|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 05 tháng 12, 2024 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XXVI. Phẩm Bà La Môn (Brahmaṇavagga) Gồm 41 bài kệ với 40 duyên sự. _ Kệ số 1. (dhp 383)
Chánh văn:
(dhp 383)
1. Chinda sotaṃ parakkamma
Thích văn:
Chinda
[động từ mệnh lệnh cách, parassapada, ngôi II, số ít, “căn
chid + m_a + a”] hãy cắt
đứt.
Việt văn:
(pc 383)
1. Hãy nỗ lực cắt dòng,
1. Hỡi Bà la môn, hãy nỗ lực cắt đoạn dòng ái, hãy dẹp bỏ
các dục; Hỡi phạm chí, sau hiểu được đoạn tận các pháp hửu
vi, ngươi sẽ là bậc chứng pháp vô vi.
Duyên sự:
Bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Jetavana gần
thành Sāvatthi, do chuyện người bà la môn giàu niềm tin.
Người bà la môn ấy sau khi nghe pháp của đức Thế Tôn, có tâm
tịnh tín nên đã thiết lễ trai phạn thường xuyên tại nhà của
mình, dâng cúng đến mười sáu vị tỳ kheo. Khi ông ta nói cái
gì đều nói liên hệ đến danh từ Arahanta (bậc A la hán), như:
“Thỉnh chư tôn đức Arahanta đến! Thỉnh chư tôn đức Arahanta
ngồi!...v.v…
Trong số các tỳ kheo ấy, những vị phàm tăng đã suy nghĩ
“người nầy tưởng chúng ta là Arahanta (A la hán); còn những
vị Thánh tăng Lậu tận thì suy nghĩ: “Người nầy biết chúng ta
là bậc Lậu tận”. Nên tất cả các vị ấy đều ái ngại mà không
đi đến nhà của người bà la môn nữa.
Người bà la môn ấy đau khổ sầu muộn: “Tại sao quí Ngài không
đến?”. Ông ta liền đi đến tịnh xá đảnh lễ bậc Đạo sư và
trình bày việc ấy. Đức Phật gọi chư tỳ kheo và hỏi: “Này chư
tỳ kheo, sự việc đó là thế nào ?”, chư tỳ kheo đã thưa lại
việc ấy. Ngài dạy “Này các tỳ kheo, các ngươi hãy chấp nhận
tiếng gọi Arahanta” _ “Bạch Thế Tôn, chúng con không chấp
nhận được” _ “Ngôn từ đó được nói ra bởi lòng tịnh tín, Này
các tỳ kheo, không tội lỗi khi chấp nhận ngôn từ được nói
với lòng ngưỡng mộ; Hơn nữa, đó là lòng thương kính vô hạn
của người bà la môn đối với các bậc A la hán. Cũng chính vì
thế, các ngươi hãy cắt đứt dòng Ái để chứng đạt quả vị A la
hán cho hợp lẽ”. Nói xong đức Phật đã thuyết lên kệ ngôn
nầy: Chinda sotaṃ parakkamma…v.v…akataññūsi brāhmaṇā’ ti.
Dứt kệ ngôn, nhiều vị tỳ kheo đã đắc chứng thánh quả.
Lý giải:
Trong kệ ngôn nầy, câu nói “Hãy nổ lực cắt dòng Ái” (chinda
sotaṃ parakkamma) nên hiểu ý nghĩa là, sotaṃ tức taṇhāsotaṃ
(ái lưu, dòng ái); parakkamma tức parakkamitvā (sau khi nổ
lực). Dòng ái không thể cắt dứt với sự dứt với sự tinh tấn
bình thường (Na appamattakena vāyāmena chindituṃ sakkā) mà
chỉ có thể cắt đứt bằng sự nổ lực lớn tương ưng trí
(ñāṇasampayuttena mahantena parakkamena).
Câu nói “Hãy dẹp dục” (kāme panuda) nghĩa là hãy dẹp bỏ cả
hai thứ dục: vật dục (vatthukāma_sắc, thinh, hương, vị, xúc)
và phiền não dục (kilesakāma_sự tham luyến ngũ trần hay dục
ái).
Danh từ Phạm chí hay Bà la môn (brāhmaṇa) trong phẩm XXVI
nầy dùng xưng gọi các bậc Lậu tận (A la hán). Nhưng riêng
trong bài kệ nầy đức Phật dùng tiếng brāhmaṇa hô cách, để
gọi vị tỳ kheo mà Ngài dạy pháp.
Câu nói “khi biết hành đoạn tận” (saṅkhārānaṃ khayaṃ ñatvā),
nghĩa là sau khi biết rõ sự diệt tận năm uẩn. Hành hay hửu
vi (saṅkhāra) ở đây là năm uẩn (pañcakkhandha).
Câu nói “ngươi chứng pháp vô vi” (Akataññū’ si), nghĩa là
chứng tri níp bàn. Níp bàn (nibbāna) là pháp vô vi (akataṃ)
bởi níp bàn không do cái gì tạo tác, níp bàn không có màu
sắc, hình dáng. Pháp vô vi có hai danh từ pāli: Akataṃ và
asaṅkhataṃ, đều chỉ cho níp bàn./. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |