BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 11 tháng 12, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46. Tương Ưng Giác Chi - Phẩm Udàdì - SN 46. 21,22,23
Bài 568.BA BÀI KINH VỀ TUỆ GIÁC - Kinh Đưa Đến Giác Ngộ (bodhāyasuttaṃ) Kinh Giảng Về Tuệ Giác ( bojjhaṅgadesanāsuttaṃ) Kinh Nền Tảng Tuệ Giác (ṭhāniyasuttaṃ)
 ... .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Tâm phát triển theo điều mà nó thường xuyên chú ý đến. Nếu chú ý đến nền tảng của dục, dục sẽ sinh và tăng. Nếu chú ý đến nền tảng của sân, sân sẽ sinh và tăng. Cũng vậy đối với hôn trầm, trạo cử, hối quá và nghi. Ngược lại, khi chú ý đến những điều làm nền tảng cho giác chi, thìgiác chi c hưa sinh sẽ sinh, giác chi đã sinh sẽ tăng trưởng và thành tựu. Điều này cho thấy giác chi cũng không sinh một cách thần bí, mà nhờ đặt tâm đúng chỗ. Tác ý chân chánh (yoniso manasikāra) chính là chìa khóa mở ra bảy giác chi. Cách tu tập của hành giả là nhận biết triền cái ngay khi chúng manh nha rồi chuyển hướng tâm sang nền tảng của giác chi. Đi đúng theo lộ trình viễn ly, ly tham, đoạn diệt, giải thoát
Kinh Văn

Kinh Đưa Đến Giác Ngộ (bodhāyasuttaṃ)

204-206. tatiye kāmarāgaṭṭhāniyānanti kāmarāgassa kāraṇabhūtānaṃ ārammaṇadhammānaṃ. byāpādaṭṭhāniyādīsupi eseva nayo. sakalañhi idaṃ suttaṃ ārammaṇeneva kathitaṃ. paṭhamavaggassa dutiyasutte vuttaparicchedopettha labbhateva. catutthe missakabojjhaṅgā kathitā. pañcame aparihāniye dhammeti aparihānikare sabhāvadhamme. 204-206. tatiye kāmarāgaṭṭhāniyānanti kāmarāgassa kāraṇabhūtānaṃ ārammaṇadhammānaṃ. byāpādaṭṭhāniyādīsupi eseva nayo. sakalañhi idaṃ suttaṃ ārammaṇeneva kathitaṃ. paṭhamavaggassa dutiyasutte vuttaparicchedopettha labbhateva. catutthe missakabojjhaṅgā kathitā. pañcame aparihāniye dhammeti aparihānikare sabhāvadhamme.

Bấy giờ một Tỳ khưư đi đến Thế Tôn…. Ngồi xuống một bên, Tỳ khưư ấy bạch Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, được nói rằng: ‘các giác chi, các giác chi.’ Theo nghĩa nào chúng được gọi là các giác chi?”

“Này Tỳ khưu, chúng đưa đến giác ngộ, do vậy chúng được gọi là các giác chi.
Ở đây, này Tỳ khưư, một vị tu tập niệm giác chi, vốn được đặt trên viễn ly, trên ly tham, trên đoạn diệt, chín muồi trong xả ly…. Một vị tu tập xả giác chi, vốn được đặt trên viễn ly, trên ly tham, trên đoạn diệt, chín muồi trong xả ly.
Này Tỳ khưu, chúng đưa đến giác ngộ, do vậy chúng được gọi là các giác chi.”


 Kinh Giảng Về Tuệ Giác ( bojjhaṅgadesanāsuttaṃ)

203. “satta vo, bhikkhave, bojjhaṅge desessāmi; taṃ suṇātha. katame ca, bhikkhave, satta bojjhaṅgā? satisambojjhaṅgo ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgo — ime kho, bhikkhave, satta bojjhaṅgā”ti. dutiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ông về bảy giác chi. Hãy lắng nghe điều ấy….”

