|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 26 tháng 12, 2024 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XXVI. Phẩm Bà La Môn (Brahmaṇavagga) Gồm 41 bài kệ với 40 duyên sự. _ Kệ số 7, 8. (dhp 389, 390)
Chánh văn: (dhp 389)
7. Na brāhmaṇassa pahareyya (dhp 390)
8. Na brāhmaṇass’ etadakiñci
seyyo Thích văn:
Na [phân từ phủ định]
không, chẳng. Việt văn: (pc 389)
7. Chớ đánh vị Phạm chí (pc 390)
8. Đối với vị Phạm chí Chuyển văn: 7. Brāhmaṇassa na pahareyya, brāhmaṇo assa na muñcetha; Brāhmaṇassa hantāraṃ dhī! Yassa muñcati tato dhī! Chờ đánh đập vị bà la môn; Bà la môn chớ trút giận hại người nầy. Xấu hổ thay kẻ đánh đập Phạm chí; Phạm chí trút giận thì xấu hổ hơn.
8. Etaṃ brāhmaṇassa na
akiñci seyyo yadā piyehi manaso nisedho yato yato hiṃsamano
nivattati tato tato dukkhaṃ sammati eva.
Chuyện đó tốt không nhỏ đối với vị bà la môn, là khi nào
ngăn được tâm yêu thích; lúc nào ý não hại được chặn đứng,
đến chừng ấy khổ đau mới lắng yên.
Duyên sự:
Hai bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú ở Jetavanavihāra
gần thành Sāvatthi vì chuyện trưởng lão Sāriputta.
Có nhiều người dân ở tại nơi kia đã tán thán ân đức của
trưởng lão Sāriputta: “ôi! Đức Ngài của chúng ta, hội đủ sức
mạnh kham nhẫn, Ngài không có mải mai sân giận khi những
người khác mắng chửi hay đánh đập”.
Thế rồi, một người bà la môn tà kiến đã hỏi dân chúng:
“Người đó là ai mà không sân giận vậy ?”. Dân chúng trả lời:
“Đó là vị trưởng lão chúng tôi”.
Người bà la môn bảo: “Chọc giận vị ấy cũng sẽ không giận à
?”.
Dân chúng nói: “sẽ không đâu, thưa bà la môn”.
Ông ta nói: “Nếu thế, tôi sẽ chọc giận vị ấy”.
Rồi người bà la môn chờ lúc thấy vị trưởng lão đi vào thành
khất thực, ông ta đã đi phía sau Ngài, dùng bàn tay đánh
mạnh vào giữa lưng Ngài. Trưởng lão Sāriputta vẫn đi tới
không ngoái lại nhìn, chỉ nghĩ: “Việc gì thế ?”. Ngay lúc
ấy, toàn thân của người bà la môn như bị thiêu đốt, ông ta
biết mình đã xúc phạm bậc có đức độ, nên đã nằm mọp dưới
chân vị trưởng lão và sám hối: “Bạch Ngài, xin hãy thứ lỗi
cho con”. Trưởng lão nói: “Chuyện gì thế ?”_ “Vì muốn thử
xem sự kham nhẫn của Ngài nên con đã đánh Ngài”.
Trưởng lão bảo: “Được rồi, ta tha thứ cho ngươi”.
Người bà la môn thưa: “Nếu Ngài chịu tha lỗi cho con, xin
hãy vào nhà của con và thọ nhận thức ăn”. Ông ta cầm lấy cái
bát của trưởng lão rồi đưa trưởng lão về nhà mình và cúng
dường vật thực.
Trong khi ấy, mọi người phẫn nộ đứng trước cửa nhà của người
bà la môn nghĩ rằng: “Đức Ngài của chúng ta không có lỗi gì
mà người nầy đánh. Hắn không thoát khỏi sự trừng phạt. Chúng
ta sẽ giết chết hắn tại đây”.
Trưởng lão đứng lên đi về sau khi nhận lại bình bát trên tay
người bà la môn. Mọi người nhìn thấy hắn đang đi với vị
trưởng lão, họ đã nói: “Bạch Ngài, sau khi cầm lấy bình bát
của Ngài, hãy bảo ông bà la môn trở lại” _ “Chuyện gì thế,
hỡi các cận sự nam” _ “Bạch Ngài, gã bà la môn nầy đã đánh
Ngài, chúng con sẽ trừng trị gã” _ “Thế nhưng các ngươi bị
đánh hay là ta bị đánh ?” _ “Thưa, Ngài bị đánh”.
Trưởng lão nói: “Ông ấy đánh ta, và đã xin tha thứ rồi. Các
người hãy đi về”.
Sau khi giải tán dân chúng, và bảo người bà la môn trở lại,
trưởng lão đã đi về tịnh xá.
Chư tỳ kheo biết chuyện đã phàn nàn: “Sao lại thế ? Trưởng
lão Sāriputta bị ông bà la môn nào đó đánh, lại ngồi trong
nhà của ông ta, nhận vật thực rồi đi về. Bắt đầu từ nay, hễ
đánh trưởng lão được thì sẽ kiêng nể với ai nữa? Ông ta đi
gặp ai cũng đánh cho coi”.
Đức Thế Tôn đi đến hỏi chư tỳ kheo đang ngồi bàn tán việc
gì, chư tỳ kheo trình bày sự việc đến đức Thế Tôn. Ngài nói:
“Nầy chư tỳ kheo, không có việc Bà la môn (A la hán) đánh bà
la môn (chủng sanh). Chỉ có vị Bà la môn tịnh hạnh bị đánh
bởi bà la môn cư sĩ thôi. Sự phẫn nộ đã được nhổ bỏ do thánh
đạo A na hàm rồi (huống gì là thánh đạo A la hán)”.
Nói xong, đức Phật đã thuyết lên hai bài kệ nầy: Na
brāhmaṇassa pahareyya…v.v…tato tato sammatimeva dukkhan’ ti.
Dứt pháp thoại, có nhiều vị tỳ kheo chứng được thánh quả.
Lý giải:
Ở những trường hợp khác, đức Phật dùng danh từ Brāhmaṇa (Bà
la môn, phạm chí) trong ý nghĩa Khīnāsavabrāhmaṇa (vị bà la
môn lậu tận, tức là vị A la hán). Nhưng ở đây trong hai kệ
ngôn nầy, mạch văn dùng từ Brāhmaṇa với động từ khả năng
cách…thì nên hiểu nghĩa là pabbajitabrāhmaṇa (vị bà la môn
tu sĩ tức là vị tỳ kheo).
Câu nói: “Chớ đánh bà la môn” (na brāhmaṇassa pahareyya),
nghĩa là người cư sĩ không nên đánh đập vị tu sĩ, không nên
đánh đập bậc xuất gia.
Câu nói: “vị Phạm chí chớ trút giận lại người nầy” (na assa
muñcetha brāhmaṇo) nghĩa là vị xuất gia khi bị người khác
đánh đạp hay mắng chửi, cũng không nên nỗi giận đánh lại
(appaṭipaharanaṃ), mắng chửi lại (apacccakkosanaṃ) người đã
đánh mình, mắng chửi mình.
Câu nói: “Xấu hổ thay kẻ đánh phạm chí” (dhī brāhmaṇassa
hantaraṃ), nghĩa là một người cư sĩ mà mắng chửi hay đánh
đập một vị tu hành, thật đáng mắc cỡ; người ấy sẽ bị người
đời chê trách và sau phải lãnh quả nghiệp xấu.
Câu nói: “Phạm chí trút giận thì xấu hổ hơn” (tato dhī yo
assa muñcati) nghĩa là vị tu sĩ nào mà khi bị người mắng
liền nổi giận mắng lại, hay khi bị người khác đánh đập liền
nổi giận đánh lại, thật xấu hổ hơn người đánh mắng mình, vì
mọi người sẽ nghĩ rằng một vị xuất gia phải kềm chế sân hận,
không chửi người khác, không đánh người khác, mà vị nầy nổi
sân mắng trả hay đánh trả, thật không đáng kính trọng.
Ở kệ ngôn pháp cú 390, đức Phật dạy chư tỳ kheo về hiệu năng
tu tâp của vị xuất gia.
Câu nói: “Đối với vị Phạm chí điều nầy lợi không nhỏ” (Na
brāhmaṇassa etaṃ akiñci seyyo). Điều nầy hay điều đó (etaṃ)
là điều mà một vị xuất gia, vị tu sĩ, kềm chế tâm hiềm hận
khi bị người ta đánh đập hay mắng chửi. Lợi không nhỏ (na
akiñci seyyo) nghĩa là sự nhiếp phục sân tâm có lợi ích lớn,
không phải ít ỏi, nhỏ nhen (appamattakam giải thích cho từ
akiñci).
Câu nói: “khi nào ngăn chặn được tâm yêu thích” (yadā
nisedho manaso piyehi). Hể có thương thì có ghét, có yêu thì
có hận; thương yêu là nhân sanh thù hận, do đó ngăn chặn
được tâm yêu thích thì không có tâm phẫn nộ.
Câu nói: “Đến chừng nào ý não hại được chặn đứng thì đến
chừng ấy khổ đau mới lắng yên” (yato yato hiṃsamano
nivattati tato tato sammati eva dukkhaṃ). Hiṃsamano’ ti
kodhamano, gọi là ý não hại tức tâm phẫn nộ. Có hai thứ khổ:
khổ thuộc về thân (kāyikadukkhaṃ) và khổ thuộc về tâm
(cetasikadukkhaṃ); chúng sanh phàm phu bị hai mũi tên là khổ
thân và khổ tâm, bậc thánh A na hàm và thánh A la hán chỉ có
khổ thân chớ không còn khổ tâm. Tâm sân đã được đoạn trừ bởi
thánh đạo A na hàm rồi nói chi đến thánh đạo A la hán!
Khi hận tâm không còn thì khổ đau chấm dứt tức là dứt khổ
sầu, và dứt khổ luân hồi (vaṭṭadukkhaṃ nivattati_y_eva)./. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |