|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 14 tháng 12, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 351. QUÁN CHIẾU NỘI TẠI BA THỜI- Kinh Tam Thế Nội Giới Vô Thường (ajjhattāniccātītānāgatasuttaṃ), Kinh Tam Thế Nội Giới Khổ Não (ajjhattadukkhātītānāgatasuttaṃ), Kinh Tam Thế Nội Giới Vô Ngã (ajjhattānattātītānāgatasuttaṃ). ******
Bản chất của tâm ý là “vô thường ẩn hang sâu, đi xa
vời cô độc” với muôn trùng ảo
tưởng. Có người nặng lòng với
quá khứ “ngày xưa cái gì cũng
đẹp”. Có kẻ mộng ước tương lai
“kiếp sau mọi thứ sẽ tốt đẹp
hơn”. Phải thấy tam thế đồng thể
tánh là vô thường, là bất toàn,
là vô ngã thì tâm ý mới đạt đến
cảnh giới vô chấp, vô phiền. Mấu
chốt ở đây là nhận rõ bản chất
sanh diệt dù quá, hiện, vị lai.
Kinh Nội Giới là Vô thường Trong Tam Thế
7. “cakkhuṃ, bhikkhave, aniccaṃ atītānāgataṃ; ko pana vādo
paccuppannassa! evaṃ passaṃ,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako
atītasmiṃ cakkhusmiṃ anapekkho
hoti; anāgataṃ cakkhuṃ
nābhinandati; paccuppannassa
cakkhussa nibbidāya virāgāya
nirodhāya paṭipanno hoti. sotaṃ
aniccaṃ... ghānaṃ aniccaṃ...
jivhā aniccā atītānāgatā; ko
pana vādo paccuppannāya! evaṃ
passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako atītāya jivhāya
anapekkho hoti; anāgataṃ jivhaṃ
nābhinandati; paccuppannāya
jivhāya nibbidāya virāgāya
nirodhāya paṭipanno hoti. kāyo
anicco ... pe ... mano anicco
atītānāgato; ko pana vādo
paccuppannassa! evaṃ passaṃ,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako
atītasmiṃ manasmiṃ anapekkho
hoti; anāgataṃ manaṃ
nābhinandati; paccuppannassa
manassa nibbidāya virāgāya
nirodhāya paṭipanno hotī”ti.
sattamaṃ.
Kinh Nội Giới là Khổ Não Trong Tam Thế
8. “cakkhuṃ, bhikkhave, dukkhaṃ atītānāgataṃ; ko pana vādo
paccuppannassa! evaṃ passaṃ,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako
atītasmiṃ cakkhusmiṃ anapekkho
hoti; anāgataṃ cakkhuṃ
nābhinandati; paccuppannassa
cakkhussa nibbidāya virāgāya
nirodhāya paṭipanno hoti. sotaṃ
dukkhaṃ ... pe ... ghānaṃ
dukkhaṃ ... pe ... jivhā dukkhā
atītānāgatā; ko pana vādo
paccuppannāya! evaṃ passaṃ,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako
atītāya jivhāya anapekkho hoti;
anāgataṃ jivhaṃ nābhinandati;
paccuppannāya jivhāya nibbidāya
virāgāya nirodhāya paṭipanno
hoti. kāyo dukkho ... pe ...
mano dukkho atītānāgato; ko pana
vādo paccuppannassa! evaṃ
passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako atītasmiṃ manasmiṃ
anapekkho hoti; anāgataṃ manaṃ
nābhinandati; paccuppannassa
manassa nibbidāya virāgāya
nirodhāya paṭipanno hotī”ti.
aṭṭhamaṃ.