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là bảy giác chi?
Niệm giác chi … xả giác chi. Đây là bảy giác chi.” [84]


 Kinh Nền Tảng Tuệ Giác (ṭhāniyasuttaṃ)

{kāmarāgaṭṭhānīyānaṃ (sī.)} bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā anuppanno ceva kāmacchando uppajjati, uppanno ca kāmacchando bhiyyobhāvāya vepullāya saṃvattati. byāpādaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā anuppanno ceva byāpādo uppajjati, uppanno ca byāpādo bhiyyobhāvāya vepullāya saṃvattati. thinamiddhaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā anuppannañceva thinamiddhaṃ uppajjati, uppannañca thinamiddhaṃ bhiyyobhāvāya vepullāyaṃ saṃvattati. uddhaccakukkuccaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā anuppannañceva uddhaccakukkuccaṃ uppajjati, uppannañca uddhaccakukkuccaṃ bhiyyobhāvāya vepullāya saṃvattati. vicikicchāṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā anuppannā ceva vicikicchā uppajjati, uppannā ca vicikicchā bhiyyobhāvāya vepullāya saṃvattati. “satisambojjhaṅgaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā anuppanno ceva satisambojjhaṅgo uppajjati, uppanno ca satisambojjhaṅgo bhāvanāpāripūriṃ gacchati ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgaṭṭhāniyānaṃ, bhikkhave, dhammānaṃ manasikārabahulīkārā anuppanno ceva upekkhāsambojjhaṅgo uppajjati, uppanno ca upekkhāsambojjhaṅgo bhāvanāpāripūriṃ gacchatī”ti. tatiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho dục khả ái, thì dục chưa sinh sẽ sinh, và dục đã sinh sẽ tăng trưởng và lan rộng.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho sân, thì sân chưa sinh sẽ sinh, và sân đã sinh sẽ tăng trưởng và lan rộng.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho hôn trầm và thụy miên, thì hôn trầm và thụy miên chưa sinh sẽ sinh, và hôn trầm và thụy miên đã sinh sẽ tăng trưởng và lan rộng.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho trạo cử và hối quá, thì trạo cử và hối quá chưa sinh sẽ sinh, và trạo cử và hối quá đã sinh sẽ tăng trưởng và lan rộng.
Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho nghi hoặc, thì nghi hoặc chưa sinh sẽ sinh, và nghi hoặc đã sinh sẽ tăng trưởng và lan rộng.”

“Này các Tỳ khưu, do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho niệm giác chi, thì niệm giác chi chưa sinh sẽ sinh, và niệm giác chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.

Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho trạch pháp giác chi, thì trạch pháp giác chi chưa sinh sẽ sinh, và trạch pháp giác chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.

Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho cần giác chi, thì cần giác chi chưa sinh sẽ sinh, và cần giác chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.

Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho hỷ giác chi, thì hỷ giác chi chưa sinh sẽ sinh, và hỷ giác chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.

Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho khinh an giác chi, thì khinh an giác chi chưa sinh sẽ sinh, và khinh an giác chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.

Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho định giác chi, thì định giác chi chưa sinh sẽ sinh, và định giác chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.

Do thường xuyên hướng tâm đến những thứ làm nền tảng cho xả giác chi, thì xả giác chi chưa sinh sẽ sinh, và xả giác chi đã sinh sẽ được viên mãn nhờ tu tập.”

Chú Thích

Câu hỏi của vị Tỳ khưu: “Vì sao gọi là giác chi?” Đây là câu hỏi thuộc nhóm định nghĩa về danh (nāma), nhằm làm rõ ý nghĩ của thuật ngữ. Đức Phật giải thích bằng quả (phala):“Vì chúng dẫn đến giác ngộ (bodhi) nên gọi là giác chi.”

Tính chất “dẫn đạo giác ngộ” Kinh cho ta một định nghĩa: Bojjhaṅga là các yếu tố tâm lý đưa tiến trình tuệ giác đến viên mãn. Điều này giúp phân biệt giác chi với các pháp khác trong bodhipakkhiya.

Bojjhaṅga là nhóm yếu tố ở giai đoạn cao của tuệ quán, xuất hiện mạnh nhất trong mười sáu tuệ Minh sát (vipassanā-ñāṇa), đặc biệt trong tuệ thứ mười sáu: tuệ xả.


Theo Sớ Giải thì trong lời tuyên thuyết giản yếu Đức Phật chỉ đơn giản đọc tên bảy giác chi — đây là dạng kinh dùng để thuộc lòng, để tụng đọc hằng ngày.

1.    Niệm giác chi (sati-saṃbojjhaṅga)

2.    Trạch pháp giác chi (dhammavicaya-saṃbojjhaṅga)

3.    Tinh tấn giác chi (viriya-saṃbojjhaṅga)

4.    Hỷ giác chi (pīti-saṃbojjhaṅga)

5.    Khinh an giác chi (passaddhi-saṃbojjhaṅga)

6.    Định giác chi (samādhi-saṃbojjhaṅga)

7.    Xả giác chi (upekkhā-saṃbojjhaṅga)

 nhằm:

  • Làm pháp học căn bản cho tân Tỳ-kheo.
  • Tạo nền cho các kinh sau giải thích sâu hơn.
  • Giúp hành giả dễ nhớ, thuận tiện trong chánh niệm hằng ngày.

Kinh thứ ba trình bày hai loại đối tượng tác ý (manasikāra):

  • Những điều làm sinh khởi triền cái
  • Những điều làm sinh khởi bảy giác chi

Đây là quy luật tương tác giữa tâm và cảnh.

Đức Phật dùng cùng một cấu trúc cho cả năm: “Bằng cách thường xuyên chú ý đến điều là nền tảng cho dục, dục chưa sinh sẽ sinh; dục đã sinh sẽ tăng trưởng.”

Tương tự với:

  • Sân
  • Hôn trầm-thụy miên
  • Trạo cử hối quá
  • Nghi hoặc

Điểm cốt lõi: triền cái không tự nhiên sinh, mà do tác ý sai lầm.

Ngược lại, khi tác ý đến nền tảng của giác chi, thì:

  • Giác chi chưa sinh sẽ sinh.
  • Giác chi đã sinh sẽ trưởng thành và viên mãn.

Mỗi giác chi đều có “điều kiện nền tảng” (upanissaya). Kinh dạy một phương pháp cực kỳ quan trọng: Hãy biết rõ điều gì nuôi dưỡng triền cái, và điều gì nuôi dưỡng giác chi.

Đây chính là cốt lõi của Chánh Tinh Tấn và Tứ Chánh Cần.

Sớ Giải

204-206. tatiye kāmarāgaṭṭhāniyānanti kāmarāgassa kāraṇabhūtānaṃ ārammaṇadhammānaṃ. byāpādaṭṭhāniyādīsupi eseva nayo. sakalañhi idaṃ suttaṃ ārammaṇeneva kathitaṃ. paṭhamavaggassa dutiyasutte vuttaparicchedopettha labbhateva. catutthe missakabojjhaṅgā kathitā. pañcame aparihāniye dhammeti aparihānikare sabhāvadhamme.


Giải thích các bài kinh 204–206

1. “tatiye kāmarāgaṭṭhāniyānanti kāmarāgassa kāraṇabhūtānaṃ ārammaṇadhammānaṃ.”

kāmarāga-ṭṭhāniya = “những pháp làm chỗ đứng (nơi nương) cho tham dục.” Chú giải nói rằng: Đây là các pháp làm duyên (kāraṇabhūta) cho kāmarāga khởi lên; tức là các đối tượng (ārammaṇa-dhamma) thuộc dục giới mà khi tiếp xúc, người chưa đoạn trừ tham sẽ sinh dục ái. Nghĩa là: Ở bài kinh thứ ba, từ “những chỗ trụ của tham dục” được hiểu chính là các đối tượng khả ái khả hỷ, đóng vai trò điều kiện cho tham dục phát sanh.

