|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 24 tháng 12, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 355. BIẾT NHẬN THỨC CÓ SỨC THUYẾT PHỤC- Kinh “Nếu Không Có” I và II (paṭhamanoceassādasuttaṃ) (dutiyanoceassādasuttaṃ) . ******
Sự hiểu biết mang tánh thuyết phục đủ để chuyển hoá
cuộc sống thường không đơn giản
qua vài câu nói hay đọc vài
trang kinh. Người tu tập thường
phải cảm nhận bản chất thực ở
chính thân tâm của mình. Bản
chất thực ở đây cho thấy tại sao
các giác quan có tánh hấp dẫn;
tại sao có những buồn nãn; tại
sao có lúc vượt qua được những
đeo đẳng dai dẳng trong lòng.
Tất cả đều cho thấy thực tại có
vị ngọt, có nguy hiểm, và có khả
tính vượt thoát. Khi tự xác định
được thì sẽ không mê đắm bất
chấp hay buồn nãn tuyệt vọng.
Bởi vì những thái độ đó chứng tỏ
cái nhìn phiến diện và cực đoan.
Kinh “Nếu Không Có”
I
17. “no cedaṃ, bhikkhave, cakkhussa assādo abhavissa,
nayidaṃ sattā cakkhusmiṃ
sārajjeyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi cakkhussa
assādo tasmā sattā cakkhusmiṃ
sārajjanti. no cedaṃ, bhikkhave,
cakkhussa ādīnavo abhavissa,
nayidaṃ sattā cakkhusmiṃ
nibbindeyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi cakkhussa
ādīnavo tasmā sattā cakkhusmiṃ
nibbindanti. no cedaṃ,
bhikkhave, cakkhussa nissaraṇaṃ
abhavissa, nayidaṃ sattā
cakkhusmā nissareyyuṃ. yasmā ca
kho, bhikkhave, atthi cakkhussa
nissaraṇaṃ tasmā sattā cakkhusmā
nissaranti. no cedaṃ, bhikkhave,
sotassa assādo abhavissa... no
cedaṃ, bhikkhave, ghānassa
assādo abhavissa... no cedaṃ,
bhikkhave, jivhāya assādo
abhavissa, nayidaṃ sattā jivhāya
sārajjeyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi jivhāya assādo,
tasmā sattā jivhāya sārajjanti.
no cedaṃ, bhikkhave, jivhāya
ādīnavo abhavissa, nayidaṃ sattā
jivhāya nibbindeyyuṃ. yasmā ca
kho, bhikkhave, atthi jivhāya
ādīnavo, tasmā sattā jivhāya
nibbindanti. no cedaṃ,
bhikkhave, jivhāya nissaraṇaṃ
abhavissa, nayidaṃ sattā jivhāya
nissareyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi jivhāya
nissaraṇaṃ, tasmā sattā jivhāya
nissaranti. no cedaṃ, bhikkhave,
kāyassa assādo abhavissa... no
cedaṃ, bhikkhave, manassa assādo
abhavissa, nayidaṃ sattā
manasmiṃ sārajjeyyuṃ. yasmā ca
kho, bhikkhave, atthi manassa
assādo, tasmā sattā manasmiṃ
sārajjanti. no cedaṃ, bhikkhave,
manassa ādīnavo abhavissa,
nayidaṃ sattā manasmiṃ
nibbindeyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi manassa
ādīnavo, tasmā sattā manasmiṃ
nibbindanti. no cedaṃ,
bhikkhave, manassa nissaraṇaṃ
abhavissa, nayidaṃ sattā manasmā
nissareyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi manassa
nissaraṇaṃ, tasmā sattā manasmā
nissaranti.
