|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 04 tháng 12, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 347. CHỨNG NHẬP TAM MUỘI ĐỊNH- Kinh Chứng Đạt Thiền Định (samādhimūlakasamāpattisuttaṃ) Và trọn Phẩm Thiền . ******
Như một công trình xây cất đáng nói phải bao gồm cả hai phương diện
mỹ thuật và kỹ thuật. Mỹ thuật
cho thấy cái đẹp trong lúc kỹ
thuật bảo đảm sự vững chắc và an
toàn của toà nhà. Phật pháp dạy
con đường tu tập bao gồm hai mục
tiêu: tâm giải thoát và tuệ giải
thoát. Hai mục tiêu nầy thành
tựu được do thực hành chỉ và
quán. Sự giác ngộ giải thoát vốn
là cứu cánh nên tuệ giác thoát
thường được nhấn mạnh. Thế nhưng
không có nghĩa vì vậy tâm giải
thoát hay sự tu tập thiền chỉ
không được đề cập như Phật ngôn:
“Có thiền trí tuệ sanh, không
thiền trí tuệ diệt (Pháp Cú
282)”.
Kinh Văn:
662. sāvatthinidānaṃ. “cattārome, bhikkhave, jhāyī. katame
cattāro? idha, bhikkhave, ekacco
jhāyī samādhismiṃ samādhikusalo
hoti, na samādhismiṃ
samāpattikusalo. idha pana,
bhikkhave, ekacco jhāyī
samādhismiṃ samāpattikusalo
hoti, na samādhismiṃ
samādhikusalo. idha pana,
bhikkhave, ekacco jhāyī neva
samādhismiṃ samādhikusalo hoti,
na ca samādhismiṃ
samāpattikusalo. idha pana,
bhikkhave, ekacco jhāyī
samādhismiṃ samādhikusalo ca
hoti, samādhismiṃ
samāpattikusalo ca. tatra,
bhikkhave, yvāyaṃ jhāyī
samādhismiṃ samādhikusalo ca
hoti samādhismiṃ samāpattikusalo
ca ayaṃ imesaṃ catunnaṃ jhāyīnaṃ
aggo ca seṭṭho ca mokkho
{pāmokkho (syā. kaṃ.)
evamuparipi} ca uttamo ca pavaro
ca. seyyathāpi, bhikkhave, gavā
khīraṃ, khīramhā dadhi, dadhimhā
navanītaṃ, navanītamhā sappi,
sappimhā sappimaṇḍo tatra
aggamakkhāyati; evameva kho,
bhikkhave, yvāyaṃ jhāyī
samādhismiṃ samādhikusalo ca
hoti samādhismiṃ samāpattikusalo
ca ayaṃ imesaṃ catunnaṃ jhāyīnaṃ
aggo ca seṭṭho ca mokkho ca
uttamo ca pavaro cā”ti.
paṭhamaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthi
“Này chư Tỳ khưu, có bốn hạng thiền giả. Bốn hạng gồm những ai?
Ở đây có người thiện xảo định trong định nhưng không thiện xảo trong chứng
đạt định.
Có người thiện xảo trong chứng đạt định nhưng không thiện xảo định trong
định.
Có người không thiện xảo trong chứng đạt định cũng không thiện xảo định
trong
định.
Có người thiện xảo trong chứng đạt định và cũng thiện xảo định trong định.
Này chư Tỳ khưu, trong bốn hạng thiền giả này, người thiện xảo định trong
định và cũng thiện xảo trong
chứng đắc định là vượt trội,
xuất sắc, cao quý và tối thượng.
Này chư Tỳ khưu, ví như từ bò cái có sữa; từ sữa sinh ra
sữa
đông; từ sữa đông sanh ra bơ
tươi; từ bơ tươi sanh ra bơ
lỏng; từ bơ lỏng sanh ra bơ tinh
chế. Bơ tinh chế được xe là
tốt nhất. Tương tự như vậy,
trong bốn hạng thiền giả này,
người thiện xảo trong chứng định
và cũng thiện xảo trong nhập
định là vượt trội, xuất sắc, cao
quý và tối thượng.
