|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 10 tháng 12, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 349. CHỨNG NHẬP TAM MUỘI ĐỊNH- Kinh Nội Giới Vô Thường (ajjhattāniccasuttaṃ), Kinh Nội Giới Khổ Não (ajjhattadukkhasuttaṃ), Kinh Nội Giới Vô Ngã (ajjhattānattasuttaṃ) . ******
Sự nhận thức và ái chấp đối với
cuộc đời bao gồm cả hai thế giới
nội tại và ngoạt tại. Cái gọi là
thức ăn ngon không phải chỉ có
thức ăn mà còn có lưỡi. Các căn
sai biệt thì sự cảm nhận cũng
khác. Không phải chỉ ngoại cảnh
vô thường mà các căn cũng vô
thường. Ngay trong những hiện
tượng thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc
chạm, suy nghĩ đã là sự tụ hội
của nhiều nhân, nhiều duyên. Ai
thấy được dòng chảy của vô
thường sẽ thấy được tánh bất
toàn, và từ đó nhận ra vạn pháp
vốn không nằm dưới chủ quyền
nào.
1. evaṃ me sutaṃ. ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi —
“bhikkhavo”ti. “bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. bhagavā
etadavoca —
“cakkhuṃ, bhikkhave, aniccaṃ.
yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ; yaṃ dukkhaṃ tadanattā. yadanattā taṃ ‘netaṃ
mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya
daṭṭhabbaṃ. sotaṃ aniccaṃ. yadaniccaṃ ... pe ... ghānaṃ aniccaṃ.
yadaniccaṃ ... pe ... jivhā aniccā. yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ; yaṃ dukkhaṃ
tadanattā. yadanattā taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. kāyo anicco. yadaniccaṃ
... pe ... mano anicco. yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ; yaṃ dukkhaṃ tadanattā.
yadanattā taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, sotasmimpi nibbindati, ghānasmimpi
nibbindati, jivhāyapi nibbindati, kāyasmimpi nibbindati, manasmimpi
nibbindati. nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṃ
vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ
karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti. paṭhamaṃ.
Kinh Nội Giới là Vô thường
Tôi được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthī, tại Kỳ Viên, ngôi già lam do ông
Anāthapiṇḍika dâng cúng.
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: “Này chư Tỳ Khưu”
Các tỳ khưu trả lời: “Dạ. bạch Thế Tôn,” .
Đức Thế Tôn dạy như sau:
“Này chư Tỳ khưu, mắt là vô thường. Cái gì là vô thường thì là khổ. Cái
gì là khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần được thấy thực tướng với chánh
trí: “Đây chẳng phải của ta, chẳng phải là ta, chẳng phải tự ngã của
ta”.
Tai là vô thường….
Ý là vô thường.Cái gì là vô thường thì là khổ. Cái gì là khổ là vô ngã.
Cái gì vô ngã cần được thấy thực tướng với chánh trí: “Đây chẳng phải
của ta, chẳng phải là ta, chẳng phải tự ngã của ta”.
“Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu thấy được như vậy sanh tâm
nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi,
nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do
nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát. Khi tâm giải
thoát, vị ấy biết “Đã giải thoát” và hiểu rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh
đã thành, những gì cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nầy
nữa”.
Kinh Nội Giới là Khổ Não
2. “cakkhuṃ, bhikkhave, dukkhaṃ. yaṃ dukkhaṃ tadanattā; yadanattā taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. sotaṃ dukkhaṃ ... pe ... ghānaṃ dukkhaṃ... jivhā dukkhā... kāyo dukkho... mano dukkho.
yaṃ dukkhaṃ tadanattā; yadanattā taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi,
na meso attā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. evaṃ passaṃ ... pe ... nāparaṃ itthattāyāti pajānātī”ti. dutiyaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, mắt là khổ não. Cái gì là khổ
não là vô ngã. Cái gì vô ngã cần được thấy thực tướng với chánh trí:
“Đây chẳng phải của ta, chẳng phải là ta, chẳng phải tự ngã của ta”.
“Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu thấy được như vậy sanh tâm
nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi,
nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do
nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát. Khi tâm giải
thoát, vị ấy biết “Đã giải thoát” và hiểu rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh
đã thành, những gì cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nầy
nữa”.
3. “cakkhuṃ, bhikkhave, anattā. yadanattā taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. sotaṃ anattā ... pe ... ghānaṃ anattā... jivhā anattā... kāyo anattā...
mano anattā. yadanattā taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. evaṃ passaṃ ... pe ... nāparaṃ itthattāyāti pajānātī”ti. tatiyaṃ.
Tai là vô ngã….
Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý được gọi là sáu nội xứ. Đây là những yếu
tố chủ quan của đời sống. Thí dụ các căn của chư thiên, nhân loại, bàng
sanh nên nhận thức có sai biệt mặc dù cùng là mắt, tai, mũi, lưỡi….