Kinh Nội Giới là Vô Ngã Trong Tam Thế
9. “cakkhuṃ, bhikkhave, anattā atītānāgataṃ; ko pana vādo
paccuppannassa! evaṃ passaṃ,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako
atītasmiṃ cakkhusmiṃ anapekkho
hoti; anāgataṃ cakkhuṃ
nābhinandati; paccuppannassa
cakkhussa nibbidāya virāgāya
nirodhāya paṭipanno hoti. sotaṃ
anattā ... pe ... ghānaṃ anattā
... pe ... jivhā anattā
atītānāgatā; ko pana vādo
paccuppannāya! evaṃ passaṃ,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako
atītāya jivhāya anapekkho hoti;
anāgataṃ jivhaṃ nābhinandati;
paccuppannāya jivhāya nibbidāya
virāgāya nirodhāya paṭipanno
hoti. kāyo anattā ... pe ...
mano anattā atītānāgato; ko pana
vādo paccuppannassa! evaṃ
passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako atītasmiṃ manasmiṃ
anapekkho hoti; anāgataṃ manaṃ
nābhinandati; paccuppannassa
manassa nibbidāya virāgāya
nirodhāya paṭipanno hotī”ti.
navamaṃ.
Chú Thích
Mệnh đề “atītānāgataṃ ko pana vādo paccuppannassa! – trong quá khứ, tương
lai là như thế còn nói gì hiện
tại - khẳng định nguyên lý: hễ
những gì vốn như vậy, sẽ như vậy
thì bây giờ là vậy. Nói cách
khác, quá khứ từng là hiện tại;
tương lai sẽ là hiện tại; vậy
thì ba thời có chung bản chất.
Một cách giúp buông xả cái đang có là quán chiếu những gì đã qua và cái
sắp tới. Nếu quá khứ là vậy,
tương lai là vậy thì quán nặng
lòng với hiện tại để làm gì?!
Bời vì dù thời điểm quá khứ, vị
lai, hiện tại cũng thế thôi.
Loạt bài kinh nầy là cái nhìn quán triệt thế giới bên trong, bên ngoài,
quá khứ, hiện tại, vị lai vốn là
những sở chấp do tập tính của
chúng sanh. Thí dụ có người
không tha thiết với đời nầy
nhưng luôn có ảo tưởng về kiếp
sau. Phải nhất quán mới không có
ngõ ngách cho ảo tưởng.
Sớ Giải
7-12. sattamādīni atītānāgatesu cakkhādīsu
aniccalakkhaṇādīni sallakkhetvā
paccuppannesu balavagāhena
kilamantānaṃ vasena vuttāni.
sesaṃ sabbattha heṭṭhā
vuttanayamevāti.
7-12. Từ bài thứ bảy trở đi, các
đặc tính vô thường, khổ, vô ngã
trong các căn như mắt, v.v., ở
quá khứ và tương lai được quán
chiếu
và được đề cập dựa trên
hệ luỵ của những người đang bám
chấp vào hiện tại. Những phần
còn lại cũng được hiểu tương tự.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
7.VII. Vô Thường (3) Nội (S.iv.4)
1-2) ...
3) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả quá khứ và vị
lai, còn nói gì (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða
văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không còn
hoan hỷ đối với mắt tương lai, đối với mắt hiện tại; đã thực
hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
4-7) Tai là vô thường... Mũi là vô thường... Lưỡi là vô
thường... Thân là vô thường....
8) Ý là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý)
hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử,
không tiếc nuối đối với ý quá khứ, không có hoan hỷ đối với ý
tương lai, đối với ý hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly
tham, đoạn diệt.
8.VIII. Khổ (3) Nội (S.iv,4)
1-2) ...
3-7) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả quá khứ và vị lai,
còn nói gì đến (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða
văn Thánh đệ tử, không tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không hoan
hỷ đối với mắt tương lai, đối với mắt hiện tại; đã thực hành sự
nhàm chán, ly tham, đoạn diệt...
Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...
8) Ý là khổ, kể cả ý quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý) hiện
tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc
nuối đối với ý quá khứ, không có hoan hỷ đối với ý tương lai,
đối với ý hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn
diệt.
9.IX. Vô Ngã (3) Nội (S.iv,4)
1-2) ...
3) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả quá khứ và vị lai,
còn nói gì đến (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða
văn Thánh đệ tử không có tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không có
hoan hỷ đối với mắt vị lai, đối với mắt hiện tại; đã thực hành
sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
4-7) Tai... Mũi... Lưỡi... Thân....
8) Ý là vô ngã, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý) hiện
tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc
nuối đối với ý quá khứ, không hoan hỷ đối với ý vị lai, đối với
ý hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
10.X. Vô Thường (4) Ngoại (S.iv,5)
1-2) ...
3) -- Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả quá khứ và
vị lai, còn nói gì đến (sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các
Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc
quá khứ, không hoan hỷ đối với sắc vị lai, đối với các sắc hiện
tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
4-7) Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc....
8) Các pháp, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả (các pháp) quá
khứ và vị lai, còn nói gì (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các
Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp
quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai, đối với các pháp
hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
11.XI. Khổ (4) Ngoại (S.iv,5)
1-2) ...
3) -- Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các sắc) quá khứ
và vị lai, còn nói gì (các sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các
Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc
quá khứ, không hoan hỷ đối với các sắc tương lai, đối với các
sắc hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
4-7) Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc....
8) Các pháp, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các pháp) quá khứ
và vị lai, còn nói gì đến (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các
Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp
quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai, đối với các pháp
hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
12.XII. Vô Ngã (4) Ngoại (S.iv,6)
1-2) ...
3) -- Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả (các sắc) quá
khứ và vị lai, còn nói gì đến (các sắc) hiện tại. Thấy vậy, này
các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các
sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với sắc vị lai, đối với các sắc
hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
4-7) Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc....
8) Các pháp, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả (các pháp) quá
khứ và vị lai, còn nói gì đến (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này
các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các
pháp quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai, đối với các
pháp hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.
Sớ Giải
saḷāyatanavaggassa paṭhame cakkhunti dve cakkhūni — ñāṇacakkhu
ceva maṃsacakkhu ca. tattha ñāṇacakkhu pañcavidhaṃ —
buddhacakkhu, dhammacakkhu, samantacakkhu, dibbacakkhu,
paññācakkhūti. tesu buddhacakkhu nāma āsayānusayañāṇañceva
indriyaparopariyattañāṇañca, yaṃ — “buddhacakkhunā lokaṃ
volokento”ti (mahāva. 9; ma. ni. 1.283; 2.338) āgataṃ.
dhammacakkhu nāma heṭṭhimā tayo maggā tīṇi ca phalāni, yaṃ —
“virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādī”ti (mahāva. 16; ma. ni.
2.395) āgataṃ. samantacakkhu nāma sabbaññutaññāṇaṃ, yaṃ —
“pāsādamāruyha samantacakkhū”ti (mahāva. 8; ma. ni. 1.282;
2.338) āgataṃ. dibbacakkhu nāma ālokapharaṇena uppannaṃ ñāṇaṃ,
yaṃ — “dibbena cakkhunā visuddhenā”ti (pārā. 13; ma. ni. 2.341)
āgataṃ. paññācakkhu nāma catusaccaparicchedakañāṇaṃ, yaṃ —
“cakkhuṃ udapādī”ti (sa. ni. 5.1081; mahāva. 15) āgataṃ. ♦
maṃsacakkhupi duvidhaṃ — sasambhāracakkhu, pasādacakkhūti. tesu
yvāyaṃ akkhikūpake akkhipaṭalehi parivārito maṃsapiṇḍo, yattha
catasso dhātuyo vaṇṇagandharasojā sambhavo jīvitaṃ bhāvo
cakkhupasādo kāyapasādoti saṅkhepato terasa sambhārā honti.