“yāvakīvañca, bhikkhave, sattā imesaṃ channaṃ ajjhattikānaṃ
āyatanānaṃ assādañca assādato,
ādīnavañca ādīnavato,
nissaraṇañca nissaraṇato
yathābhūtaṃ nābbhaññaṃsu, neva
tāva, bhikkhave, sattā sadevakā
lokā samārakā sabrahmakā
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya nissaṭā
visaññuttā vippamuttā
vimariyādīkatena
{vipariyādikatena (sī. pī.),
vipariyādikatena (syā. kaṃ.
ka.)} cetasā vihariṃsu. yato ca
kho, bhikkhave, sattā imesaṃ
channaṃ ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ
assādañca assādato, ādīnavañca
ādīnavato, nissaraṇañca
nissaraṇato yathābhūtaṃ
abbhaññaṃsu, atha, bhikkhave,
sattā sadevakā lokā samārakā
sabrahmakā sassamaṇabrāhmaṇiyā
pajāya sadevamanussāya nissaṭā
visaññuttā vippamuttā
vimariyādīkatena cetasā
viharantī”ti. pañcamaṃ. “Này chư Tỳ khưu, nếu không có vị ngọt của mắt thì không có tham luyến đối với mắt; chính vì có vị ngọt của mắt nên chúng sanh tham luyến đối với mắt.
Này chư Tỳ
khưu, nếu không có nguy hiểm của
mắt thì không có nhàm chán đối
với mắt; chính vì có sự nguy
hiểm của mắt nên chúng sanh nhàm
chán đối với mắt.
Này chư Tỳ
khưu, nếu không có xuất ly của
mắt thì không có vượt thoát đối
với mắt; chính vì có sự xuất ly
của mắt nên chúng sanh vượt
thoát đối với mắt.
Này chư Tỳ khưu, nếu không có vị ngọt
của tai…. Này chư Tỳ khưu, nếu không có vị ngọt của ý thì không có tham luyến đối với ý; chính vì có vị ngọt của ý nên chúng sanh tham luyến đối với ý.
Này chư Tỳ khưu, nếu không có nguy hiểm của ý thì không có nhàm chán đối
với ý; chính vì có sự nguy hiểm
của ý nên chúng sanh nhàm chán
đối với ý.
Này chư Tỳ khưu, nếu không có xuất ly của ý thì không có vượt thoát đối
với ý; chính vì có sự xuất ly
của ý nên chúng sanh vượt thoát
đối với ý.
Này chư Tỳ khưu, cho tới khi nào
chúng sanh chưa trực tiếp biết
rõ vị ngọt là vị ngọt; nguy hiểm
là nguy hiểm; vượt thoát là vượt
thoát đối với sáu nội xứ thì
chưa thể giải thoát khỏi thế
giới gồm chư thiên, ma vương,
phạm thiên cùng với chư vị sa
môn, phạm chí đương thời; chưa
thể buông bỏ, chưa thể giải
thoát, chưa thể sống với tâm tự
tại.
Khi chúng sanh trực tiếp biết rõ tất cả điều ấy như bản chất thật thì mới
có thể giải thoát khỏi thế giới
gồm chư thiên, ma vương, phạm
thiên cùng với chư vị sa môn,
phạm chí đương thời; có thể
buông bỏ, có thể giải thoát, có
thể sống với tâm tự tại.
Kinh “Nếu Không Có”
II
18. “no cedaṃ, bhikkhave, rūpānaṃ assādo abhavissa, nayidaṃ
sattā rūpesu sārajjeyyuṃ. yasmā
ca kho, bhikkhave, atthi rūpānaṃ
assādo, tasmā sattā rūpesu
sārajjanti. no cedaṃ, bhikkhave,
rūpānaṃ ādīnavo abhavissa,
nayidaṃ sattā rūpesu
nibbindeyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi rūpānaṃ
ādīnavo, tasmā sattā rūpesu
nibbindanti. no cedaṃ,
bhikkhave, rūpānaṃ nissaraṇaṃ
abhavissa, nayidaṃ sattā rūpehi
nissareyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi rūpānaṃ
nissaraṇaṃ, tasmā sattā rūpehi
nissaranti. no cedaṃ, bhikkhave,
saddānaṃ... gandhānaṃ...