Chú Thích
Phẩm nầy mang tên là jhānasaṃyuttaṃ - phẩm Tương Ưng Thiền – bao gồm những
bài kinh về thiền chỉ (samatha).
Một số khía cạnh về thiền
(jhāna) chỉ có ở đây không tìm
thấy ở nơi khác trong Tam Tạng.
Jhāna ở đây là một thuật ngữ mang ý nghĩa uyên nguyên nhất. Thuật ngữ nầy
được người Trung Hoa
phiên
âm là
禪那 (chán nà hay thiền na); cũng có khi nữa phiên âm, nữa dịch là
禪定 (chan ding hay thiền định) hoặc ngắn gọn là
禪 (chan hay thiền). Người Nhật viết là Zen. Người Việt thường gọi là thiền.
Chữ “thiền” trong cách gọi ngày
nay thường mang nghĩa rất xa và
rất khác biệt với ý nghĩa uyên
nguyên.
Jhāna ở đây chỉ cho sự tu
tập, đắc chứng, thể nhập trạng
thái tâm định cao được đo đạt
bằng năm thiền chi tầm, tứ, hỷ,
lạc, và định. Càng thuần thục
càng giảm bớt các thiền chi.
Điều nầy tạo nên các tầng thiền.
Theo Kinh Tạng thì có bốn tầng
thiền. Thắng Pháp Tạng thì chia
làm năm.
Thuật ngữ samādhi thường được dịch là “định”, phiên âm là “tam muội”. Bản
dịch chọn chữ “tam muội định”
bao gồm cả phiên âm và nghĩa để
đặc biệt chỉ cho ý nghĩa chuyên
môn. Trước hết samādhi trong
cách dùng ở các quốc gia Phật
giáo là “tu thiền”, ngài Walpola
Rahula dịch sang Anh ngữ là
“cultivating mental culture”.
Samādhi trong tam học (giới,
định, tuệ) có nghĩa huân tu nội
tâm với chánh tinh tấn, chánh
niệm và chánh định. Samādhi
trong chánh định của bát chánh
đạo là sự huân tu năm thiền chi
(tầm, tứ, hỷ, lạc, định) để đối
trị năm pháp cái (tham dục, sân
hận, hôn thuỵ, hối quá, và nghi
hoặc). Như vậy có chỗ samādhi
bao gồm cả chỉ và quán (samatha
và vipassana) như trong tam học.
Có chỗ samādhi chỉ riêng cho
thiền chỉ như trong chánh định
trong bát chánh đạo hay trong
phẩm nầy. Có thể định nghĩa
chung samādhi bao gồm sự tập
trung bền bỉ của tâm tạo nên
định lực áp đạo sự vọng móng tầm
cầu của tâm; khi tu tập xa hơn
tạo thành định lực cho cả chỉ và
quán; nếu đi thẳng vào chỉ rồi
đắc định là sự chứng đắc các
tầng thiền.
Chữ jhāyī - thiền giả - ở đây dùng chỉ cho người tu thiền chỉ (samatha)
trong lúc chữ hành giả (yogī)
thường dùng cho chỉ chung cho
người tu tập chỉ và quán.
Theo Sớ Giải, “thiện xảo định trong định (samādhismiṃ samādhikusalo) là
người có khả năng phân rõ: đây
là năm thiền chi, đây là ba
thiền chi..”. Thiện xảo chứng
đạt định trong định (samādhismiṃ
samāpattikusalo) là khéo léo
huân tu thiền chi áp đảo pháp
đối nghịch.
