|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 11 tháng 12, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 568.BA BÀI KINH VỀ TUỆ GIÁC - Kinh Đưa Đến Giác Ngộ (bodhāyasuttaṃ) Kinh Giảng Về Tuệ Giác ( bojjhaṅgadesanāsuttaṃ) Kinh Nền Tảng Tuệ Giác (ṭhāniyasuttaṃ) ... .
Tâm phát
triển theo điều mà nó thường xuyên chú ý đến. Nếu chú ý đến nền
tảng của dục, dục sẽ sinh và tăng. Nếu chú ý đến nền tảng của
sân, sân sẽ sinh và tăng. Cũng vậy đối với hôn trầm, trạo cử,
hối quá và nghi. Ngược lại, khi chú ý đến những điều làm nền
tảng cho giác chi, thìgiác chi c hưa sinh sẽ sinh, giác chi đã
sinh sẽ tăng trưởng và thành tựu. Điều này cho thấy giác chi
cũng không sinh một cách thần bí, mà nhờ đặt tâm đúng chỗ. Tác ý
chân chánh (yoniso manasikāra) chính là chìa khóa mở ra bảy giác
chi. Cách tu tập của hành giả là nhận biết triền cái ngay khi
chúng manh nha rồi chuyển hướng tâm sang nền tảng của giác chi.
Đi đúng theo lộ trình viễn ly, ly tham, đoạn diệt, giải thoát
Kinh Đưa Đến Giác
Ngộ (bodhāyasuttaṃ)
204-206. tatiye
kāmarāgaṭṭhāniyānanti kāmarāgassa kāraṇabhūtānaṃ
ārammaṇadhammānaṃ. byāpādaṭṭhāniyādīsupi eseva nayo. sakalañhi
idaṃ suttaṃ ārammaṇeneva kathitaṃ. paṭhamavaggassa dutiyasutte
vuttaparicchedopettha labbhateva. catutthe missakabojjhaṅgā
kathitā. pañcame aparihāniye dhammeti aparihānikare
sabhāvadhamme. 204-206. tatiye kāmarāgaṭṭhāniyānanti kāmarāgassa
kāraṇabhūtānaṃ ārammaṇadhammānaṃ. byāpādaṭṭhāniyādīsupi eseva
nayo. sakalañhi idaṃ suttaṃ ārammaṇeneva kathitaṃ.
paṭhamavaggassa dutiyasutte vuttaparicchedopettha labbhateva.
catutthe missakabojjhaṅgā kathitā. pañcame aparihāniye dhammeti
aparihānikare sabhāvadhamme.
Bấy giờ một Tỳ khưư đi đến Thế Tôn…. Ngồi xuống một bên, Tỳ khưư ấy bạch
Thế Tôn:
“Này Tỳ khưu, chúng đưa đến giác ngộ, do vậy chúng được gọi là các giác
chi.
203. “satta vo, bhikkhave,
bojjhaṅge desessāmi; taṃ suṇātha. katame ca, bhikkhave, satta
bojjhaṅgā? satisambojjhaṅgo ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgo — ime
kho, bhikkhave, satta bojjhaṅgā”ti. dutiyaṃ.
“Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ông về bảy giác chi. Hãy lắng nghe
điều ấy….”
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là bảy giác chi?
{kāmarāgaṭṭhānīyānaṃ (sī.)}
bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā anuppanno ceva
kāmacchando uppajjati, uppanno ca kāmacchando bhiyyobhāvāya
vepullāya saṃvattati. byāpādaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ
manasikārabahulīkārā anuppanno ceva byāpādo uppajjati, uppanno
ca byāpādo bhiyyobhāvāya vepullāya saṃvattati.
thinamiddhaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ
manasikārabahulīkārā anuppannañceva thinamiddhaṃ uppajjati,
uppannañca thinamiddhaṃ bhiyyobhāvāya vepullāyaṃ saṃvattati.
uddhaccakukkuccaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ
manasikārabahulīkārā anuppannañceva uddhaccakukkuccaṃ uppajjati,
uppannañca uddhaccakukkuccaṃ bhiyyobhāvāya vepullāya saṃvattati.
vicikicchāṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā
anuppannā ceva vicikicchā uppajjati, uppannā ca vicikicchā
bhiyyobhāvāya vepullāya saṃvattati.
“satisambojjhaṅgaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ
manasikārabahulīkārā anuppanno ceva satisambojjhaṅgo uppajjati,
uppanno ca satisambojjhaṅgo bhāvanāpāripūriṃ gacchati ... pe ...
upekkhāsambojjhaṅgaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ
manasikārabahulīkārā anuppanno ceva upekkhāsambojjhaṅgo
uppajjati, uppanno ca upekkhāsambojjhaṅgo bhāvanāpāripūriṃ
gacchatī”ti. tatiyaṃ.
“Này các Tỳ khưu, do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho
dục khả ái, thì dục chưa sinh sẽ sinh, và dục đã sinh sẽ tăng
trưởng và lan rộng.
“Này các Tỳ khưu, do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho
niệm giác chi, thì niệm giác chi chưa sinh sẽ sinh, và niệm giác
chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho trạch pháp giác
chi, thì trạch pháp giác chi chưa sinh sẽ sinh, và trạch pháp
giác chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho cần giác chi, thì
cần giác chi chưa sinh sẽ sinh, và cần giác chi đã sinh sẽ được
viên mãn nhờ tu tập.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho hỷ giác chi, thì
hỷ giác chi chưa sinh sẽ sinh, và hỷ giác chi đã sinh sẽ được
viên mãn nhờ tu tập.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho khinh an giác
chi, thì khinh an giác chi chưa sinh sẽ sinh, và khinh an giác
chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho định giác chi,
thì định giác chi chưa sinh sẽ sinh, và định giác chi đã sinh sẽ
được viên mãn nhờ tu tập.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho xả giác chi, thì
xả giác chi chưa sinh sẽ sinh, và xả giác chi đã sinh sẽ được
viên mãn nhờ tu tập.”
Chú Thích
Câu hỏi của vị Tỳ khưu: “Vì sao gọi là giác chi?” Đây là câu hỏi thuộc
nhóm định nghĩa về danh (nāma), nhằm làm rõ ý nghĩ của thuật
ngữ. Đức Phật giải thích bằng quả (phala):“Vì chúng dẫn đến giác
ngộ (bodhi) nên gọi là giác chi.”
Tính chất “dẫn đạo giác ngộ” Kinh cho ta một định nghĩa: Bojjhaṅga là các
yếu tố tâm lý đưa tiến trình tuệ giác đến viên mãn. Điều này
giúp phân biệt giác chi với các pháp khác trong bodhipakkhiya.
Bojjhaṅga là nhóm yếu tố ở giai đoạn cao của tuệ quán, xuất hiện mạnh nhất
trong mười sáu tuệ Minh sát (vipassanā-ñāṇa), đặc biệt trong tuệ
thứ mười sáu: tuệ xả.
Theo Sớ Giải thì trong lời tuyên thuyết giản yếu Đức Phật chỉ đơn giản đọc
tên bảy giác chi — đây là dạng kinh dùng để thuộc lòng, để tụng
đọc hằng ngày.
1.
Niệm giác chi (sati-saṃbojjhaṅga)
2.
Trạch pháp giác chi
(dhammavicaya-saṃbojjhaṅga)
3.
Tinh tấn giác chi (viriya-saṃbojjhaṅga)
4.
Hỷ giác chi (pīti-saṃbojjhaṅga)
5.
Khinh an giác chi
(passaddhi-saṃbojjhaṅga)
6.
Định giác chi (samādhi-saṃbojjhaṅga)
7.
Xả giác chi (upekkhā-saṃbojjhaṅga)
nhằm:
Kinh thứ ba trình bày hai loại đối tượng tác ý (manasikāra):
Đây là quy luật tương tác giữa tâm và cảnh.
Đức Phật dùng cùng một cấu trúc cho cả năm: “Bằng cách thường xuyên chú ý
đến điều là nền tảng cho dục, dục chưa sinh sẽ sinh; dục đã sinh
sẽ tăng trưởng.”
