamāhaṃsu – ‘māyasmā ativelaṃ
kulāni upasaṅkamī’ti. So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno evamāha
– ‘ime hi nāma therā bhikkhū kulāni upasaṅkamitabbaṃ
maññissanti, kimaṅgaṃ panāha’’’nti.
Rồi một số tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, đảnh
lễ và ngồi bên bên.
Các vị ấy bạch với Đức Thế Tôn:
-- Bạch Đức Thế Tôn, có một tỳ khưu mới xuất
gia lui tới các gia đình cư sĩ quá nhiều. Những tỳ khưu khác
nói với vị ấy: “Hiền giả không nên lui tới với các gia đình
cư sĩ quá nhiều như vậy”.
Nghe nói vậy vị tỳ khưu mới tu trả lời: “Những trưởng
lão tỳ khưu cũng đi đến các gia đình như vậy sao tôi lại
không được?”
‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, araññāyatane mahāsarasī. Taṃ nāgā
upanissāya viharanti. Te taṃ sarasiṃ ogāhetvā soṇḍāya
bhisamuḷālaṃ abbuhetvā suvikkhālitaṃ vikkhāletvā akaddamaṃ
saṅkhāditvā ajjhoharanti. Tesaṃ taṃ vaṇṇāya ceva hoti balāya
ca, na ca tatonidānaṃ maraṇaṃ vā nigacchanti maraṇamattaṃ vā
dukkhaṃ. Tesaṃyeva kho pana, bhikkhave, mahānāgānaṃ
anusikkhamānā taruṇā bhiṅkacchāpā taṃ sarasiṃ ogāhetvā
soṇḍāya bhisamuḷālaṃ abbuhetvā na suvikkhālitaṃ vikkhāletvā
sakaddamaṃ asaṅkhāditvā ajjhoharanti. Tesaṃ taṃ neva vaṇṇāya
hoti na balāya. Tatonidānaṃ maraṇaṃ vā nigacchanti
maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ.
-- Này chư Tỳ Khưu, thuở xưa có bầy voi lớn
sống ven hồ nước lớn trong khu rừng. Các con voi đi xuống hồ
dùng vòi nhỗ lên các củ sen và ngó
sen rửa sạch bùn rồi ăn. Nhờ ăn như vậy các con voi sống
khoẻ khoắn, tươi tắn. Và không vì sự ăn uống vậy mà chết hay
đau khổ gần chết.
Một số các con voi nhỏ học đòi theo những
con voi lớn cũng xuống hồ dùng vòi nhỗ lên các củ sen và ngó
sen nhưng không biết rửa sạch bùn đê ăn. Do ăn củ sen và ngó
sen dính đầy bùn như vậy các con voi nhỏ bị bệnh, tiều tuỵ.
Và vi vậy mà chết hay đau khổ gần chết.
‘‘Evameva kho, bhikkhave, idha therā bhikkhū pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya
pavisanti. Te tattha dhammaṃ bhāsanti. Tesaṃ gihī
pasannākāraṃ karonti. Te taṃ lābhaṃ agadhitā amucchitā
anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjanti.
Tesaṃ taṃ vaṇṇāya ceva hoti balāya ca, na ca tatonidānaṃ
maraṇaṃ vā nigacchanti maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ. Tesaṃyeva
kho pana, bhikkhave, therānaṃ bhikkhūnaṃ anusikkhamānā navā
bhikkhū pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ vā
nigamaṃ vā piṇḍāya pavisanti. Te tattha dhammaṃ bhāsanti.
Tesaṃ gihī pasannākāraṃ karonti. Te taṃ lābhaṃ gadhitā
mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā
paribhuñjanti. Tesaṃ taṃ neva vaṇṇāya hoti na balāya, te
tatonidānaṃ maraṇaṃ vā nigacchanti maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṃ sikkhitabbaṃ – ‘agadhitā
amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā taṃ
lābhaṃ paribhuñjissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave,
sikkhitabba’’nti.
Này chư Tỳ Khưu, ở đây cũng giống như vậy,
các trưởng lão tỳ khưu vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y
(kép) đi vào làng hay phố thị khất thực. Tại đây các vị
thuyết pháp vànhững cư sĩ thể hiện
lòng tin đối với những vị ấy. Các tỳ khưu ấy
thọ dụng sự cúng dường với tâm không
mê đắm, không bị chi phối, biết rõ sự nguy hại, biết rõ sự
xuất ly bằng trí tuệ. Các tỳ khưu thọ dụng như vậy được
khang kiện, tăng tướng tốt đẹp, không bị khổ luỵ mạng vong
hay dở sống dở chết.
Nhưng này chư Tỳ Khưu, ở đây một số các tỳ
khưu mới xuất gia học theo các trưởng lão tỳ khưu vào buổi
sáng đắp y, cầm bát và y (kép) đi vào làng hay phố thị khất
thực. Tại đây các vị thuyết pháp và những cư sĩ thể hiện
lòng tin đối với những vị ấy. Các tỳ khưu ấy thọ dụng sự
cúng dường với tâm
mê đắm, bị chi phối, không biết rõ sự nguy hại, không
biết rõ sự xuất ly bằng trí tuệ. Do các tỳ khưu thọ dụng như
vậy bị bệnh hoạ tiều tuỵ, bị khổ luỵ mạng vong hay dở sống
dở chết.
Này chư Tỳ khưu, do vậy các thầy cần tu tập
như sau: “Chúng ta thọ dụng sự cúng dường với tâm không mê
đắm, không bị chi phối, biết rõ sự nguy hại, biết rõ sự xuất
ly bằng trí tuệ+.
Này chư Tỳ khưu, các thầy cần tu tập như
vậy.
Chú Thích Thí dụ
về con voi trong bài kinh nầy của tìm thấy trong Luật Tạng (
Vin II 120) liên quan tới Devadatta. Theo
Sớ Giải thì câu “những cư sĩ thể hiện lòng tin đối với những
vị ấy” có nghĩa là phát tâm cúng dường tứ sự (pasannākāraṃ
karonti). Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |