BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 06 tháng 12, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46. Tương Ưng Giác Chi - Phẩm Bệnh - SN 46. 14, 15, 16
Bài 564.TÂM LỰC HOÁ GIẢI THÂN BỆNH - Ba Bài Kinh Về Hiệu Ứng Đặc Biệt Của Giác Chi: Kinh Thân Bệnh I (Paṭhamagilānasuttaṃ), Kinh Thân Bệnh II (Dutiyagilānasuttaṃ), Kinh Thân Bệnh III (Tatiyamagilānasuttaṃ).
... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-564.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Ba bài kinh “Thân Bệnh” trong Bojjhaṅgasaṃyutta hé mở một chiều kích đặc biệt của giáo pháp: sự giao thoa giữa nội lực của bảy giác chi và sức khỏe thân tâm của bậc Thánh. Trong cả ba trường hợp—Tôn giả Mahākassapa, Tôn giả Mahāmoggallāna và chính Đức Thế Tôn—ta thấy một nguyên tắc vận hành nhất quán: khi tâm an trú trong niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả, thì năng lực thanh tịnh ấy lan tỏa, điều hòa tứ đại, làm tan biến các rối loạn của thân.

Kinh Văn

Kinh Thọ Bệnh I 

195. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. tena kho pana samayena āyasmā mahākassapo pippaliguhāyaṃ {vipphaliguhāyaṃ (sī.)} viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. nisajja kho bhagavā āyasmantaṃ mahākassapaṃ etadavoca — “kacci te, kassapa, khamanīyaṃ kacci yāpanīyaṃ? kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṃ paññāyati, no abhikkamo”ti? “na me, bhante, khamanīyaṃ, na yāpanīyaṃ. bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṃ paññāyati, no paṭikkamo”ti. “sattime, kassapa, bojjhaṅgā mayā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattanti. katame satta? satisambojjhaṅgo kho, kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgo kho, kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. ime kho, kassapa, satta bojjhaṅgā mayā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattantī”ti. “taggha, bhagavā, bojjhaṅgā; taggha, sugata, bojjhaṅgā”ti. idamavoca bhagavā. attamano āyasmā mahākassapo bhagavato bhāsitaṃ abhinandi. vuṭṭhahi cāyasmā mahākassapo tamhā ābādhā. tathāpahīno cāyasmato mahākassapassa so ābādho ahosīti. catutthaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn đang ngự ở thành Rājagaha, tại Trúc Lâm – trong khu bảo hộ các loài sóc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa đang sống trong Hang Pipphali, lâm trọng bệnh, thân chịu khổ thọ nặng nề.

Vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi thiền định, Đức Thế Tôn đi đến chỗ Tôn giả Mahākassapa, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và dạy rằng:

“Kassapa, ta mong rằng thầy chịu đựng được, ta mong rằng bệnh tình thầy thuyên giảm. Ta mong rằng những cảm thọ đau đớn đang giảm bớt chứ không tăng lên;
và rằng sự giảm bớt ấy có thể được ghi nhận, chứ không phải sự tăng trưởng.”

Tôn giả Mahākassapa thưa:

“Bạch Thế Tôn, bệnh con không thuyên giảm mà càng lúc càng nặng thêm
Những cảm thọ khổ của thân  đang tăng mạnh và sự tăng trưởng ấy chứ không phải sự giảm bớt có thể được ghi nhận.”

Đức Thế Tôn liền dạy:

Này Kassapa, bảy giác chi này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Trạch pháp giác chi, …

Tinh tấn giác chi, …

Hỷ giác chi, …

Khinh an giác chi, …

Định giác chi, …

Xả giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Bảy giác chi này, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.Tôn giả Mahākassapa hoan hỷ thốt lên:

“Bạch Thế Tôn, đúng là những pháp giác ngộ!
Đúng thật là những pháp giác ngộ!”

Khi nghe pháp này, tâm Tôn giả Mahākassapa trở nên hoan hỷ, phấn chấn, và Ngài liền lành bệnh. Bằng cách ấy, Tôn giả Mahākassapa được chữa khỏi.