Ba bài kinh nầy cho thấy sự quán chiếu ba thực tướng vô thường, khổ, vô
ngã có thể liên đới “cái gì vô thường là khổ, cái gì khổ là vô ngã” mà
cũng có thể được quán chiếu riêng biệt” các căn là vô thường, các căn là
khổ não, các căn là vô ngã"
Tiến trình giải thoát: “vị thánh đệ tử có học hiểu thấy được như vậy
sanh tâm nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với
mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với
ý. Do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát. Khi tâm
giải thoát, vị ấy biết “Đã giải thoát” và hiểu rằng: “Sanh đã tận, phạm
hạnh đã thành, những gì cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nầy
nữa” cũng được mô tả qua các “tuệ minh sát”
Sớ Giải
saḷāyatanavaggassa paṭhame cakkhunti dve cakkhūni — ñāṇacakkhu ceva
maṃsacakkhu ca. tattha ñāṇacakkhu pañcavidhaṃ — buddhacakkhu,
dhammacakkhu, samantacakkhu, dibbacakkhu, paññācakkhūti. tesu
buddhacakkhu nāma āsayānusayañāṇañceva indriyaparopariyattañāṇañca, yaṃ
— “buddhacakkhunā lokaṃ volokento”ti (mahāva. 9; ma. ni. 1.283; 2.338)
āgataṃ. dhammacakkhu nāma heṭṭhimā tayo maggā tīṇi ca phalāni, yaṃ —
“virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādī”ti (mahāva. 16; ma. ni. 2.395)
āgataṃ. samantacakkhu nāma sabbaññutaññāṇaṃ, yaṃ — “pāsādamāruyha
samantacakkhū”ti (mahāva. 8; ma. ni. 1.282; 2.338) āgataṃ. dibbacakkhu
nāma ālokapharaṇena uppannaṃ ñāṇaṃ, yaṃ — “dibbena cakkhunā
visuddhenā”ti (pārā. 13; ma. ni. 2.341) āgataṃ. paññācakkhu nāma
catusaccaparicchedakañāṇaṃ, yaṃ — “cakkhuṃ udapādī”ti (sa. ni. 5.1081;
mahāva. 15) āgataṃ. ♦ maṃsacakkhupi duvidhaṃ — sasambhāracakkhu,
pasādacakkhūti. tesu yvāyaṃ akkhikūpake akkhipaṭalehi parivārito
maṃsapiṇḍo, yattha catasso dhātuyo vaṇṇagandharasojā sambhavo jīvitaṃ
bhāvo cakkhupasādo kāyapasādoti saṅkhepato terasa sambhārā honti.
vitthārato pana catasso dhātuyo vaṇṇagandharasojā sambhavoti ime nava
catusamuṭṭhānavasena chattiṃsa, jīvitaṃ bhāvo cakkhupasādo kāyapasādoti
ime kammasamuṭṭhānā tāva cattāroti cattārīsa sambhārā honti. idaṃ
sasambhāracakkhu nāma. yaṃ panettha setamaṇḍalaparicchinnena
kaṇhamaṇḍalena parivārite diṭṭhimaṇḍale sanniviṭṭhaṃ
rūpadassanasamatthaṃ pasādamattaṃ, idaṃ pasādacakkhu nāma. tassa tato
paresañca sotādīnaṃ vitthārakathā visuddhimagge vuttāva. ♦ tattha
yadidaṃ pasādacakkhu, taṃ gahetvā bhagavā — cakkhuṃ, bhikkhave,
aniccantiādimāha. tattha — “catūhi kāraṇehi aniccaṃ
udayabbayavantatāyā”tiādinā nayena vitthārakathā heṭṭhā pakāsitāyeva.
sotampi pasādasotameva adhippetaṃ, tathā ghānajivhākāyā. manoti
tebhūmakasammasanacāracittaṃ. iti idaṃ suttaṃ chasu ajjhattikāyatanesu
tīṇi lakkhaṇāni dassetvā kathite bujjhanakānaṃ ajjhāsayena vuttaṃ.
Trong bài kinh đầu tiên của "Saḷāyatanavagga" có đề cập đến "mắt"
(cakkhu), gồm hai loại:
"Nhục nhãn" (maṃsacakkhu)
(mắt trong bài kinh nầy là nhục nhãn)
"Tuệ nhãn" (ñāṇacakkhu) được chia thành năm loại:
1. Phật nhãn (buddhacakkhu): Trí biết rõ các khuynh hướng tâm lý
(āsayānusayañāṇa) và trí biết các căn bậc thượng
(indriyaparopariyattañāṇa). Điều này được nhắc đến trong câu: “Nhìn thế
gian bằng Phật nhãn” (buddhacakkhunā lokaṃ volokento).