Thí dụ về sữa vốn rất quen thuộc tại Ấn Độ, vùng đất dùng sữa là thực phẩm
hằng ngày nhưng tương đối xa lạ
với người Việt Nam. Bản dịch của
Hoà thượng Thích Minh Châu sử
dụng từ ngữ chử Hán cổ:
“từ
bò cái nên có sữa; từ sữa có
lạc; từ lạc có sanh tô; từ sanh
tô có thục tô; từ thục tô có đề
hồ”. Bản dịch nầy lấy theo từ
ngữ thường dùng ngày nay với chú
thích Anh ngữ: sữa đông (Pali:
dadhi, Anh ngữ: curd); từ
sữa đông sanh ra bơ tươi (Pali:
navanīta, Anh ngữ: butter); từ
bơ tươi sanh ra bơ lỏng (Pali:
sappi, Anh ngữ: ghee); từ bơ
lỏng sanh ra bơ tinh chế (Pali:
sappimaṇḍo, Anh ngữ:
cream-of-ghee).
Phẩm Tương Ưng Thiền (Jhānasaṃyutta)là một phần của Saṃyutta Nikāya
(Chương 34), tập trung vào các
Phật ngôn liên quan đến jhāna
(thiền định). Các bài kinh này
khám phá bản chất, cách tu tập,
và sự thuần thục trong thiền,
cùng các phẩm chất và thực hành
liên quan đến định (samādhi). Vì
tất cả bài kinh đều có bố cục và
thí du giống nhau nên gom lại
với bản tổng kết để dễ theo dõi.
Có thể tham khảo chánh kinh trọn
phẩm nầy với bản dịch của Hoà
Thượng Thích Minh Châu.
Dưới đây là những điểm chính trong
phẩm này:
1. Bốn loại hành giả thiền định
a.
Samādhikusalo, không phải
Samāpattikusalo: Có kỹ năng
trong việc hiểu các yếu tố của
jhāna nhưng không thể nhập vào
thiền định.
b.
Samāpattikusalo, không phải
Samādhikusalo: Có kỹ năng trong
việc đạt được và duy trì thiền
định nhưng thiếu hiểu biết phân
tích về các yếu tố của nó.
c.
Không
Samādhikusalo, cũng không
Samāpattikusalo: Không hiểu các
yếu tố và cũng không đạt được
thiền định.
d.
Cả
Samādhikusalo lẫn
Samāpattikusalo: Thành thạo cả
hiểu biết lý thuyết và thực hành
đạt được thiền định, được xem là
loại hành giả ưu tú nhất.
Phân loại này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa hiểu biết lý
thuyết và khả năng thực hành
thiền định.
2. Nhấn mạnh về thiền hiệp thế (Lokiya Jhāna) Theo các chú giải (Saṃyutta Nikāya Aṭṭhakathā), Jhānasaṃyutta chủ yếu
thảo luận về thiền hữu lậu
(lokiya jhāna), tức là trạng
thái thiền định được phát triển
như một cơ sở để đạt định, thay
vì thiền siêu thế (lokuttara
jhāna) hướng đến giải thoát. Các
giáo lý này hướng dẫn hành giả
tinh chỉnh định lực để đạt đến
các tầng thiền cao hơn.
3. Phân tích song đối: Kỹ năng trong thực hành thiền
Các bài kinh khám phá sự kết hợp của các kỹ năng trong thực hành thiền,
thường sử dụng định dạng "hoán
vị song đối":
Sở hữu một phẩm chất (ví dụ: chánh niệm) nhưng không có phẩm chất khác (ví
dụ: nỗ lực).
Không sở hữu bất kỳ phẩm chất nào.
Sở hữu cả hai phẩm chất.
Phân tích này nhấn mạnh trạng thái lý tưởng: đạt được sự cân bằng và thuần
thục trong tất cả các kỹ năng
thiền.
4. Các kỹ năng liên quan đến Jhāna
Jhānasaṃyutta xem xét mười một kỹ năng liên quan đến thiền, bao gồm:
1.
Chứng đạt
được liên quan đến Định
2.
Vững trú
liên quan đến Định
3.
