|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 18 tháng 12, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 353. QUÁN CHIẾU ĐA CHIỀU ĐỐI VỚI TỰ THÂN- Kinh Trước Khi Thành Đạo I và II (paṭhamapubbesambodhasuttaṃ) (dutiyapubbesambodhasuttaṃ). ******
Kinh Trước Khi Thành
Đạo I
13. sāvatthinidānaṃ.
“pubbeva me, bhikkhave, sambodhā
anabhisambuddhassa
bodhisattasseva sato etadahosi —
‘ko nu kho cakkhussa assādo, ko
ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ? ko
sotassa ... pe ... ko
ghānassa... ko jivhāya... ko
kāyassa... ko manassa assādo, ko
ādīnavo, kiṃ nissaraṇan’ti?
tassa mayhaṃ, bhikkhave,
etadahosi — ‘yaṃ kho cakkhuṃ
paṭicca uppajjati sukhaṃ
somanassaṃ, ayaṃ cakkhussa
assādo. yaṃ cakkhuṃ aniccaṃ
dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, ayaṃ
cakkhussa ādīnavo. yo cakkhusmiṃ
chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ, idaṃ
cakkhussa nissaraṇaṃ. yaṃ sotaṃ
... pe ... yaṃ ghānaṃ ... pe ...
yaṃ jivhaṃ paṭicca uppajjati
sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ jivhāya
assādo. yaṃ {yā (sī. syā. kaṃ.
pī.)} jivhā aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā, ayaṃ jivhāya
ādīnavo. yo jivhāya
chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ, idaṃ jivhāya
nissaraṇaṃ. yaṃ kāyaṃ ... pe ...
yaṃ manaṃ paṭicca uppajjati
sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ manassa
assādo. yaṃ {yo (sī. syā. kaṃ.
ka.)} mano anicco dukkho
vipariṇāmadhammo, ayaṃ manassa
ādīnavo. yo manasmiṃ
chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ, idaṃ manassa
nissaraṇan’”ti.
“yāvakīvañcāhaṃ, bhikkhave, imesaṃ channaṃ ajjhattikānaṃ
āyatanānaṃ evaṃ assādañca
assādato, ādīnavañca ādīnavato,
nissaraṇañca nissaraṇato
yathābhūtaṃ nābbhaññāsiṃ, neva
tāvāhaṃ, bhikkhave, sadevake
loke samārake sabrahmake
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya ‘anuttaraṃ
sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti
{sabbatthāpi evameva itisaddena
saha dissati} paccaññāsiṃ. yato
ca khvāhaṃ, bhikkhave, imesaṃ
channaṃ ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ
evaṃ assādañca assādato,
ādīnavañca ādīnavato,
nissaraṇañca nissaraṇato
yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ,
athāhaṃ, bhikkhave, sadevake
loke samārake sabrahmake
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya ‘anuttaraṃ
sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti
paccaññāsiṃ. ñāṇañca pana me
dassanaṃ udapādi — ‘akuppā me
vimutti {cetovimutti (sī. pī.
ka.) evamuparipi}, ayamantimā
jāti, natthi dāni
punabbhavo’”ti. paṭhamaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī,
“Này chư Tỳ khưu,
trước khi Ta thành đạo, còn là một bồ tát, chưa đắc chứng toàn giác, ý
nghĩ nầy khởi lên nơi ta: “Cái
gì là vị ngọt, cái gì là nguy
hiểm, cái gì là sự vượt thoát
đối với mắt? đối với tai? đối
với mũi? đối với lưỡi? đối với
thân? đối với ý?”
Và điều nầy khởi lên nơi Ta: “Hỷ và lạc tuỳ thuộc ở mắt là vị ngọt của
mắt; mắt là vô thường, khổ não,
biến đổi là nguy hiểm của mắt;
sự từ bỏ, đoạn trừ ham muốn, ái
nhiểm đối với mắt là sự vượt
thoát đối với mắt.
“Hỷ và lạc tuỳ thuộc ở tai….”
“Này chư Tỳ khưu, đối với sáu nội xứ, cho đến khi nào ta chưa liễu ngộ vị
ngọt của chúng, sự nguy hiểm của
chúng, sự vượt thoát đối với
chúng thì ta chưa nhận là đã
giác ngô, viên thành quả vị
chánh đẳng chánh giác giữa thế
giới gồm chư thiên, ma vương,
phạm thiên cùng với chư vị sa
môn, phạm chí đương thời.
Đến khi nào ta liễu ngộ vị
ngọt của chúng, sự nguy hiểm của
chúng, sự vượt thoát đối với
chúng thì ta tuyên bố là đã giác
ngô, viên thành quả vị chánh
đẳng chánh giác giữa thế giới
gồm chư thiên, ma vương, phạm
thiên cùng với chư vị sa môn,
phạm chí đương thời.