Tương tự với:
Điểm cốt lõi: triền cái không tự nhiên sinh, mà do tác ý sai lầm.
Ngược lại, khi tác ý đến nền tảng của giác chi, thì:
Mỗi giác chi đều có “điều kiện nền tảng” (upanissaya). Kinh dạy một phương
pháp cực kỳ quan trọng: Hãy biết rõ điều gì nuôi dưỡng triền
cái, và điều gì nuôi dưỡng giác chi.
Đây chính là cốt lõi của Chánh Tinh Tấn và Tứ Chánh Cần.
Sớ Giải
204-206. tatiye
kāmarāgaṭṭhāniyānanti kāmarāgassa kāraṇabhūtānaṃ
ārammaṇadhammānaṃ. byāpādaṭṭhāniyādīsupi eseva nayo. sakalañhi
idaṃ suttaṃ ārammaṇeneva kathitaṃ. paṭhamavaggassa dutiyasutte
vuttaparicchedopettha labbhateva. catutthe missakabojjhaṅgā
kathitā. pañcame aparihāniye dhammeti aparihānikare
sabhāvadhamme.
Giải thích các bài kinh 204–206
1. “tatiye kāmarāgaṭṭhāniyānanti kāmarāgassa kāraṇabhūtānaṃ
ārammaṇadhammānaṃ.”
kāmarāga-ṭṭhāniya = “những
pháp làm chỗ đứng (nơi nương) cho tham dục.” Chú giải nói rằng:
Đây là các pháp làm duyên (kāraṇabhūta) cho kāmarāga khởi lên;
tức là các đối tượng (ārammaṇa-dhamma) thuộc dục giới mà khi
tiếp xúc, người chưa đoạn trừ tham sẽ sinh dục ái. Nghĩa là: Ở
bài kinh thứ ba, từ “những chỗ trụ của tham dục” được hiểu chính
là các đối tượng khả ái khả hỷ, đóng vai trò điều kiện cho tham
dục phát sanh.
“byāpādaṭṭhāniyādīsupi eseva nayo.”
Cách giải thích này cũng áp dụng y như vậy đối với: byāpāda-ṭṭhāniya = các
pháp làm chỗ nương cho sân hận. thāna tương tự cho các triền cái
còn lại. Tức là các pháp giúp nuôi dưỡng – duy trì – khơi lên
những bất thiện căn như sân, hôn trầm, trạo cử, nghi đều phải
hiểu là các đối tượng có khả năng kích hoạt các tâm bất thiện
tương ứng.
3. “sakalañhi idaṃ suttaṃ ārammaṇeneva kathitaṃ.”
Nghĩa là toàn bộ bài kinh này được trình bày theo phương diện đối tượng
(ārammaṇa) mà nói, nghĩa là dựa trên cái mà tâm nương vào để
phát sinh tham, sân, si. Điểm chính: Đức Phật không nói về nội
tâm trước, mà nói về cảnh kích hoạt nội tâm.
4. “paṭhamavaggassa dutiyasutte vuttaparicchedopettha
labbhateva.”
Bài thứ hai của chương đầu (Paṭhamavagga). Ý muốn nói: Các hạng đối tượng, các duyên, các phạm vi đã được giải
thích trong bài trước đều có thể áp dụng cho bài hiện tại. Đây
là cách chú giải quy chiếu để tránh lặp lại.
5. “catutthe missakabojjhaṅgā kathitā.”
Ở bài kinh thứ tư, Đức Phật nói về –
“bảy giác chi hỗn hợp”, tức
là:
6. “pañcame aparihāniye dhammeti aparihānikare
sabhāvadhamme.”
Trong bài kinh thứ năm, Đức Phật nói về aparihāniya-dhamma = “những pháp
không đưa đến thoái đọa.” Chú giải giải thích: Đây là các pháp
có bản chất (sabhāva-dhamma) làm cho hành giả không bị thối
giảm, mà tiếp tục tiến triển, tăng trưởng trên đạo lộ. Chúng là:
Những thiện pháp có khả năng bảo hộ tâm,
|