BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 18 tháng 12, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46. Tương Ưng Giác Chi - Phẩm Udàdì - SN 46. 30
Bài 573. MỘT HÀNH TRÌNH CHUYỂN HOÁ -
Kinh Udāyi (Udāyisuttaṃ)

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-573.jpg ... .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Con đường giác ngộ không khởi đầu bằng trí tuệ cao siêu, mà bắt đầu từ nền tảng đạo đức vững chắc như tàm và quý. Chính lòng tàm quý và lòng kính tin đối với Đức Phật đã trở thành nhân duyên đưa Tôn giả Udayī đến đời sống xuất gia. Trên nền tảng ấy, minh sát được triển khai một cách trực tiếp qua việc quán sát sự sinh và diệt của năm thủ uẩn. Kinh cũng nhấn mạnh rằng sự “nhận thức đột phá” không phải là điểm kết thúc, mà là khởi đầu cho sự tu tập làm cho con đường được sung mãn. Bảy giác chi xuất hiện như những yếu tố nâng đỡ và hoàn tất tiến trình giải thoát ấy.
Kinh Văn

211. ekaṃ samayaṃ bhagavā sumbhesu viharati setakaṃ nāma sumbhānaṃ nigamo. atha kho āyasmā udāyī yena bhagavā tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho āyasmā udāyī bhagavantaṃ etadavoca —
“acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ, bhante! yāva bahukatañca me, bhante, bhagavati pemañca gāravo ca hirī ca ottappañca. ahañhi, bhante, pubbe agārikabhūto samāno abahukato ahosiṃ dhammena {dhamme (?)} abahukato saṅghena. so khvāhaṃ bhagavati pemañca gāravañca hiriñca ottappañca sampassamāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajito. tassa me bhagavā dhammaṃ desesi — ‘iti rūpaṃ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā ... pe ... iti saññā... iti saṅkhārā... iti viññāṇaṃ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.
“so khvāhaṃ, bhante, suññāgāragato imesaṃ pañcupādānakkhandhānaṃ ukkujjāvakujjaṃ samparivattento ‘idaṃ dukkhan’ti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ. dhammo ca me, bhante, abhisamito, maggo ca me paṭiladdho; yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṃ tathattāya upanessati yathāhaṃ — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānissāmi.
“satisambojjhaṅgo me, bhante, paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṃ tathattāya upanessati yathāhaṃ — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānissāmi ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgo me, bhante, paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṃ tathattāya upanessati yathāhaṃ — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānissāmi. ayaṃ kho me, bhante, maggo paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṃ tathattāya upanessati yathāhaṃ — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānissāmī”ti.
“sādhu sādhu, udāyi! eso hi te, udāyi, maggo paṭiladdho, yo te bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṃ tathattāya upanessati yathā tvaṃ — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānissasī”ti. dasamaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự giữa dân Sumba, tại một thị trấn của dân Sumba tên là
Sedaka. Bấy giờ Tôn giả Udayī đi đến Đức Thế Tôn… sau khi đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn:
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn, lòng tịnh tín và tôn kính của con đối với Thế Tôn, cùng với tàm quý, đã trợ duyên lớn cho con biết bao! Bạch Thế Tôn, thuở trước khi con còn là người tại gia, con không mấy quan tâm đến Pháp và Tăng. Nhưng khi quán xét lòng tịnh tín và tôn kính của con đối với Thế Tôn, cùng với tàm quý, con đã xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Bấy giờ, Thế Tôn dạy con Pháp như sau: ‘Sắc là như vậy, sự sinh khởi của sắc là như vậy, sự đoạn diệt của sắc là như vậy;
Thọ là như vậy…
Tưởng là như vậy…
Hành là như vậy…
Thức là như vậy, sự sinh khởi của thức là như vậy, sự đoạn diệt của thức là như vậy.’
“Rồi, bạch Thế Tôn, khi con trú trong một căn lều trống, tùy quán sự sinh và diệt của năm uẩn chịu sự chấp thủ, con tự mình trực tiếp liễu tri đúng như thật:
‘Đây là khổ’;
con trực tiếp liễu tri đúng như thật: ‘Đây là tập khởi của khổ’;
con trực tiếp liễu tri đúng như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt của khổ’;
con trực tiếp liễu tri đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ’.