Xuất thiền
liên quan đến Định
4.
Nhu nhuyến
liên quan đến Định
5.
Thiền cảnh
liên quan đến Định
6.
Phạm vi
liên quan đến Định
7.
Quyết trạch
liên quan đến Định
8.
Sự thẩm
thấu liên quan đến Định
9.
Sự bền bỉ
liên quan đến Định
10. Tính tương
thích liên quan đến Định
11. Khả năng
duy trì liên quan đến Định
Ngài Ledi Sayadaw giảng rộng 11 yếu tố trên với những ứng dụng pháp hành
như sau:
Samādhikusala (Kỹ năng trong định): Hiểu các yếu tố của jhāna.
Samāpattikusala (Kỹ năng trong nhập định): Khả năng nhập và duy trì thiền
định.
Ārammaṇakusala (Kỹ năng trong đối tượng): Lựa chọn thiền án hay đối tượng
thiền phù hợp.
Paññākusala (Kỹ năng trong trí tuệ): Sử dụng định để phát triển tuệ giác.
Saññākusala (Kỹ năng trong tưởng): Ấn tượng và biến mãn phù hợp với định.
Các kỹ năng khác bao gồm chánh niệm, nỗ lực, và khả năng duy trì trạng
thái thiền. Những kỹ năng này
phụ thuộc lẫn nhau và cần được
phát triển cân bằng.
5. Ứng dụng thực tế
Jhānasaṃyutta cung cấp hướng dẫn thực tế cho hành giả:
Chánh niệm (sati): Nền tảng để nhập thiền.
Nỗ lực (viriya): Cần thiết để vượt qua phân tâm và duy trì sự tập trung.
Xả (upekkhā): Một phẩm chất quan trọng trong các tầng thiền cao, cho phép
nhận thức không phản ứng.
6. Sự tinh luyện định lực theo cách tiệm tiến
Các bài kinh nêu rõ sự phát triển tuần tự của thiền định:
Từ sơ thiền (năm yếu tố: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm) đến các tầng thiền
cao hơn với ít thiền chi hơn.
Nói cách khác, nhấn mạnh tầm
quan trọng của việc từ bỏ các
trạng thái thô để đạt được trạng
thái thiền vi tế hơn.
Những trọng điểm của phẩm Tương Ưng Thiền
Phẩm Tương Ưng Thiền (Jhānasaṃyutta) dạy rằng sự thuần thục trong thiền
đòi hỏi:
Phát triển kỹ năng cân bằng: Kết hợp hiểu biết lý thuyết (ví dụ: yếu tố
của jhāna) và khả năng thực hành
(ví dụ: nhập và duy trì thiền).
Tinh luyện phẩm chất tâm: Phát triển chánh niệm, xả, và trí tuệ.
Ứng dụng vào tuệ giác: Sử dụng định làm nền tảng để phát triển trí tuệ và
tiến bộ trên con đường giải
thoát (dung thông chỉ và quán).
Những bài kinh này đóng vai trò như một hướng dẫn giúp hành giả vượt qua
các thách thức và tinh tế hơn
trong thực hành thiền.
Sớ Giải
Những chú thích trên lấy từ bản Sớ Giải và giải thích của ngài Ledi
Sayadaw. Vi quá dài nên không
ghi lại trong bài nầy.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
I. Thiền Ðịnh Thiền Chứng (Tạp
31, Ðại 2,222c) (S,iii,263)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người tu Thiền này.
Thế nào là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, thiện xảo về
Thiền định trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
Thiền chứng trong Thiền định.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, thiện xảo về
Thiền chứng trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
Thiền định trong Thiền định.
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, không thiện
xảo về Thiền định trong Thiền định, cũng không thiện xảo
về Thiền chứng trong Thiền định.
7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, thiện xảo về
Thiền định trong Thiền định, cũng thiện xảo về Thiền
chứng trong Thiền định.
