|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 21 tháng 12, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 354. CÁI NHÌN KHÁCH QUAN ĐỐI VỚI THỰC TẠI- Kinh Tìm Kiếm Vị Ngọt I và II (paṭhamāssādapariyesanasuttaṃ) (dutiyāssādapariyesanasuttaṃ). ******
Cuộc sống thường được nhìn qua hai thái độ cực đoan
là lạc quan và bi quan. Người
lạc quan thường không muốn thấy
mặt trái phiền luỵ. Người bi
quan không nhận ra mặt tích cực
ngọt ngào. Tệ hại hơn là sự lẩn
quẩn trong hành trình khi không
thấy được lối thoát cho những bế
tắc. Như một người nghiện ngập
ma tuý không thấy được hệ luỵ mà
cũng nhận ra cách cai nghiện thì
chỉ có lún sâu vào sự tàn phá
cuộc sống. Ở trong mọi trường
hợp, cái nhìn khách quan luôn
luôn cần thiết để sống tỉnh táo
và tạo nên thái độ thực tiễn.
Kinh Tìm Kiếm Vị
Ngọt I
15. “cakkhussāhaṃ, bhikkhave, assādapariyesanaṃ acariṃ. yo
cakkhussa assādo tadajjhagamaṃ.
yāvatā cakkhussa assādo paññāya
me so sudiṭṭho. cakkhussāhaṃ,
bhikkhave, ādīnavapariyesanaṃ
acariṃ. yo cakkhussa ādīnavo
tadajjhagamaṃ. yāvatā cakkhussa
ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho.
cakkhussāhaṃ, bhikkhave,
nissaraṇapariyesanaṃ acariṃ. yaṃ
cakkhussa nissaraṇaṃ
tadajjhagamaṃ. yāvatā cakkhussa
nissaraṇaṃ, paññāya me taṃ
sudiṭṭhaṃ. sotassāhaṃ,
bhikkhave... ghānassāhaṃ,
bhikkhave... jivhāyāhaṃ
bhikkhave, assādapariyesanaṃ
acariṃ. yo jivhāya assādo
tadajjhagamaṃ. yāvatā jivhāya
assādo paññāya me so sudiṭṭho.
jivhāyāhaṃ, bhikkhave,
ādīnavapariyesanaṃ acariṃ. yo
jivhāya ādīnavo tadajjhagamaṃ.
yāvatā jivhāya ādīnavo paññāya
me so sudiṭṭho. jivhāyāhaṃ,
bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṃ
acariṃ. yaṃ jivhāya nissaraṇaṃ
tadajjhagamaṃ. yāvatā jivhāya
nissaraṇaṃ, paññāya me taṃ
sudiṭṭhaṃ. manassāhaṃ,
bhikkhave, assādapariyesanaṃ
acariṃ. yo manassa assādo
tadajjhagamaṃ. yāvatā manassa
assādo paññāya me so sudiṭṭho.
manassāhaṃ, bhikkhave,
ādīnavapariyesanaṃ acariṃ. yo
manassa ādīnavo tadajjhagamaṃ.
yāvatā manassa ādīnavo paññāya
me so sudiṭṭho. manassāhaṃ,
bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṃ
acariṃ. yaṃ manassa nissaraṇaṃ
tadajjhagamaṃ. yāvatā manassa
nissaraṇaṃ, paññāya me taṃ
sudiṭṭhaṃ.
“yāvakīvañcāhaṃ, bhikkhave, imesaṃ channaṃ ajjhattikānaṃ
āyatanānaṃ assādañca assādato,
ādīnavañca ādīnavato,
nissaraṇañca nissaraṇato
yathābhūtaṃ nābbhaññāsiṃ ... pe
... paccaññāsiṃ. ñāṇañca pana me
dassanaṃ udapādi — ‘akuppā me
vimutti, ayamantimā jāti, natthi
dāni punabbhavo’”ti. tatiyaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của mắt. Bất cứ vị
ngọt nào của mắt ta đều trãi
nghiệm. Với trí tuệ, Ta sáng
suốt thấy được vị ngọt của mắt.
Ta đã đi tìm kiếm sự nguy hại của mắt. Bất cứ sự nguy hại nào của mắt ta
đều trãi nghiệm. Với trí tuệ, Ta
sáng suốt thấy được sự nguy hại
của mắt.
Ta đã đi tìm kiếm sự vượt thoát của mắt. Bất
cứ vượt thoát nào của mắt ta đều
trãi nghiệm. Với trí tuệ, Ta
sáng suốt thấy được vượt thoát
của mắt.
Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của tai….
“Này chư Tỳ khưu, đối với sáu nội xứ, cho đến khi nào ta chưa liễu ngộ vị
ngọt của chúng, sự nguy hiểm của
chúng, sự vượt thoát đối với
chúng thì ta chưa nhận là đã
giác ngô, viên thành quả vị
chánh đẳng chánh giác giữa thế
giới gồm chư thiên, ma vương,
phạm thiên cùng với chư vị sa
môn, phạm chí đương thời.