“byāpādaṭṭhāniyādīsupi eseva nayo.”

Cách giải thích này cũng áp dụng y như vậy đối với: byāpāda-ṭṭhāniya = các pháp làm chỗ nương cho sân hận. thāna tương tự cho các triền cái còn lại. Tức là các pháp giúp nuôi dưỡng – duy trì – khơi lên những bất thiện căn như sân, hôn trầm, trạo cử, nghi đều phải hiểu là các đối tượng có khả năng kích hoạt các tâm bất thiện tương ứng.


3. “sakalañhi idaṃ suttaṃ ārammaṇeneva kathitaṃ.”

Nghĩa là toàn bộ bài kinh này được trình bày theo phương diện đối tượng (ārammaṇa) mà nói, nghĩa là dựa trên cái mà tâm nương vào để phát sinh tham, sân, si. Điểm chính: Đức Phật không nói về nội tâm trước, mà nói về cảnh kích hoạt nội tâm.


4. “paṭhamavaggassa dutiyasutte vuttaparicchedopettha labbhateva.”

Bài thứ hai của chương đầu (Paṭhamavagga). Ý muốn nói: Các hạng đối tượng, các duyên, các phạm vi đã được giải thích trong bài trước đều có thể áp dụng cho bài hiện tại. Đây là cách chú giải quy chiếu để tránh lặp lại.


5. “catutthe missakabojjhaṅgā kathitā.”

Ở bài kinh thứ tư, Đức Phật nói về  – “bảy giác chi hỗn hợp”, tức là:

    • Có khi thuận duyên trí tuệ,
    • Có khi thuận duyên định,
    • Có khi thuận duyên vượt thoát phiền não,
    • Nhưng cũng có khi bị xen lẫn bất thiện hoặc chưa thuần tịnh.
  • Chữ missaka = “pha trộn, chưa thuần tịnh, còn xen tạp”.

6. “pañcame aparihāniye dhammeti aparihānikare sabhāvadhamme.”

Trong bài kinh thứ năm, Đức Phật nói về aparihāniya-dhamma = “những pháp không đưa đến thoái đọa.” Chú giải giải thích: Đây là các pháp có bản chất (sabhāva-dhamma) làm cho hành giả không bị thối giảm, mà tiếp tục tiến triển, tăng trưởng trên đạo lộ. Chúng là: Những thiện pháp có khả năng bảo hộ tâm,

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

III. Phẩm Udàyi

21.I. Giác (Bodhanà) (S.v,83)

1) ...

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến... rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Giác chi, giác chi", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là giác chi?

-- Ðưa đến giác ngộ, này Tỷ-kheo, nên được gọi là giác chi.

4) Ở đây, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Ðưa đến giác ngộ, này Tỷ-kheo, cho nên được gọi là giác chi.

22.II. Thuyết Giảng (Tạp 26,17 Ðại 2, 196a) (S.v,83)

1) ...

2)-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về bảy giác chi. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy giác chi? Niệm giác chi... xả giác chi. Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này.

23.III. Trú Xứ (Thànà) (Tạp 26,71 Ðại 2, 190b) (S.v,84)

1) ...

2) -- Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho dục và tham (kàmaràga), này các Tỷ-kheo, nên dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

3) Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho sân, này các Tỷ-kheo, nên sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

4) Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, nên hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

5) Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho trạo hối, này các Tỷ-kheo, nên trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

6) Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, nên nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

7) Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, nên niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

8) Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho xả giác chi, này các Tỷ-kheo, nên xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; và xả giác chi đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.