8) Tại đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, thiện xảo
về Thiền định trong Thiền định, và cũng thiện xảo về
Thiền chứng trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy,
vị này là vị tối tôn, tối thắng, là vị thượng thủ, tối
thượng, tối diệu.
9) Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò cái, được sữa; từ sữa
được lạc; từ lạc được sanh tô; từ sanh tô được thục tô;
từ thục tô được đề hồ. Ðề hồ này được gọi là tối tôn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền thiện xảo về
Thiền định trong Thiền định và cũng thiện xảo về Thiền
chứng trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, vị này
là vị tối tôn, tối thắng, là vị thượng thủ, tối thượng,
tối diệu.
II. Chỉ Trú (S.iii,264)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có bốn vị tu Thiền này. Thế
nào là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, thiện xảo về
Thiền định trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
chỉ trú trong Thiền định.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, thiện xảo về
chỉ trú trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về Thiền
định trong Thiền định.
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, không thiện
xảo về Thiền định trong Thiền định, cũng không thiện xảo
về chỉ trú trong Thiền định.
7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị tu Thiền, thiện xảo về
Thiền định trong Thiền định, và cũng thiện xảo về chỉ
trú trong Thiền định.
8) Tại đây, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền, thiện xảo về
Thiền định trong Thiền định, cũng thiện xảo về chỉ trú
trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, vị này là vị
tối tôn, tối thắng, là vị thượng thủ, tối thượng, tối
diệu.
9) Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò cái nên có sữa; từ sữa
có lạc; từ lạc có sanh tô; từ sanh tô có thục tô; từ
thục tô có đề hồ. Ðề hồ được gọi là tối tôn.
10) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền thiện xảo về
Thiền định trong Thiền định, cũng thiện xảo về chỉ trú
trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, vị này là vị
tối tôn, tối thắng, là vị thượng thủ, tối thượng, tối
diệu.
III. Xuất Khởi (Vutthàna)
(Như kinh trên, chỉ đổi "thiện xảo về xuất khởi" cho
"thiện xảo về chỉ trú ").
IV. Thuần Thục (Kallavà)
(Như kinh trên, chỉ đổi "thiện xảo về thuần thục" cho
"thiện xảo về xuất khởi").
V. Sở Duyên (Arammana)
(Như kinh trên, chỉ đổi "thiện xảo về sở duyên").
VI. Hành Cảnh (Gocara)
(Như kinh trên, chỉ đổi "thiện xảo về hành cảnh").
VII. Sở Nguyện (Abhinnara)
(Như kinh trên, chỉ đổi "thiện xảo về sở nguyện").
VIII. Thận Trọng (Sakkaccakàrii)
(Như kinh trên, chỉ đổi "thiện xảo về thận trọng").
IX. Kiên Trì (Sàtacca)
(Như kinh trên, chỉ đổi "thiện xảo về kiên trì").
X. Thích ứng (Sappàyam)
(Như kinh trên, chỉ đổi "thiện xảo về thích ứng").
XI. Chỉ Trú Trong Thiền Chứng
(S.iii,269)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Có bốn hạng tu Thiền này, này các Tỷ-kheo. Thế nào
là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về Thiền chứng trong Thiền định, nhưng không thiện xảo
về chỉ trú trong Thiền định.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về chỉ trú trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
Thiền chứng trong Thiền định.
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, không
thiện xảo về Thiền chứng trong Thiền định, cũng không
thiện xảo về chỉ trú trong Thiền định.
7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về Thiền chứng trong Thiền định, và cũng thiện xảo về
chỉ trú trong Thiền định.
8) Tại đây, này các Tỷ-kheo, người tu Thiền thiện xảo về
Thiền chứng trong Thiền định và cũng thiện xảo về chỉ
trú trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, vị tu
Thiền này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, tối
thượng, tối diệu.
XII. Xuất Khởi Từ Thiền Chứng
((Như kinh trên, chỉ thế "thiện xảo về xuất khởi" thay
cho "thiện xảo về chỉ trú").
XIII. Thuần Thục Trong Thiền Chứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "thiện xảo về thuần thục").
XIV. Sở Duyên Trong Thiền Chứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "thiện xảo về sở duyên").
XV. Hành Cảnh Trong Thiền Chứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "thiện xảo về hành cảnh").
XVI. Sở Nguyện Trong Thiền Chứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "thiện xảo về sở nguyện").
XVII. Thận Trọng Trong Thiền Chứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "thiện xảo về thận trọng").
XVIII. Kiên Trì Trong Thiền Chứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "thiện xảo về kiên trì").
XIX. Thích ứng Trong Thiền Chứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "thiện xảo về thích ứng").
XX. Chỉ Trú - Xuất Khởi
( S.iii,272)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Có bốn hạng tu Thiền này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là
bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về chỉ trú trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
xuất khởi trong Thiền định.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về xuất khởi trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
chỉ trú trong Thiền định.
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, không
thiện xảo về chỉ trú trong Thiền định, cũng không thiện
xảo về xuất khởi trong Thiền định.
7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về chỉ trú trong Thiền định, và cũng thiện xảo về xuất
khởi trong Thiền định.
8-9) Tại đây, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền thiện xảo về
chỉ trú trong Thiền định và cũng thiện xảo về xuất khởi
trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, vị tu Thiền
này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, bậc tối
thượng, tối diệu.
XXI - XXVII. Thuần Thục Cho Ðến Thích ứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "thuần thục, sở duyên, hành
cảnh, sở nguyện, thận trọng, kiên trì, thích ứng trong
chỉ trú").
XXVIII. Xuất Khởi - Thuần Thục (S.iii,272)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Có bốn hạng người tu Thiền này, này các Tỷ-kheo. Thế
nào là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về xuất khởi trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
thuần thục trong Thiền định.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về thuần thục trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
xuất khởi trong Thiền định.
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, không
thiện xảo về xuất khởi trong Thiền định, cũng không
thiện xảo về thuần thục trong Thiền định.
7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền thiện xảo
về xuất khởi trong Thiền định, và cũng thiện xảo về
thuần thục trong Thiền định.
8-9) Tại đây, vị tu Thiền thiện xảo về xuất khởi trong
Thiền định và cũng thiện xảo về thuần thục trong Thiền
định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, vị này là tối tôn, tối
thắng, là bậc thượng thủ, tối thượng và tối diệu.
XXIX - XXXIV. Sở Duyên - Thích ứng
(Như kinh trên, chỉ thế vào "sở duyên" ... cho đến
"thích ứng").
XXXV. Thuần Thục - Sở Duyên
1-4) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Có bốn hạng người tu Thiền này, này các Tỷ-kheo. Thế
nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về
thuần thục trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về sở
duyên trong Thiền định.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về sở duyên trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
thuần thục trong Thiền định.
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, không
thiện xảo về thuần thục trong Thiền định, cũng không
thiện xảo về sở duyên trong Thiền định.
7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về thuần thục trong Thiền định, và cũng thiện xảo về sở
duyên trong Thiền định.
8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền thiện xảo về
thuần thục trong Thiền định và cũng thiện xảo về sở
duyên trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, vị tu
Thiền này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, là
vị tối thượng, tối diệu.
XXXVI - XL. Thuần Thục (S.iii,275)
(Vị ấy thiện xảo về thuần thục trong Thiền định, nhưng
(a) không thiện xảo về hành cảnh... (b) không thiện xảo
về sở nguyện, (c) không thiện xảo về thận trọng, (d)
không thiện xảo về kiên trì, (e) không thiện xảo về
thích ứng).
XLI. Sở Duyên - Hành Cảnh
1-7) Nhân duyên ở Sàvatthi...
... thiện xảo về sở duyên trong Thiền định, nhưng không
thiện xảo về hành cảnh trong Thiền định.