Kinh Thọ Bệnh II 

196. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. tena kho pana samayena āyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭe pabbate viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. nisajja kho bhagavā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ etadavoca — “kacci te, moggallāna, khamanīyaṃ kacci yāpanīyaṃ? kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṃ paññāyati, no abhikkamo”ti? “na me, bhante, khamanīyaṃ, na yāpanīyaṃ. bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṃ paññāyati, no paṭikkamo”ti. “sattime, moggallāna, bojjhaṅgā mayā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattanti. katame satta? satisambojjhaṅgo kho, moggallāna, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgo kho, moggallāna, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. ime kho, moggallāna, satta bojjhaṅgā mayā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattantī”ti. “taggha, bhagavā, bojjhaṅgā; taggha, sugata, bojjhaṅgā”ti. idamavoca bhagavā. attamano āyasmā mahāmoggallāno bhagavato bhāsitaṃ abhinandi. vuṭṭhahi cāyasmā mahāmoggallāno tamhā ābādhā. tathāpahīno cāyasmato mahāmoggallānassa so ābādho ahosīti. pañcamaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn đang ngự ở thành Rājagaha, tại Trúc Lâm – trong khu bảo hộ các loài sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Đại Moggallāna, đang ở núi Linh Thứu, lâm trọng bệnh, thân chịu khổ thọ nặng nề.

[Đức Thế Tôn lại đến thăm, và giảng bảy giác chi tương tự như Ngài đã giảng cho Mahākassapa.]

Với sự hoan hỷ khi nghe pháp, Tôn giả Mahāmoggallāna liền lành bệnh. Bằng cách ấy, Tôn giả Moggallāna được chữa khỏi.

16. Kinh Thọ Bệnh III 

197. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. tena kho pana samayena bhagavā ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. atha kho āyasmā mahācundo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ mahācundaṃ bhagavā etadavoca — “paṭibhantu taṃ, cunda, bojjhaṅgā”ti. “sattime, bhante, bojjhaṅgā bhagavatā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattanti. katame satta? satisambojjhaṅgo kho, bhante, bhagavatā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgo kho, bhante, bhagavatā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. ime kho, bhante, satta bojjhaṅgā bhagavatā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattantī”ti. “taggha, cunda, bojjhaṅgā; taggha, cunda, bojjhaṅgā”ti. idamavocāyasmā cundo. samanuñño satthā ahosi. vuṭṭhahi ca bhagavā tamhā ābādhā. tathāpahīno ca bhagavato so ābādho ahosīti. chaṭṭhaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn đang ngự ở thành Rājagaha, tại Trúc Lâm – trong khu bảo hộ các loài sóc. Lúc bấy giờ chính Đức Thế Tôn lâm trọng bệnh, thân chịu khổ thọ nặng nề. Tôn giả Mahācunda đến đảnh lễ và ngồi sang một bên.
Đức Thế Tôn nói với Ngài:

“Này Cunda, hãy tụng đọc thất giác chi.”

Tôn giả Mahācunda liền tụng:

“Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này đã được Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, do Đức Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Trạch pháp giác chi, …

Tinh tấn giác chi, …

Hỷ giác chi, …

Khinh an giác chi, …

Định giác chi, …

Xả giác chi,  do Đức Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

[Đức Thế Tôn tán thán:]

“Tốt lắm, Cunda. Chắc chắn đó là những yếu tố giác ngộ! Chắc chắn đó là những yếu tố giác ngộ!”

Sau khi nghe tụng như vậy, Đức Thế Tôn liền lành bệnh. Bằng cách ấy, Ngài được chữa khỏi.

Chú Thích

 Ba bài kinh đều đề cập về sức mạnh của tâm có thể hoá giải thân bệnh. Cả ba trường hợp (Tôn giả Mahākassapa, Tôn giả Mahāmoggallāna và chính Đức Thế Tôn) đều bình phục ngay sau khi nghe hoặc quán niệm về bảy giác chi. Điều này không phải phép màu mà phản ánh tác động trực tiếp của tâm đối với thân. Khi tâm được tác động bởi:niệm mạnh, trạch pháp rõ ràng, hỷ khởi lên, khinh an lan tỏa, thì các cảm thọ khổ giảm bớt, khiến năng lực thân thể được hồi phục. Tâm an tịnh và hoan hỷ có khả năng điều chỉnh hệ thần kinh, hơi thở, máu huyết, từ đó làm nhẹ bệnh thân. Đây là một trong những bằng chứng sớm hất cho thấy vai trò trị liệu của thiền định trong Phật giáo.