2. Pháp nhãn (dhammacakkhu): Là ba con đường (maggā) và ba quả vị
(phala) thấp hơn, như được đề cập: “Pháp nhãn không còn ô nhiễm, đã sanh
khởi” (virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādī).
3. Toàn tri nhãn (samantacakkhu): Là trí tuệ toàn tri (sabbaññutañāṇa),
như được nói đến: “Nhìn bao quát từ lâu đài bằng toàn giác nhãn”
(pāsādamāruyha samantacakkhū).
4. Thiên nhãn (dibbacakkhu): Trí tuệ phát sinh từ ánh sáng, như được nói
đến:“Với thiên nhãn thuần tịnh” (dibbena cakkhunā visuddhenā).
5. Tuệ nhãn (paññācakkhu): Là trí tuệ phân biệt bốn chân lý
(catusaccaparicchedakañāṇa), được nhắc đến: “Tuệ nhãn đã khởi sinh”
(cakkhuṃ udapādī).
"Nhục nhãn" (maṃsacakkhu) cũng có hai loại:
8.
Nhóm thần kinh nhãn (sasambhāracakkhu): Là khối thịt bao quanh bởi các
lớp màng mắt. Thành phần gồm bốn đại (đất, nước, gió, lửa), cùng với
sắc, hương, vị, dưỡng chất (ojā), sự sống (jīvita), trạng thái (bhāva),
nhãn căn (cakkhupasāda), và thân căn (kāyapasāda). Tổng cộng là 13 yếu
tố.
Khi phân tích chi tiết, bốn đại cùng với các yếu tố sắc, hương, vị,
dưỡng chất tạo thành 36 yếu tố thuộc bốn nguyên nhân (catusamuṭṭhāna).
Bốn yếu tố còn lại thuộc nghiệp (kammasamuṭṭhāna), tổng cộng là 40 yếu
tố. Đây gọi là mắt có thành phần.
9.
Thần kinh nhãn hy đồng tử mắt (pasādacakkhu): Là phần trong cùng của
mắt, nằm trong quầng sáng trắng và viền đen, có khả năng nhìn thấy các
hình sắc. Phần mô tả chi tiết về mắt này cùng với tai, mũi, lưỡi, thân,
và ý đã được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga).
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
1.I. Vô Thường (1)
Nội (S. iv.1)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông
Anàthapindika.
2) Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "-- Này các Tỷ-kheo" -- "Thưa
vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3) Thế Tôn nói như sau:
-- Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ.
Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với
chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
4) Tai là vô thường...
5) Mũi là vô thường...
6) Lưỡi là vô thường...
7) Thân là vô thường...
8) Ý là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô
ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là:
"Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này
không phải tự ngã của tôi".
9) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán
đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm
chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong
sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy
biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
2.II. Khổ (1) Nội (S.iv,1)
1-2) ...
3) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì
vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này
không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi".
4-7) Tai là khổ... Mũi là khổ... Lưỡi là khổ... Thân là khổ....
8) Ý là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như
thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái
này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
9) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo... "... không còn trở lại trạng
thái này nữa".
3.III. Vô Ngã (1) Nội (S.iv,2)
1-2) ...
3) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải
như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi,
cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
4-7) Tai là vô ngã... Mũi là vô ngã... Lưỡi là vô ngã... Thân là
vô ngã...
8) Ý là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh
trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là
tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
9) Thấy vậy... "... không còn trở lui trạng thái này nữa".
Sớ Giải
saḷāyatanavaggassa paṭhame cakkhunti dve cakkhūni — ñāṇacakkhu
ceva maṃsacakkhu ca. tattha ñāṇacakkhu pañcavidhaṃ —
buddhacakkhu, dhammacakkhu, samantacakkhu, dibbacakkhu,
paññācakkhūti. tesu buddhacakkhu nāma āsayānusayañāṇañceva
indriyaparopariyattañāṇañca, yaṃ — “buddhacakkhunā lokaṃ
volokento”ti (mahāva. 9; ma. ni. 1.283; 2.338) āgataṃ.
dhammacakkhu nāma heṭṭhimā tayo maggā tīṇi ca phalāni, yaṃ —
“virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādī”ti (mahāva. 16; ma. ni.