rasānaṃ... phoṭṭhabbānaṃ...
dhammānaṃ assādo abhavissa,
nayidaṃ sattā dhammesu
sārajjeyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi dhammānaṃ
assādo, tasmā sattā dhammesu
sārajjanti. no cedaṃ, bhikkhave,
dhammānaṃ ādīnavo abhavissa,
nayidaṃ sattā dhammesu
nibbindeyyuṃ. yasmā ca kho,
bhikkhave, atthi dhammānaṃ
ādīnavo, tasmā sattā dhammesu
nibbindanti. no cedaṃ,
bhikkhave, dhammānaṃ nissaraṇaṃ
abhavissa, nayidaṃ sattā
dhammehi nissareyyuṃ. yasmā ca
kho, bhikkhave, atthi dhammānaṃ
nissaraṇaṃ, tasmā sattā dhammehi
nissaranti.
“yāvakīvañca, bhikkhave, sattā imesaṃ channaṃ bāhirānaṃ
āyatanānaṃ assādañca assādato,
ādīnavañca ādīnavato,
nissaraṇañca nissaraṇato
yathābhūtaṃ nābbhaññaṃsu, neva
tāva, bhikkhave, sattā sadevakā
lokā samārakā sabrahmakā
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya nissaṭā
visaññuttā vippamuttā
vimariyādīkatena cetasā
vihariṃsu. yato ca kho,
bhikkhave, sattā imesaṃ channaṃ
bāhirānaṃ āyatanānaṃ assādañca
assādato, ādīnavañca ādīnavato,
nissaraṇañca nissaraṇato
yathābhūtaṃ abbhaññaṃsu, atha,
bhikkhave, sattā sadevakā lokā
samārakā sabrahmakā
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya nissaṭā
visaññuttā vippamuttā
vimariyādīkatena cetasā
viharantī”ti. chaṭṭhaṃ.
Nội dung bài kinh nầy giống như “Kinh “Nếu Không Có I” chỉ khác là thay vì
sáu nội xứ thì được thay bằng
sáu ngoại xứ.
Chú Thích
Như được đề cập trong những bài kinh trước, sự thấy biết được thế giới nội
tại, thế giới ngoại tại với cả
ba phương diện vị ngọt, nguy
hại, phương cách vượt thoát là
có được cái nhìn chân xác toàn
diện. Sự thấy biết xoá tan tất
cả những ảo kiến, ái chấp về
thực tại của cuộc sống. Nhưng
hai bài kinh nầy nói lệ sự nhận
thức mang tính thuyết phục của
hành giả tu tập tuệ quán.
Chính sự tham luyến chứng tỏ có vị ngọt. Không có sự hấp dẫn thì làm gì có
vương vấn.
Chính sự buồn chán chứng tỏ có sự nguy hiểm. Nếu cuộc đời luôn đẹp thì làm
gì có những giọt nước mắt hay
những than thở não lòng.
Chính sự thanh thản do không còn bám chấp với hệ luỵ chứng tỏ khả tính
vượt thoát.
Cả ba phương diện trên đều có thể nhận biết và chuyển hoá cái nhìn đối với
cuộc sống. Người tu tập phải
trực tiếp thấy biết những khía
cạnh nầy qua kinh nghiệm cụ thể.
Từ đó vượt khỏi ảo tưởng của
thái độ lạc quan, bi quan, hay
chấp thủ sai lạc. Những ai thấy
biết thực tướng và không còn ảo
tưởng sẽ đạt đến tâm thái an
nhiên.