Đến khi nào ta liễu ngộ vị
ngọt của chúng, sự nguy hiểm của
chúng, sự vượt thoát đối với
chúng thì ta tuyên bố là đã giác
ngô, viên thành quả vị chánh
đẳng chánh giác giữa thế giới
gồm chư thiên, ma vương, phạm
thiên cùng với chư vị sa môn,
phạm chí đương thời.
Và sự nhận biết nầy khởi lên nơi ta: “Tâm giải thoát của Ta là không giao
động; đây là kiếp sau cùng; sẽ
không còn luân hồi sanh tử nữa”
Kinh Tìm Kiếm Vị
Ngọt II
16. “rūpānāhaṃ, bhikkhave, assādapariyesanaṃ acariṃ. yo
rūpānaṃ assādo tadajjhagamaṃ.
yāvatā rūpānaṃ assādo paññāya me
so sudiṭṭho. rūpānāhaṃ,
bhikkhave, ādīnavapariyesanaṃ
acariṃ. yo rūpānaṃ ādīnavo
tadajjhagamaṃ. yāvatā rūpānaṃ
ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho.
rūpānāhaṃ, bhikkhave,
nissaraṇapariyesanaṃ acariṃ. yaṃ
rūpānaṃ nissaraṇaṃ
tadajjhagamaṃ. yāvatā rūpānaṃ
nissaraṇaṃ, paññāya me taṃ
sudiṭṭhaṃ. saddānāhaṃ,
bhikkhave... gandhānāhaṃ,
bhikkhave... rasānāhaṃ,
bhikkhave... phoṭṭhabbānāhaṃ,
bhikkhave... dhammānāhaṃ,
bhikkhave, assādapariyesanaṃ
acariṃ. yo dhammānaṃ assādo
tadajjhagamaṃ. yāvatā dhammānaṃ
assādo paññāya me so sudiṭṭho.
dhammānāhaṃ, bhikkhave,
ādīnavapariyesanaṃ acariṃ. yo
dhammānaṃ ādīnavo tadajjhagamaṃ.
yāvatā dhammānaṃ ādīnavo paññāya
me so sudiṭṭho. dhammānāhaṃ,
bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṃ
acariṃ. yaṃ dhammānaṃ nissaraṇaṃ
tadajjhagamaṃ. yāvatā dhammānaṃ
nissaraṇaṃ, paññāya me taṃ
sudiṭṭhaṃ.
“yāvakīvañcāhaṃ, bhikkhave, imesaṃ channaṃ bāhirānaṃ
āyatanānaṃ assādañca assādato,
ādīnavañca ādīnavato,
nissaraṇañca nissaraṇato
yathābhūtaṃ nābbhaññāsiṃ ... pe
... paccaññāsiṃ. ñāṇañca pana me
dassanaṃ udapādi — ‘akuppā me
vimutti, ayamantimā jāti, natthi
dāni punabbhavo’”ti. catutthaṃ.
Nội dung bài kinh nầy giống như “Kinh Tìm Kiếm Vị Ngọt I” chỉ khác là thay
vì sáu nội xứ thì được thay bằng
sáu ngoại xứ.
Chú Thích
Ba phương diện: vị ngọt, sự nguy hại, phương cách vượt thoát được đề cập ở
rất nhiều bài kinh đối với nhiều
đối tượng nhận thức khác nhau.
Sự thấu hiểu cả ba phương diện
nầy tạo nên cái nhìn toàn diện
đối với các pháp. Sự thấy biết
ba phưong diện nầy giúp hành gỉa
không bị vướng vấp bởi tâm trạng
bi quan, lạc quan, chủ quan.
Khi Đức Phật dạy là chính Ngài đã đi tìm kiến, trãi nghiệm các pháp có thể
hiểu qua hai bối cảnh của kiếp
hiện tại và nhiều kiếp luân hồi.
Trong Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ,
Đức Phật mô tả về cuộc sống
nhung lụa cao sang của một quân
vương mà Ngài đã trãi qua trước
khi xuất gia. Cũng trong bài
kinh nầy, cũng đề cập đến túc
mạng minh khi thành đạo mà Ngài
có thể quán chiếu những gì đã
trãi nghiệm trong vô số kiếp
tiền thân.
Thấy biết được thế giới nội tại, thế giới ngoại tại với cả ba phương diện
vị ngọt, nguy hại, phương cách
vượt thoát là có được cái nhìn
chân xác toàn diện. Sự thấy biết
xoá tan tất cả những ảo kiến, ái
chấp về thực tại của cuộc sống.