Bạch Thế Tôn, con đã hoát nhiên tỏ ngộ, và đã đạt được con đường mà khi con tu tập và làm cho sung mãn, trong khi con an trú đúng pháp, sẽ dẫn con đến trạng thái mà con sẽ tự biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái hiện hữu này nữa.’
“Bạch Thế Tôn, con đã đạt được niệm giác chi, mà khi con tu tập và làm cho sung mãn, trong khi con an trú đúng pháp, sẽ dẫn con đến trạng thái mà con sẽ tự biết:
‘Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái hiện hữu này nữa.’
…
Con đã đạt được xả giác chi, mà khi con tu tập và làm cho sung mãn, trong khi con an trú đúng pháp, sẽ dẫn con đến trạng thái mà con sẽ tự biết: ‘Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái hiện hữu này nữa.’”
“Bạch Thế Tôn, đây chính là con đường mà con đã đạt được, con đường ấy… sẽ dẫn con đến… trạng thái mà con sẽ tự biết: ‘Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái hiện hữu này nữa.’”
“Lành thay, lành thay, Udayī!  Quả thật, này Udayī, đây chính là con đường mà Thầy đã đạt được; và khi Thầy tu tập và làm cho sung mãn con đường ấy, trong khi Thầy an trú đúng pháp, điều sẽ dẫn Thầy đến trạng thái mà ông  tự biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái hiện hữu này nữa.’”

Chú Thích

Tôn giả Udāyī, còn được gọi là Lāludāyī (và Paṇḍita Udāyī), nhằm phân biệt với các vị đồng danh khác. Ngài là con của một vị Bà-la-môn tại Kapilavatthu. Khi Đức Phật đến thăm thân tộc của Ngài tại đây, Udāyī được chứng kiến uy lực và oai nghi của Đức Thế Tôn; do đó, Ngài phát tâm xuất gia và về sau chứng đắc A-la-hán quả. Khi Đức Phật thuyết Nāgopama Sutta (xem Aṅguttara Nikāya III, 344 trở đi), nhân dịp con voi Seta của vua Pasenadi được quần chúng tán dương, Tôn giả Udāyī khởi tâm hoan hỷ mạnh mẽ đối với Đức Phật và đã thốt lên mười sáu bài kệ, ca ngợi các đức tính của Đức Thế Tôn, so sánh Ngài với một con voi lớn, kỳ vĩ và hiếm có (Theragāthā kệ 689–704; Theragāthā-aṭṭhakathā II, 7 trở đi). Các bài kệ này cũng được ghi lại trong Aṅguttara Nikāya (III, 346–347), tuy nhiên chú giải (II, 669) lại quy những bài kệ ấy cho Kāludāyī. Udāyī rõ ràng là một vị pháp sư lỗi lạc và có sức lôi cuốn, bởi Ngài được ghi nhận là đã thuyết pháp cho những hội chúng đông đảo—một nhiệm vụ đòi hỏi năng lực lớn, như chính Đức Phật đã xác nhận khi nghe tin này (Aṅguttara Nikāya III, 184).

Về những chữ bahukataṃ và abahukato, ngài Bodhi đã nêu ra một vấn đề hợp lý về sự không nhất quán ngữ nghĩa giữa bahukataṃ (danh từ trừu tượng) ở câu trước và abahukato (tính từ) ở câu sau, khi cả hai dường như được dùng với cùng một gốc nghĩa. Trong Pāli, bahukata nguyên nghĩa là “làm cho nhiều”, “xem trọng”, “đặt nặng”, và khi dùng như danh từ trừu tượng (bahukataṃ) thường mang nghĩa “sự coi trọng, sự tôn kính, sự đánh giá cao”. Tuy nhiên, ở câu tiếp theo, abahukato lại được đặt đồng cách với ahaṃ (“tôi”), mang nghĩa “không coi trọng”, “không đặt nặng”. Sớ giải thích abahukato là akatabahumāno (“không có nhiều sự tôn kính / không đặt nhiều giá trị”), nhưng không quay lại giải thích bahukataṃ ở câu trước. Điều này cho thấy có khả năng bahukataṃ trong văn cảnh trước không mang đúng cùng một sắc thái nghĩa như abahukato ở đây, hoặc ít nhất là được dùng với mức độ trừu tượng khác, khiến việc dịch thống nhất trở nên khó khăn. Nhận xét của Ngài Bodhi vì vậy là xác đáng về mặt ngữ văn.

Cụm từ ukkujjāvakujjaṃ samparivattento được Sớ giải chú thích rất rõ: ukkujja là sự sinh khởi (udaya), avakujja là sự hoại diệt (vaya). Do đó, ukkujjāvakujjaṃ samparivattento có nghĩa là xoay vần, quán sát các pháp theo chiều sinh và diệt (udayabbayavasena). Ở đây, Tôn giả Udayī đang tuệ quán ngũ thủ uẩn đúng theo phương pháp minh sát căn bản: thấy rõ từng uẩn sinh lên và hoại diệt. Điều quan trọng mà chú thích nhấn mạnh là: chính trong khi quán sát sinh–diệt, vị ấy trực tiếp chứng ngộ Tứ Thánh Đế. Điều này đánh dấu sự thành tựu thánh đạo siêu thế, bởi tuệ thấy sinh–diệt đạt đến mức viên mãn chính là cửa ngõ đưa đến đạo tuệ (magga-ñāṇa).

Câu dhammo ca me… maggo ca paṭiladdho đặt ra một vấn đề dịch thuật tinh tế. Về hình thức, quá khứ phân từ chuẩn của abhisameti phải là abhisameta, trong khi bản kinh dùng abhisamito. Tuy nhiên, vấn đề chính nằm ở ý nghĩa học lý. Sớ giải chú thích rằng: “đã chứng Pháp” ở đây là đã đạt đến pháp minh sát (vipassanā-dhamma), và “đã được con đường” là đã đạt đến con đường minh sát (vipassanā-magga). Tuy nhiên, như người dịch nhận xét, trong văn hệ Nikāya, những cách nói như vậy hầu như luôn chỉ cho siêu thế pháp và siêu thế đạo, chứ không đơn thuần là minh sát thế gian. Bản kinh cũng không nói rõ Tôn giả Udayī chứng đắc tầng thánh nào, nhưng cụm từ “hoát nhiên tỏ ngộ  Pháp” (dhamma-abhisamaya) gần như chắc chắn hàm ý ít nhất là Dự lưu (sotāpanna). Đồng thời, vì ngài còn phải “tu tập và làm cho sung mãn” con đường ấy, nên không thể là A-la-hán tại thời điểm này. Do đó, cách hiểu hợp lý nhất là: Tôn giả Udayī đã chứng đắc thánh đạo sơ khởi, rồi tiếp tục phát triển con đường cho đến cứu cánh.

Câu xác định quả chứng “Sanh đã tận…khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ…” được chú giải hiểu là trí quán sát lại (paccavekkhaṇa-ñāṇa), dùng để xác nhận trạng thái như thật (tathattā) của A-la-hán. Trong bài kinh, công thức này được nhắc đến như mục tiêu chắc chắn mà con đường đang đưa đến, chứ không nhất thiết là trạng thái đã hoàn tất tại thời điểm đang nói.

Trong lời tự thuật của mình, Tôn giả Udayī đối chiếu hai giai đoạn rõ rệt: thời kỳ tại gia với sự thiếu quan tâm đối với Pháp và Tăng, và giai đoạn xuất gia nhờ vào lòng kính tin đối với Thế Tôn cùng với tàm quý (hiri–ottappa). Trong giai đoạn tu tập sau khi xuất gia là sự quán sát sinh–diệt của ngũ thủ uẩn, Tôn giả Udayī trực tiếp liễu tri Tứ Thánh Đế.

Sớ Giải

211. dasame abahukatoti akatabahumāno. ukkujjāvakujjanti ettha ukkujjaṃ vuccati udayo, avakujjaṃ vayoti udayabbayavasena parivattento sammasantoti dīpeti. dhammo ca me, bhante, abhisamitoti vipassanādhammo abhisamāgato. maggoti vipassanāmaggova. sace hi thero tasmiṃ samaye sotāpanno, upari tiṇṇaṃ maggānaṃ atthāya, sace anāgāmī, arahattamaggassa atthāya ayaṃ vipassanā veditabbā. tathā tathā viharantanti tena tenākārena viharantaṃ. tathattāyāti tathābhāvāya. khīṇā jātītiādīhi tathattāyāti adhippetaṃ tathābhāvaṃ dasseti. paccavekkhaṇatthāya upanīyatīti hi ettha adhippāyo, taṃ dassento evamāha. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

211. dasame abahukatoti akatabahumāno.

