|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 11 tháng 12, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 350. QUÁN CHIẾU NGOẠI TẠI- Kinh Ngoại Giới Vô Thường (bāhirāniccasuttaṃ), Kinh Ngoại Giới Khổ Não (bāhiradukkhasuttaṃ), Kinh Ngoại Giới Vô Ngã (bāhirānattasuttaṃ). ******
Hướng ngoại là một tập tánh cố hữu của chúng sanh. Có
thể cái trước mắt là vô thường,
bất toàn, và vô ngã nhưng muôn
loài vẫn dõi mắt hướng về phương
trời xa xăm đi tìm cái vĩnh
hằng, thường lạc, và mãi là của
mình. Theo lời Phật dạy, bất cứ
hiện tượng nào trong tam giới dù
nội tại hay ngoại tại đều vô
thường, bất toại, và vô ngã.
Phải thấy triệt để thì tâm không
bám chấp, và chính do đó, mà
cánh cửa giải thoát rộng mở.
4. “rūpā, bhikkhave, aniccā. yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ; yaṃ
dukkhaṃ tadanattā. yadanattā taṃ
‘netaṃ mama, nesohamasmi, na
meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
daṭṭhabbaṃ. saddā... gandhā...
rasā... phoṭṭhabbā... dhammā
aniccā. yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ;
yaṃ dukkhaṃ tadanattā. yadanattā
taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na
meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
daṭṭhabbaṃ. evaṃ passaṃ,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako
rūpesupi nibbindati, saddesupi
nibbindati, gandhesupi
nibbindati, rasesupi nibbindati,
phoṭṭhabbesupi nibbindati,
dhammesupi nibbindati. nibbindaṃ
virajjati; virāgā vimuccati;
vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti. catutthaṃ.nibbindaṃ
virajjati; virāgā vimuccati;
vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti. paṭhamaṃ.
Kinh Ngọai Giới là Vô thường
“Này chư Tỳ khưu, sắc là vô thường. Cái
gì là vô thường thì là khổ. Cái
gì là khổ là vô ngã. Cái gì vô
ngã cần được thấy thực tướng với
chánh trí: “Đây chẳng phải của
ta, chẳng phải là ta, chẳng phải
tự ngã của ta”.
Thinh là vô
thường….
Pháp là vô
thường.Cái gì là vô thường thì
là khổ. Cái gì là khổ là vô ngã.
Cái gì vô ngã cần được thấy thực
tướng với chánh trí: “Đây chẳng
phải của ta, chẳng phải là ta,
chẳng phải tự ngã của ta”.
“Này chư Tỳ
khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu
thấy được như vậy sanh tâm nhàm
chán đối với sắc, nhàm chán đối
với thinh, nhàm chán đối với
khí, nhàm chán đối với vị, nhàm
chán đối với xúc, nhàm chán đối
với pháp. Do nhàm chán vị ấy ly
tham, do ly tham tâm được giải
thoát. Khi tâm giải thoát, vị ấy
biết “Đã giải thoát” và hiểu
rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, những gì cần làm đã làm,
không còn trở lui trạng thái nầy
nữa”.
Kinh Ngoại Giới là Khổ Não
5. “rūpā, bhikkhave, dukkhā. yaṃ dukkhaṃ tadanattā;
yadanattā taṃ ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
saddā... gandhā... rasā...
phoṭṭhabbā... dhammā dukkhā. yaṃ
dukkhaṃ tadanattā. yadanattā taṃ
‘netaṃ mama, nesohamasmi, na
meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
daṭṭhabbaṃ. evaṃ passaṃ ... pe
... nāparaṃ itthattāyāti
pajānātī”ti. pañcamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, sắc là khổ não. Cái gì là khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã
cần được thấy thực tướng với
chánh trí: “Đây chẳng phải của
ta, chẳng phải là ta, chẳng phải
tự ngã của ta”.
Thinh là khổ não….
Cái gì là khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần được thấy thực
tướng với chánh trí: “Đây chẳng
phải của ta, chẳng phải là ta,
chẳng phải tự ngã của ta”.
“Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu thấy được như vậy sanh tâm
nhàm chán đối với sắc, nhàm chán
đối với thinh, nhàm chán đối với
khí, nhàm chán đối với vị, nhàm
chán đối với xúc, nhàm chán đối
với pháp. Do nhàm chán vị ấy ly
tham, do ly tham tâm được giải
thoát. Khi tâm giải thoát, vị ấy
biết “Đã giải thoát” và hiểu
rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, những gì cần làm đã làm,
không còn trở lui trạng thái nầy
nữa”.