2.395) āgataṃ. samantacakkhu nāma sabbaññutaññāṇaṃ, yaṃ —
“pāsādamāruyha samantacakkhū”ti (mahāva. 8; ma. ni. 1.282;
2.338) āgataṃ. dibbacakkhu nāma ālokapharaṇena uppannaṃ ñāṇaṃ,
yaṃ — “dibbena cakkhunā visuddhenā”ti (pārā. 13; ma. ni. 2.341)
āgataṃ. paññācakkhu nāma catusaccaparicchedakañāṇaṃ, yaṃ —
“cakkhuṃ udapādī”ti (sa. ni. 5.1081; mahāva. 15) āgataṃ. ♦
maṃsacakkhupi duvidhaṃ — sasambhāracakkhu, pasādacakkhūti. tesu
yvāyaṃ akkhikūpake akkhipaṭalehi parivārito maṃsapiṇḍo, yattha
catasso dhātuyo vaṇṇagandharasojā sambhavo jīvitaṃ bhāvo
cakkhupasādo kāyapasādoti saṅkhepato terasa sambhārā honti.
vitthārato pana catasso dhātuyo vaṇṇagandharasojā sambhavoti ime
nava catusamuṭṭhānavasena chattiṃsa, jīvitaṃ bhāvo cakkhupasādo
kāyapasādoti ime kammasamuṭṭhānā tāva cattāroti cattārīsa
sambhārā honti. idaṃ sasambhāracakkhu nāma. yaṃ panettha
setamaṇḍalaparicchinnena kaṇhamaṇḍalena parivārite diṭṭhimaṇḍale
sanniviṭṭhaṃ rūpadassanasamatthaṃ pasādamattaṃ, idaṃ
pasādacakkhu nāma. tassa tato paresañca sotādīnaṃ vitthārakathā
visuddhimagge vuttāva. ♦ tattha yadidaṃ pasādacakkhu, taṃ
gahetvā bhagavā — cakkhuṃ, bhikkhave, aniccantiādimāha. tattha —
“catūhi kāraṇehi aniccaṃ udayabbayavantatāyā”tiādinā nayena
vitthārakathā heṭṭhā pakāsitāyeva. sotampi pasādasotameva
adhippetaṃ, tathā ghānajivhākāyā. manoti
tebhūmakasammasanacāracittaṃ. iti idaṃ suttaṃ chasu
ajjhattikāyatanesu tīṇi lakkhaṇāni dassetvā kathite
bujjhanakānaṃ ajjhāsayena vuttaṃ.
Trong bài kinh đầu tiên của "Saḷāyatanavagga" có đề cập đến
"mắt" (cakkhu), gồm hai loại:
"Nhục nhãn" (maṃsacakkhu)
Trong đó, "Tuệ nhãn" (ñāṇacakkhu) được chia thành năm loại:
1. Phật nhãn (buddhacakkhu): Trí biết rõ các khuynh hướng tâm lý
(āsayānusayañāṇa) và trí biết các căn bậc thượng
(indriyaparopariyattañāṇa). Điều này được nhắc đến trong câu:
“Nhìn thế gian bằng Phật nhãn” (buddhacakkhunā lokaṃ volokento).
2. Pháp nhãn (dhammacakkhu): Là ba con đường (maggā) và ba quả
vị (phala) thấp hơn, như được đề cập: “Pháp nhãn không còn ô
nhiễm, đã sanh khởi” (virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādī).
3. Toàn tri nhãn (samantacakkhu): Là trí tuệ toàn tri
(sabbaññutañāṇa), như được nói đến: “Nhìn bao quát từ lâu đài
bằng toàn giác nhãn” (pāsādamāruyha samantacakkhū).
4. Thiên nhãn (dibbacakkhu): Trí tuệ phát sinh từ ánh sáng, như
được nói đến:“Với thiên nhãn thuần tịnh” (dibbena cakkhunā
visuddhenā).
5. Tuệ nhãn (paññācakkhu): Là trí tuệ phân biệt bốn chân lý
(catusaccaparicchedakañāṇa), được nhắc đến: “Tuệ nhãn đã khởi
sinh” (cakkhuṃ udapādī).
"Nhục nhãn" (maṃsacakkhu) cũng có hai loại:
8.
Mắt có thành phần (sasambhāracakkhu): Là khối thịt bao
quanh bởi các lớp màng mắt. Thành phần gồm bốn đại (đất, nước,
gió, lửa), cùng với sắc, hương, vị, dưỡng chất (ojā), sự sống
(jīvita), trạng thái (bhāva), nhãn căn (cakkhupasāda), và thân
căn (kāyapasāda). Tổng cộng là 13 yếu tố.
•
Khi phân tích chi tiết, bốn đại cùng với các yếu tố sắc,
hương, vị, dưỡng chất tạo thành 36 yếu tố thuộc bốn nguyên nhân
(catusamuṭṭhāna). Bốn yếu tố còn lại thuộc nghiệp
(kammasamuṭṭhāna), tổng cộng là 40 yếu tố. Đây gọi là mắt có
thành phần.
9.
Mắt thanh tịnh (pasādacakkhu): Là phần trong cùng của
mắt, nằm trong quầng sáng trắng và viền đen, có khả năng nhìn
thấy các hình sắc. Đây gọi là mắt thanh tịnh.
Phần mô tả chi tiết về mắt này cùng với tai, mũi, lưỡi, thân, và
ý đã được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga).
-ooOoo- |