“Trong bài kinh thứ mười, ‘abahukato’ nghĩa là: không xem là ít, không coi nhẹ, đã đặt sự tôn trọng, chú tâm nghiêm túc (không phải là xem thường).”

ukkujjāvakujjanti ettha ukkujjaṃ vuccati udayo, avakujjaṃ vayoti udayabbayavasena parivattento sammasantoti dīpeti.

“Ở đây, ‘ukkujjā–avakujja’ được giải thích như sau: ‘ukkujjā’ gọi là sự sinh khởi, ‘avakujja’ gọi là sự hoại diệt; điều này chỉ cho việc quán sát, xoay vần theo chiều sinh–diệt (udaya–vaya) của các pháp.”

dhammo ca me, bhante, abhisamitoti vipassanādhammo abhisamāgato.

“‘Bạch Thế Tôn, con đã chứng ngộ Pháp’ nghĩa là: Pháp quán (vipassanā-dhamma) đã được chứng đạt.”

maggoti vipassanāmaggova.

‘Con đường’ ở đây chính là con đường minh sát, chứ không phải con đường thánh đạo đã hoàn tất.”

sace hi thero tasmiṃ samaye sotāpanno, upari tiṇṇaṃ maggānaṃ atthāya, sace anāgāmī, arahattamaggassa atthāya ayaṃ vipassanā veditabbā.

“Bởi vì, nếu vị Trưởng lão vào thời điểm ấy là bậc Dự lưu, thì pháp minh sát này nhằm mục đích đạt ba đạo cao hơn; nếu là bậc Bất lai, thì pháp minh sát này nhằm mục đích đạt A-la-hán đạo.”

tathā tathā viharantanti tena tenākārena viharantaṃ.

“‘An trú như vậy như vậy’ nghĩa là: an trú theo từng cách thức thích hợp tương ứng (với từng giai đoạn tu tập).”

tathattāyāti tathābhāvāya.

“‘Tathattāya’ nghĩa là: để đạt đến trạng thái như nhiên ấy.”

khīṇā jātītiādīhi tathattāyāti adhippetaṃ tathābhāvaṃ dasseti.

“Bằng các câu ‘Sanh đã tận’ v.v…, chú giải chỉ rõ trạng thái như nhiên (tathā-bhāva) được hàm ý trong từ ‘tathattāya’.”

paccavekkhaṇatthāya upanīyatīti hi ettha adhippāyo, taṃ dassento evamāha.

“Ý nghĩa ở đây là: con đường ấy được đưa đến để làm đối tượng của tuệ hồi quán (paccavekkhaṇa); vì muốn làm rõ ý này nên chú giải nói như vậy.”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

III. Phẩm Udàyi

30.X. Udàyi (S.v,89)

1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa những người Sumbha, tại một thị trấn của những người Sumbha tên là Setaka.

2) Rồi Tôn giả Udàyi, đi đến Thế Tôn... ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn :

3) -- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn ! Xúc động nhiều thay (bahukatam), bạch Thế Tôn, là lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí của con đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, trước khi con còn là người tại gia, con không có nhiều xúc động (bahukata) đối với Pháp, không có nhiều xúc động đối với Tăng. Nhưng, bạch Thế Tôn, khi con cảm thấy (sampassamàno) lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí đối với Thế Tôn, thời con xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và Thế Tôn thuyết pháp cho con : "Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, đây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt... Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt, đây là con đường đưa đến thức đoạn diệt".

4) Rồi, bạch Thế Tôn, con đi đến chỗ nhà trống, và trong khi tùy quán (samparivattento) theo sự sanh diệt của năm thủ uẩn này, con như thật thắng tri : "Ðây là khổ". Con như thật thắng tri: "Ðây là khổ tập khởi". Con như thật thắng tri: "Ðây là khổ diệt". Con như thật thắng tri : "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt".

5) Pháp, bạch Thế Tôn, được con hoàn toàn chứng tri (abhisamito). Con đường được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đắc như vậy (tathattàya). Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Bạch Thế Tôn, con chứng được niệm giác chi. Niệm này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết được rằng : "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa"... Con chứng được, bạch Thế Tôn, xả giác chi. Xả này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng : "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Bạch Thế Tôn, con đường này được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng : "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".

6) -- Lành thay, lành thay, này Udàyi ! Con đường này, này Udàyi, Ông chứng được, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ dắt dẫn Ông, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, Ông sẽ rõ biết rằng : "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".