Và sự hiểu biết nầy khởi lên nơi ta: “Tâm giải thoát của Ta là không giao
động; đây là kiếp sau cùng; sẽ
không còn luân hồi sanh tử nữa”
Kinh Trước Khi Thành
Đạo II
14. “pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa
bodhisattasseva sato etadahosi —
‘ko nu kho rūpānaṃ assādo, ko
ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ? ko
saddānaṃ ... pe ... ko
gandhānaṃ... ko rasānaṃ... ko
phoṭṭhabbānaṃ... ko dhammānaṃ
assādo, ko ādīnavo, kiṃ
nissaraṇan’ti? tassa mayhaṃ,
bhikkhave, etadahosi — ‘yaṃ kho
rūpe paṭicca uppajjati sukhaṃ
somanassaṃ, ayaṃ rūpānaṃ assādo.
yaṃ rūpā aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā, ayaṃ rūpānaṃ
ādīnavo. yo rūpesu
chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ, idaṃ rūpānaṃ
nissaraṇaṃ. yaṃ sadde...
gandhe... rase... phoṭṭhabbe...
yaṃ dhamme paṭicca uppajjati
sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ
dhammānaṃ assādo. yaṃ dhammā
aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā,
ayaṃ dhammānaṃ ādīnavo. yo
dhammesu chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ, idaṃ
dhammānaṃ nissaraṇan’”ti.
“yāvakīvañcāhaṃ, bhikkhave, imesaṃ channaṃ bāhirānaṃ
āyatanānaṃ evaṃ assādañca
assādato, ādīnavañca ādīnavato,
nissaraṇañca nissaraṇato
yathābhūtaṃ nābbhaññāsiṃ, neva
tāvāhaṃ, bhikkhave, sadevake
loke samārake sabrahmake
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya ‘anuttaraṃ
sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti
paccaññāsiṃ. yato ca khvāhaṃ,
bhikkhave, imesaṃ channaṃ
bāhirānaṃ āyatanānaṃ evaṃ
assādañca assādato, ādīnavañca
ādīnavato, nissaraṇañca
nissaraṇato yathābhūtaṃ
abbhaññāsiṃ, athāhaṃ, bhikkhave,
sadevake loke samārake
sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā
pajāya sadevamanussāya
‘anuttaraṃ sammāsambodhiṃ
abhisambuddho’ti paccaññāsiṃ.
ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi
— ‘akuppā me vimutti, ayamantimā
jāti, natthi dāni
punabbhavo’”ti. dutiyaṃ.
Nội dung bài kinh nầy giống như “Kinh Trước Khi Thành Đạo I” chỉ khác là
thay vì sáu nội xứ thì được thay
bằng sáu ngoại xứ.
Chú Thích
Trong “Phẩm Song Đối” luôn có hai bài kinh đối xứng nhau nên mỗi bài học
sẽ có hai bài kinh.
Cụm tự “anuttaraṃ sammāsambodhi” thường được dịch là “vô thượng chánh đẳng
chánh giác” chỉ cho quả Phật
toàn giác với ba đặc điểm: Thứ
nhất là tự thân giác ngộ không
thầy chỉ dạy; thứ hai là toàn
tri nghĩa là không có gì không
thể biết; thứ ba là vô song ở
đời bời vì trong một thế giới
mỗi lần chỉ có một vị toàn giác
xuất hiện và là bậc tối tôn. Một
số dịch giả Trung Hoa thấy khó
chuyển ngữ đầy đủ nên chọn cách
phiên âm “A nậu đa la tam miệu
tam bồ đề”.
Nhận biết rõ pháp thế gian qua ba phương diện: vị ngọt, nguy hiểm, và
phương cách vượt thoát được xem
là sự hiểu biết trọn vẹn với
nhiều chiều kích. Sự hiểu biết
nầy giúp xoá tan ảo giác phiến
diện.
Sớ Giải
13-16. yamakavaggassa paṭhamadutiyesu ajjhattikānanti
ajjhattajjhattavasena
ajjhattikānaṃ. so pana nesaṃ
ajjhattikabhāvo chandarāgassa
adhimattabalavatāya veditabbo.
manussānañhi antogharaṃ viya cha
ajjhattikāyatanāni, gharūpacāraṃ
viya cha bāhirāyatanāni. yathā
nesaṃ puttadāradhanadhaññapuṇṇe
antoghare chandarāgo
adhimattabalavā hoti, tattha
kassaci pavisituṃ na denti,
appamattena
bhājanasaddamattenāpi “kiṃ
etan”ti? vattāro bhavanti.
evamevaṃ chasu ajjhattikesu
āyatanesu
adhimattabalavachandarāgoti. iti
imāya chandarāgabalavatāya tāni
“ajjhattikānī”ti vuttāni.
gharūpacāre pana no tathā balavā
hoti, tattha carante manussepi
catuppadānipi na sahasā
nivārenti. kiñcāpi na nivārenti,
anicchantā pana
pasupacchimattampi gahituṃ na
denti. iti nesaṃ tattha na
adhimattabalavachandarāgo hoti.
rūpādīsupi tatheva na
adhimattabalavachandarāgo, tasmā
tāni “bāhirānī”ti vuttāni.
vitthārato pana
ajjhattikabāhirakathā
visuddhimagge vuttāva. sesaṃ
dvīsupi suttesu heṭṭhā
vuttanayameva. tathā
tatiyacatutthesu.