... thiện xảo về hành cảnh trong Thiền định, nhưng không
thiện xảo về sở duyên trong Thiền định.
... không thiện xảo về sở duyên trong Thiền định, cũng
không thiện xảo về hành cảnh trong Thiền định.
... thiện xảo về sở duyên trong Thiền định, cũng thiện
xảo về hành cảnh trong Thiền định.
XL.II-XL.V. Sở Duyên
... vị ấy thiện xảo về sở duyên trong Thiền định, nhưng
(a) không thiện xảo về sở nguyện, (b) không thiện xảo về
thận trọng, (c) không thiện xảo về kiên trì, (d) không
thiện xảo về thích ứng.
XL.VI. Hành Cảnh - Sở Nguyện
... thiện xảo về hành cảnh trong Thiền định, nhưng không
thiện xảo về sở nguyện trong Thiền định.. .. thiện xảo
về sở nguyện trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
hành cảnh trong Thiền định.. .. không thiện xảo về hành
cảnh trong Thiền định, và cũng không thiện xảo về sở
nguyện trong Thiền định.
... thiện xảo về hành cảnh trong Thiền định và cũng
thiện xảo về sở nguyện trong Thiền định.
XLVII-XLIX. Hành Cảnh
... thiện xảo về hành cảnh trong Thiền định, nhưng (a)
không thiện xảo về thận trọng trong Thiền định, (b)
không thiện xảo về kiên trì trong Thiền định, (c) không
thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
L. Sỏ Nguyện - Thận Trọng
1-7) Nhân duyên ở Sàvatthi...
... thiện xảo về sở nguyện trong Thiền định, nhưng không
thiện xảo về thận trọng trong Thiền định.
... thiện xảo về thận trọng trong Thiền định, nhưng
không thiện xảo về sở nguyện trong Thiền định.
... không thiện xảo về sở nguyện trong Thiền định, và
cũng không thiện xảo về thận trọng trong Thiền định.
... thiện xảo về sở nguyện trong Thiền định và cũng
thiện xảo về thận trong trong Thiền định.
LI-LII. Sở Nguyện Và Kiên Trì
... thiện xảo về sở nguyện trong Thiền định, nhưng (a)
không thiện xảo về kiên trì, và (b) không thiện xảo về
thích ứng.
LIII. Thận Trọng Và Kiên Trì
... thiện xảo về thận trọng trong Thiền định, nhưng
không thiện xảo về kiên trì trong Thiền định.. .. thiện
xảo về kiên trì trong Thiền định, nhưng không thiện xảo
về thận trọng trong Thiền định.
... không thiện xảo về thận trọng trong Thiền định, và
cũng thiện xảo về kiên trì trong Thiền định.
... thiện xảo về thận trọng trong Thiền định và cũng
thiện xảo về kiên trì trong Thiền định.
LIV. Kiên Trì Và Thích ứng (S.iii,277)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người tu Thiền này. Thế
nào là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về kiên trì trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
thích ứng trong Thiền định.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về thích ứng trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về
kiên trì trong Thiền định.
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, không
thiện xảo về kiên trì trong Thiền định và cũng không
thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo
về kiên trì trong Thiền định, và cũng thiện xảo về thích
ứng trong Thiền định.
8) Tại đây, này các Tỷ-kheo, người tu Thiền thiện xảo về
kiên trì trong Thiền định và cũng thiện xảo về thích ứng
trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, người tu
Thiền này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, là
tối thượng và tối diệu.
9) Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò cái, có được sữa; từ
sữa có lạc; từ lạc có sanh tô; từ sanh tô có thục tô; từ
thục tô có đề hồ. Và đề hồ được xem là tối tôn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền này đối với bốn
vị tu Thiền ấy, vị này là tối tôn, tối thắng, là bậc
thượng thủ, là tối thượng, và tối diệu. 10) Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. -ooOoo- |