Sớ Giải
13-16. yamakavaggassa paṭhamadutiyesu ajjhattikānanti
ajjhattajjhattavasena
ajjhattikānaṃ. so pana nesaṃ
ajjhattikabhāvo chandarāgassa
adhimattabalavatāya veditabbo.
manussānañhi antogharaṃ viya cha
ajjhattikāyatanāni, gharūpacāraṃ
viya cha bāhirāyatanāni. yathā
nesaṃ puttadāradhanadhaññapuṇṇe
antoghare chandarāgo
adhimattabalavā hoti, tattha
kassaci pavisituṃ na denti,
appamattena
bhājanasaddamattenāpi “kiṃ
etan”ti? vattāro bhavanti.
evamevaṃ chasu ajjhattikesu
āyatanesu
adhimattabalavachandarāgoti. iti
imāya chandarāgabalavatāya tāni
“ajjhattikānī”ti vuttāni.
gharūpacāre pana no tathā balavā
hoti, tattha carante manussepi
catuppadānipi na sahasā
nivārenti. kiñcāpi na nivārenti,
anicchantā pana
pasupacchimattampi gahituṃ na
denti. iti nesaṃ tattha na
adhimattabalavachandarāgo hoti.
rūpādīsupi tatheva na
adhimattabalavachandarāgo, tasmā
tāni “bāhirānī”ti vuttāni.
vitthārato pana
ajjhattikabāhirakathā
visuddhimagge vuttāva. sesaṃ
dvīsupi suttesu heṭṭhā
vuttanayameva. tathā
tatiyacatutthesu.
Yamakavaggassa (Cặp Song Đôi) - Kinh Thứ Nhất và Thứ Hai
"Ajjhattikānaṃ" (thuộc nội tại) được hiểu theo nghĩa là ajjhattajjhattavasena (dựa trên sự nội tại
trong mỗi cá nhân). Tuy nhiên,
tính chất nội tại của chúng (các
căn bên trong) cần được nhận
biết qua sự tham ái (chandarāga)
với sức mạnh vượt trội và cường
độ mạnh mẽ.
Đối với con người, sáu nội xứ (chasu ajjhattikāyatanāni) giống như không
gian bên trong ngôi nhà của họ.
Trong khi đó, sáu ngoại xứ (cha
bāhirāyatanāni) giống như khu
vực xung quanh ngôi nhà. Ví dụ,
khi trong nhà đầy đủ con cái, vợ
chồng, của cải, lúa gạo, thì
lòng tham ái (chandarāga) của họ
rất mạnh mẽ, khiến họ không muốn
ai xâm nhập vào. Ngay cả khi có
một âm thanh nhỏ từ đồ vật, họ
cũng ngay lập tức phản ứng và
hỏi: "Cái gì đây?"
Tương tự, trong sáu nội xứ, lòng tham ái mạnh mẽ vượt trội
(adhimattabalavachandarāga) được
nhận thấy rõ ràng. Vì lý do này,
chúng được gọi là "ajjhattikāni"
(thuộc nội tại).
Ngoại xứ (bāhirāyatanāni), giống như khu vực bên ngoài ngôi nhà, không gây ra tham ái mạnh mẽ như
vậy. Người ta có thể cho phép
người khác hoặc động vật bốn
chân qua lại mà không lập tức
ngăn cản. Tuy nhiên, dù không
ngăn cản, họ cũng không dễ dàng
để ai đó lấy đi bất cứ thứ gì,
ngay cả những thứ nhỏ nhặt như
phân gia súc. Do đó, tham ái đối
với sáu ngoại xứ không mạnh mẽ
đến mức vượt trội.
Tương tự, đối với các đối tượng như sắc (rūpa) và các yếu tố khác, lòng
tham ái không đạt đến mức cường
độ vượt trội, vì vậy chúng được
gọi là "bāhirānī" (thuộc ngoại
tại). Những giải thích chi tiết
hơn về nội xứ và ngoại xứ đã
được trình bày trong
Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo).
Phần còn lại trong hai bài kinh cũng được giải thích theo cách tương tự như đã trình bày trước đó. Điều
này cũng áp dụng cho các bài
kinh thứ ba và thứ tư trong
Yamakavaggassa.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
II. Phẩm Song Ðôi
15.III. Vị Ngọt (1) (S.iv,8)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của mắt. Có vị
ngọt nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của mắt như thế
nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống
tìm cầu nguy hiểm của mắt. Có nguy hiểm nào của mắt, Ta đều thực
nghiệm. Nguy hiểm của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí
tuệ. Này các Tỷ- kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của mắt. Có
xuất ly nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của mắt như thế
nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
3-6) Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của tai... của
mũi... của lưỡi... của thân...
7) Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của ý. Có vị ngọt
nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của ý như thế nào, Ta đã
khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy
hiểm của ý. Có nguy hiểm nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Nguy
hiểm của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các
Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của ý. Có xuất ly nào của ý,
Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy
với trí tuệ.
8-9) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này,
Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy
hiểm, xuất ly là sự xuất ly...
10) Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát
của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh
nữa".
16.IV. Vị Ngọt (2) (S.iv,9)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các sắc.
Có vị ngọt nào của các sắc, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các
sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo,
Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các sắc. Có nguy hiểm nào của
các sắc, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của các sắc như thế nào, Ta
đã khéo thấy với trí tuệ.
3-6) ...các tiếng... các hương... các vị... các xúc...
7) Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các pháp. Có
vị ngọt nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các
pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo,
Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các pháp. Có nguy hiểm nào của
các pháp, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của pháp như thế nào, Ta
đã khéo thấy với trí tuệ.
8-9) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu ngoại xứ này,
Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy
hiểm, xuất ly là xuất ly...
10) Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát
của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh
nữa".
-ooOoo- |