Nên ghi nhận theo Tam Tạng Pali các bậc Thánh hoàn toàn giác ngộ vẫn có thân bệnh. Dù đã đoạn tận lậu hoặc, các bậc a la hán vẫn mang thân ngũ uẩn, và thân ấy vẫn chịu chi phối bởi: vô thường, biến hoại, thời tiết, nghiệp cũ. Do đó, bệnh thân là điều tự nhiên, không mâu thuẫn với giác ngộ. Kinh cho thấy Mahākassapa, Mahāmoggallāna và Đức Phật đều trải qua bệnh tật. Điều này nhắc rõ rằng giác ngộ không xóa bỏ quy luật sinh–lão–bệnh–tử của thân, mà chỉ đoạn trừ khổ tâm, không còn dính mắc vào thân bệnh.

Điều cần chiêm nghiệm là tác ý về các giác chi đối với A-la-hán vẫn tạo nên năng lực nhiệm mầu. Dù A-la-hán đã giải thoát, việc quán niệm, tụng đọc, hoặc tác ý đến bảy giác chi vẫn mang sức mạnh lớn: vì đó là những pháp thanh tịnh, là nền tảng cho sự an tịnh của tâm, và khơi dậy “động lực giải thoát” vốn đã hoàn thiện trong các Ngài. Sự “nhiệm mầu” không phải thần thông, mà là sự cộng hưởng của tâm đã hoàn toàn tinh khiết với các pháp đưa đến giải thoát, giống như kim loại quý phản ứng mạnh với ánh sáng. Nghị lực tinh thần nơi bậc Thánh tạo ra sự chuyển hóa nhanh chóng, dẫn đến thân thể được phục hồi.

Ba bài kinh được gom thành kinh cầu an – tạo nên truyền thống tụng niệm cho người bệnh. Truyền thống Phật giáo nhiều nước (Sri Lanka, Thái Lan, Miến Điện) đều gom chung ba bài kinh này thành một bản kinh cầu an, vì nội dung xoay quanh việc bệnh được giảm trừ nhờ pháp giác ngộ. Khi tụng đọc cho người bệnh: nghĩa lý của bảy giác chi, sự thanh tịnh của pháp, năng lượng chánh niệm và hỷ
tạo ra hiệu ứng tích cực trong tâm người bệnh. Không chỉ nhờ lời kinh, mà nhờ niềm tin, sự xúc động, và sự an tịnh được khởi lên. Vì thế, ba bài kinh này trở thành kinh văn truyền thống để cầu an – chữa bệnh, mang lại an ổn cho cả thân lẫn tâm, dựa trên hiệu lực của pháp, không phải tín ngưỡng huyền bí.

Sớ Giải

195–201. catutthe tathā pahīno cāyasmato mahākassapassa so ābādho ahosīti therassa kira imaṃ bojjhaṅgabhāvanaṃ sādhukaṃ suṇantassa etadahosi “mayhaṃ pabbajitadivasato sattame divase saccāni paṭivijjhantassa ime bojjhaṅgā pātubhūtā”ti. athassa “niyyānikaṃ vata satthusāsanan”ti cintayato lohitaṃ pasīdi, upādārūpaṃ visuddhaṃ ahosi, pokkharapatte patitaudakabindu viya sarīrato rogo vinivattitvā gato. tena vuttaṃ “tathā pahīno cāyasmato mahākassapassa so ābādho ahosī”ti. pañcamachaṭṭhesupi eseva nayo. imesaṃ pana tiṇṇampi janānaṃ pabbatapāde pupphitavisarukkhavātasamphassena uppanno mandasītajaro ābādhoti veditabbo. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

195–201.
Trong bài kinh thứ tư, câu “như vậy bệnh ấy được đoạn trừ nơi Tôn giả Mahākassapa” có nghĩa là thế này: Khi vị Trưởng lão đang chăm chú lắng nghe sự tu tập bảy giác chi này, liền khởi lên ý nghĩ: “Đối với ta, vào ngày thứ bảy kể từ ngày xuất gia, khi ta chứng đạt chánh trí, thì chính những giác chi này đã xuất hiện.” Khi đang suy nghĩ rằng: “Lời dạy của bậc Đạo Sư thật là đưa ra khỏi sanh tử (samsāra).” thì máu (lohita) trở nên nhuận, các sắc pháp được tạo bởi vật thực (upādārūpa) trở nên thanh tịnh, và bệnh rời khỏi thân như giọt nước rơi khỏi lá sen. Do vậy mà nói rằng: “Như thế, bệnh ấy được đoạn trừ nơi Tôn giả Mahākassapa.”

Cũng như vậy trong bài kinh thứ năm và thứ sáu.

Còn về ba vị này, thì bệnh của các ngài cần được hiểu là: một chứng bệnh  do hơi lạnh,  và cũng là dị ứng phát sinh bởi sự xúc chạm của gió mang phấn hoa từ những cây rừng đang nở, ở chân núi.