vitthārato pana catasso dhātuyo vaṇṇagandharasojā sambhavoti ime
nava catusamuṭṭhānavasena chattiṃsa, jīvitaṃ bhāvo cakkhupasādo
kāyapasādoti ime kammasamuṭṭhānā tāva cattāroti cattārīsa
sambhārā honti. idaṃ sasambhāracakkhu nāma. yaṃ panettha
setamaṇḍalaparicchinnena kaṇhamaṇḍalena parivārite diṭṭhimaṇḍale
sanniviṭṭhaṃ rūpadassanasamatthaṃ pasādamattaṃ, idaṃ
pasādacakkhu nāma. tassa tato paresañca sotādīnaṃ vitthārakathā
visuddhimagge vuttāva. ♦ tattha yadidaṃ pasādacakkhu, taṃ
gahetvā bhagavā — cakkhuṃ, bhikkhave, aniccantiādimāha. tattha —
“catūhi kāraṇehi aniccaṃ udayabbayavantatāyā”tiādinā nayena
vitthārakathā heṭṭhā pakāsitāyeva. sotampi pasādasotameva
adhippetaṃ, tathā ghānajivhākāyā. manoti
tebhūmakasammasanacāracittaṃ. iti idaṃ suttaṃ chasu
ajjhattikāyatanesu tīṇi lakkhaṇāni dassetvā kathite
bujjhanakānaṃ ajjhāsayena vuttaṃ.
Trong bài kinh đầu tiên của "Saḷāyatanavagga" có đề cập đến
"mắt" (cakkhu), gồm hai loại:
"Nhục nhãn" (maṃsacakkhu)
Trong đó, "Tuệ nhãn" (ñāṇacakkhu) được chia thành năm loại:
1. Phật nhãn (buddhacakkhu): Trí biết rõ các khuynh hướng tâm lý
(āsayānusayañāṇa) và trí biết các căn bậc thượng
(indriyaparopariyattañāṇa). Điều này được nhắc đến trong câu:
“Nhìn thế gian bằng Phật nhãn” (buddhacakkhunā lokaṃ volokento).
2. Pháp nhãn (dhammacakkhu): Là ba con đường (maggā) và ba quả
vị (phala) thấp hơn, như được đề cập: “Pháp nhãn không còn ô
nhiễm, đã sanh khởi” (virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādī).
3. Toàn tri nhãn (samantacakkhu): Là trí tuệ toàn tri
(sabbaññutañāṇa), như được nói đến: “Nhìn bao quát từ lâu đài
bằng toàn giác nhãn” (pāsādamāruyha samantacakkhū).
4. Thiên nhãn (dibbacakkhu): Trí tuệ phát sinh từ ánh sáng, như
được nói đến:“Với thiên nhãn thuần tịnh” (dibbena cakkhunā
visuddhenā).
5. Tuệ nhãn (paññācakkhu): Là trí tuệ phân biệt bốn chân lý
(catusaccaparicchedakañāṇa), được nhắc đến: “Tuệ nhãn đã khởi
sinh” (cakkhuṃ udapādī).
"Nhục nhãn" (maṃsacakkhu) cũng có hai loại:
8.
Mắt có thành phần (sasambhāracakkhu): Là khối thịt bao
quanh bởi các lớp màng mắt. Thành phần gồm bốn đại (đất, nước,
gió, lửa), cùng với sắc, hương, vị, dưỡng chất (ojā), sự sống
(jīvita), trạng thái (bhāva), nhãn căn (cakkhupasāda), và thân
căn (kāyapasāda). Tổng cộng là 13 yếu tố.
•
Khi phân tích chi tiết, bốn đại cùng với các yếu tố sắc,
hương, vị, dưỡng chất tạo thành 36 yếu tố thuộc bốn nguyên nhân
(catusamuṭṭhāna). Bốn yếu tố còn lại thuộc nghiệp
(kammasamuṭṭhāna), tổng cộng là 40 yếu tố. Đây gọi là mắt có
thành phần.
9.
Mắt thanh tịnh (pasādacakkhu): Là phần trong cùng của
mắt, nằm trong quầng sáng trắng và viền đen, có khả năng nhìn
thấy các hình sắc. Đây gọi là mắt thanh tịnh.
Phần mô tả chi tiết về mắt này cùng với tai, mũi, lưỡi, thân, và
ý đã được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga).
-ooOoo- |