Yamakavaggassa (Cặp Song Đôi) - Kinh Thứ Nhất và Thứ Hai
"Ajjhattikānaṃ" (thuộc nội tại) được hiểu theo nghĩa là ajjhattajjhattavasena (dựa trên sự nội tại
trong mỗi cá nhân). Tuy nhiên,
tính chất nội tại của chúng (các
căn bên trong) cần được nhận
biết qua sự tham ái (chandarāga)
với sức mạnh vượt trội và cường
độ mạnh mẽ.
Đối với con người, sáu nội xứ (chasu ajjhattikāyatanāni) giống như không
gian bên trong ngôi nhà của họ.
Trong khi đó, sáu ngoại xứ (cha
bāhirāyatanāni) giống như khu
vực xung quanh ngôi nhà. Ví dụ,
khi trong nhà đầy đủ con cái, vợ
chồng, của cải, lúa gạo, thì
lòng tham ái (chandarāga) của họ
rất mạnh mẽ, khiến họ không muốn
ai xâm nhập vào. Ngay cả khi có
một âm thanh nhỏ từ đồ vật, họ
cũng ngay lập tức phản ứng và
hỏi: "Cái gì đây?"
Tương tự, trong sáu nội xứ, lòng tham ái mạnh mẽ vượt trội
(adhimattabalavachandarāga) được
nhận thấy rõ ràng. Vì lý do này,
chúng được gọi là "ajjhattikāni"
(thuộc nội tại).
Ngoại xứ (bāhirāyatanāni), giống như khu vực bên ngoài ngôi nhà, không gây ra tham ái mạnh mẽ như
vậy. Người ta có thể cho phép
người khác hoặc động vật bốn
chân qua lại mà không lập tức
ngăn cản. Tuy nhiên, dù không
ngăn cản, họ cũng không dễ dàng
để ai đó lấy đi bất cứ thứ gì,
ngay cả những thứ nhỏ nhặt như
phân gia súc. Do đó, tham ái đối
với sáu ngoại xứ không mạnh mẽ
đến mức vượt trội.
Tương tự, đối với các đối tượng như sắc (rūpa) và các yếu tố khác, lòng
tham ái không đạt đến mức cường
độ vượt trội, vì vậy chúng được
gọi là "bāhirānī" (thuộc ngoại
tại). Những giải thích chi tiết
hơn về nội xứ và ngoại xứ đã
được trình bày trong
Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo).
Phần còn lại trong hai bài kinh cũng được giải thích theo cách tương tự như đã trình bày trước đó. Điều này
cũng áp dụng cho các bài kinh
thứ ba và thứ tư trong
Yamakavaggassa.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
II. Phẩm Song Ðôi
13.I. Chánh Giác (1)
(S.iv,6)
1) Sàvatthi...
2) -- Thuở trước, này các Tỷ-kheo, khi Ta chưa giác ngộ,
chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như
sau: "Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly
của mắt? Cái gì là vị ngọt... của tai? Cái gì là vị ngọt... của
mũi? Cái gì là vị ngọt... của lưỡi? Cái gì là vị ngọt... của
thân? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly
của ý?"
3-7) Này các Tỷ-kheo, về vấn đề này Ta suy nghĩ như sau: "Do
duyên với mắt, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của mắt. Mắt
vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của mắt.
Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với mắt là xuất ly
của mắt... của tai... của mũi... của lưỡi... của thân...
8) Do duyên với ý, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của ý.
Ý vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của ý.
Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với ý là xuất ly của
ý".
9)Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo,
đối với sáu nội xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị
ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, cho đến khi
ấy, này các Tỷ-kheo, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma
giới, Phạm thiên giới, đối với quần chúng gồm có Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng Ta đã
chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
10) Và cho đến khi nào, này
các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta đã như thật liễu tri vị
ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm và xuất ly là xuất ly,
thời khi ấy, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới,
Phạm thiên giới, đối với quần chúng gồm có Sa-môn, Bà-la-môn chư
Thiên và loài Người, Ta xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác.
11) Và tri kiến này khởi
lên nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời
sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa".
-ooOoo- |