Kinh Ngoại Giới là Vô Ngã
6. “rūpā, bhikkhave, anattā. yadanattā taṃ ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
saddā... gandhā... rasā...
phoṭṭhabbā... dhammā anattā.
yadanattā taṃ ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. evaṃ
passaṃ ... pe ... nāparaṃ
itthattāyāti pajānātī”ti.
chaṭṭhaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, sắc là vô ngã. Cái gì vô ngã cần được thấy thực tướng
với chánh trí: “Đây chẳng phải
của ta, chẳng phải là ta, chẳng
phải tự ngã của ta”.
Thinh là vô ngã….
“Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu thấy được như vậy sanh tâm
nhàm chán đối với sắc, nhàm chán
đối với thinh, nhàm chán đối với
khí, nhàm chán đối với vị, nhàm
chán đối với xúc, nhàm chán đối
với pháp. Do nhàm chán vị ấy ly
tham, do ly tham tâm được giải
thoát. Khi tâm giải thoát, vị ấy
biết “Đã giải thoát” và hiểu
rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, những gì cần làm đã làm,
không còn trở lui trạng thái nầy
nữa”.
Chú Thích
Theo Sớ Giải, thuật ngữ “pháp” ở đây thuộc cảnh pháp
trong ba cõi (dhamma ti
tebhūmakadhammārammaṇa).
Ngài Bodhi dịch sang Anh ngữ chữ "dhamma" ở đây là "các hiện tượng tâm
“mental
phenomena” thay vì “cảnh của ý -
mental object để tuân thủ ý
nghĩa được nhấn mạnh trong Thắng
Pháp Abhidhamma và các chú giải,
rằng dhammāyatana không chỉ bao
gồm các loại đối tượng đặc trưng
cho ý căn (manāyatana), mà còn
bao gồm tất cả các hiện tượng
tâm liên quan đến bất kỳ loại
tâm thức nào, tức là bao gồm
thọ, tưởng, hành liên
quan. Xem định nghĩa về
dhammāyatana tại Vibh 72, và
giải thích tại Vism 484 (Ppn
15:14).
Ba cõi bao gồm: cõi dục giới (kāmabhūmi), cõi sắc giới (rūpabhūmi), và cõi
vô sắc giới (arūpabhūmi).
Sáu cảnh được Đức Phật dạy ở đây chỉ tập chú vảo cảnh của tâm nơi người tu
tập. Đối với cảnh pháp nên hiều
theo Sớ giải. Niết bàn là cảnh
pháp nhưng không vô thường, khổ
não.
Sớ Giải
4-6. catutthe rūpagandharasaphoṭṭhabbā catusamuṭṭhānā, saddo dvisamuṭṭhāno, dhammāti
tebhūmakadhammārammaṇaṃ. idampi bāhiresu chasu āyatanesu tilakkhaṇaṃ dassetvā kathite
bujjhanakānaṃ vasena vuttaṃ. pañcame chaṭṭhe ca dutiyatatiyesu vuttasadisova nayo.
4-6. Trong phần thứ tư, sắc, hương, vị, và xúc phát sinh từ bốn nguyên
nhân (catusamuṭṭhāna); âm thanh
phát sinh từ hai nguyên nhân
(dvisamuṭṭhāna); các pháp
(dhamma) là cảnh của
tâm thuộc về ba cõi
(tebhūmakadhammārammaṇa).
Điều này cũng được nói đến dựa trên ý nghĩa của ba đặc tướng (tilakkhaṇa)
khi trình bày về sáu nội xứ bên
ngoài (bāhiresu chasu āyatanesu)
nhằm hướng dẫn những người có
khả năng lạnh hội. Trong phần
thứ năm và thứ sáu, cách trình
bày giống với cách đã được giải
thích trong phần thứ hai và thứ
ba.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
4.IV. Vô Thường (2) Ngoại (S.iv,2)
1-2) ...
3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là
khổ. Cái khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với
chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
4-7) Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc...
8) Các pháp là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là
vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ
là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái
này không phải tự ngã của tôi".
9) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán
đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với
các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc,
nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly
tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết
rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa".
5.V. Khổ (2) Ngoại (S.iv.3)
1-2) ...
3) -- Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã.
Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi".
4-7) Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc...
8) Các pháp là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải
như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi,
cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
9) Thấy vậy... "... không còn trở lui trạng thái nầy nữa".
6.VI. Vô Ngã (2) Ngoại (S.iv.3)
1-2) ...
3) -- Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần
phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của
tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của
tôi".
4-7) Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc....
8) Các pháp là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với
chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
9) Thấy vậy... "... không còn trở lui trạng thái này nữa".
-ooOoo- |