Sớ Giải
17-18. pañcame nissaṭāti
nikkhantā. visaññuttāti
nosaṃyuttā. vippamuttāti no
adhimuttā vimariyādīkatena
cetasāti nimmariyādīkatena
cetasā. yañhi kilesajātaṃ vā
vaṭṭaṃ vā appahīnaṃ hoti, tena
sekhānaṃ cittaṃ samariyādīkataṃ
nāma. yaṃ pahīnaṃ, tena
vimariyādīkataṃ. idha pana
sabbaso kilesānañceva vaṭṭassa
ca pahīnattā vimariyādīkatena
kilesavaṭṭamariyādaṃ atikkantena
cittena vihariṃsūti attho.
chaṭṭhepi eseva nayo. chasupi
panetesu suttesu catusaccameva
kathitanti veditabbaṃ.
17-18. Trong bài kinh thứ năm, "nissaṭā" nghĩa là "đã xuất ly".
"Visaññuttā" nghĩa là "không bị
ràng buộc". "Vippamuttā" nghĩa
là "hoàn toàn giải thoát",
"không còn bị lệ thuộc bởi sự
bám víu". "Vimariyādīkatena
cetasā" là tâm không bị giới
hạn, Nimmariyādīkatena cetasā"
là tâm hoàn toàn tự do"
Bất kỳ thứ gì phát sinh từ phiền não (kilesa) hoặc luân hồi (vaṭṭa) chưa
được từ bỏ, thì tâm của những
bậc học (sekhā) được xem là "bị
ràng buộc", "bị giới hạn".
Bất kỳ thứ gì đã được từ bỏ, nhờ đó tâm trở thành "không bị giới hạn",
"giải thoát hoàn toàn".
Ở đây, do đã hoàn toàn từ bỏ cả phiền não (kilesa) và luân hồi (vaṭṭa),
các bậc giải thoát sống với tâm
"không bị giới hạn", vượt qua
mọi ranh giới của phiền não và
luân hồi.
Trong bài kinh thứ sáu cũng áp dụng phương pháp giải thích tương tự.
Trong cả sáu bài kinh này, cần hiểu rằng chỉ có Tứ Diệu Đế được giảng
giải.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
II. Phẩm Song Ðôi
17.V. Nếu Không Có (1) (S.iv,10)
1) ...
2) -- Nếu mắt không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, chúng sanh có
thể không tham luyến mắt. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, mắt có vị
ngọt nên chúng sanh tham luyến mắt.
3) Nếu mắt không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh
có thể không nhàm chán đối với mắt. Và vì rằng mắt có nguy hiểm
nên chúng sanh nhàm chán đối với mắt.
4) Nếu mắt không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh
không có thể xuất ly khỏi mắt. Và vì rằng mắt có xuất ly nên
chúng sanh có xuất ly khỏi mắt.
5-7) Nếu tai không có vị ngọt...
8-10) Nếu mũi không có vị ngọt...
11-13) Nếu lưỡi không có vị ngọt...
14-16) Nếu thân không có vị ngọt...
17) Nếu ý không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có
thể không tham luyến đối với ý. Và vì rằng ý có vị ngọt, này các
Tỷ-kheo, nên chúng sanh có tham luyến đối với ý.
18) Nếu ý không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh
có thể không nhàm chán đối với ý. Và vì rằng ý có nguy hiểm, này
các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có nhàm chán đối với ý.
19) Nếu ý không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh
không xuất ly ra khỏi ý. Và vì rằng ý có sự xuất ly, này các
Tỷ-kheo, nên chúng sanh xuất ly ra khỏi ý.
20) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội
xứ này không như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là
nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo,
các chúng sanh ấy cùng với các thế giới như Thiên giới, Ma giới,
Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư
Thiên và loài Người, đã không sống với tâm được ly chấp trước,
ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.
21) Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ
này đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy
hiểm, xuất ly là xuất ly; cho nên, này các Tỷ-kheo, các chúng
sanh cùng với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên
giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài
Người, đã sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được
giải thoát, không bị giới hạn.
18.VI. Nếu Không Có (2) (S.iv,12)
(Như Kinh trước, chỉ thế vào sáu ngoại xứ: sắc, tiếng, hương,
vị, xúc, pháp, thay cho sáu nội xứ của Kinh trước)
-ooOoo- |