Những bài kinh còn lại ý nghĩa quá rõ ràng không cần chú thích thêm.

PHỤ LỤC KINH THẤT GIÁC CHI TỤNG CHO NGƯỜI BỆNH

Bojjhaṅgo satisaṅkhāto,
dhammānaṃ vicayo tathā;
viriyaṃ pīti-passaddhi,
bojjhaṅgā ca tathāpare.

Samādhi-upekkhā-bojjhaṅgā,
satt’ete sabbadassinā;
muninā sammadakkhātā,
bhāvitā bahulīkatā.

Saṃvattanti abhiññāya,
nibbānāya ca bodhiyā;
etena saccavajjena,
sotthi te hotu sabbadā.

Bày giác chi gồm có:
Niệm giác chi, Trạch pháp;
Cần, và Hỷ giác chi,
Khinh an, định giác chi,
Cùng với  Xả giác chi,
Được chính bậc Toàn Giác ;
Bậc Mâu-ni thiện thuyết,
Khéo tu tập  sung mãn.
Khiến thành tựu thắng trí,
Giác ngộ và Niết-bàn,
Nguyện do chân ngôn nầy,
Xin cát tường tịnh lạc.

Ekasmiṃ samaye nātho,
Moggallānañ ca Kassapaṃ;
gilāne dukkhite disvā,
bojjhaṅge satta desayi.

Te ca taṃ abhinanditvā,
rogā mucciṃsu taṅkhaṇe;
etena saccavajjena,
sotthi te hotu sabbadā.

Ekadā Dhamma-rājā pi,
gelaññena abhipīḷito;
bojjhaṅge satta desesi,
cundattherena bhāsito.

Te ca taṃ abhinanditvā,
ābādhā tamhā vigacchisuṃ;
etena saccavajjena,
sotthi te hotu sabbadā.

Một thời, Đấng Cứu Thế
thấy Tôn giả Kassapa
và Mahāmoggallāna
với thân bệnh trầm trọng;
Ngài thuyết thất giác chi.
Khi lắng nghe hoan hỷ,
Các vị liền khỏi bệnh;
Nguyện do chân ngôn nầy,
Được vạn sự cát tường.

Một thuở, Đấng Pháp Vương
Cũng lâm bệnh trầm trọng
Phật dạy ngài Cunda
Tụng đọc thất giác chi,
Sau khi nghe tụng đọc,
cơn bệnh liền tiêu tan;
Nguyện do chân ngôn nầy,
Được vạn sự cát tường.

Pahīnā te ca ābādhā,
tiṇṇannam pi mah’esehi;
Bojjhaṅga-guna-mantānaṃ,
katā te parimuttiyā.

Etena sacca-vajjena,
sotthi te hotu sabbadā;


Cả ba bậc đại thánh
Do nghe Thất giác chi
Pháp dẫn tới giải thoát
Bệnh tình chấm dứt hẳn
Nguyện do chân ngôn nầy,
Được vạn sự cát tường.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 _____________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

II. Phẩm Về Bệnh

14.IV. Bệnh (1) (S.v,79)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa trú ở hang Pipphalì, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.

3) Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

4) Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa :

-- Này Kassapa, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không có tăng trưởng?

-- Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không có giảm thiểu.

5) -- Này Kassapa, bảy giác chi này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn...

Xả giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Bảy giác chi này, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

-- Thật vậy, bạch Thế Tôn, chúng là giác chi. Thật vậy, bạch Thiện Thệ, chúng là giác chi.

6) Thế Tôn thuyết như vậy, Tôn giả Mahà Kassapa hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và Tôn giả Mahà Kassapa được thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Tôn giả Mahà Kassapa được đoạn tận như vậy.

15.V. Bệnh (2) (S.v,80)

1-6) (Hoàn toàn giống kinh trên, chỉ khác đây là trường hợp ngài Mahà Moggalàna).

16.VI. Bệnh (3) (S.v,81)

1) Một thời Thế Tôn ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.

3) Rồi Tôn giả Mahà Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4) Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Cunda đang ngồi một bên :

-- Này Cunda, hãy thuyết về giác chi.

5) -- Bạch Thế Tôn, có bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Bạch Thế Tôn, niệm giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn... Bạch Thế Tôn, xả giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

-- Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi. Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi.

6) Tôn giả Mahà Cunda thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Và Thế Tôn thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Thế Tôn được đoạn tận như vậy. (Kinh Hán Tạng: Tăng, Ðại 2,73la)