|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần IV: ÔN CỐ TRI TÂN
- Khi Ngôn Ngữ Không Là Ngôn Từ Kumbhakārajātakaṃ - - Kinh Bổn Sanh 408
ambāhamaddaṃ vanamantarasmiṃ,
Một năm Đức Thế Tôn đang an cư tại Jetavana Khi ấy tại
Sāvatthī, có năm trăm vị tỳ-khưu đồng bạn xuất gia, sống
trong khu Antokoṭisanthāra. Vào lúc nửa đêm, các vị khởi
lên tầm tư dục vọng.
Đức Thế Tôn luôn hộ trì các đệ tử mình: ban đêm ba lần,
ban ngày ba lần – tổng cộng sáu lần mỗi ngày, Ngài quan
sát họ như chim kikī giữ trứng, Bất cứ khi nào
chư đệ tử sanh
khởi phiền não, Ngài liền nhắc nhở.
Biết rõ vào lúc nửa đêm hôm ấy rằng:
“Phiền não này nếu tăng trưởng sẽ phá hoại nhân duyên
A-la-hán của các tỳ-khưu này. Ta phải chế ngự phiền não
cho họ ngay bây giờ và chỉ bày A-la-hán đạo.”
Ngài rời Gandhakuṭi, gọi Tôn giả Ānanda, bảo triệu tập
tất cả các tỳ-khưu đang trú trong khu ấy. Ngài ngồi trên
bảo toạ đã được chuẩn bị và dạy:
“Này các tỳ-khưu, không nên sống thuận theo các phiền
não khởi sinh bên trong. Phiền não khi tăng trưởng sẽ
gây đại hoại diệt như kẻ thù ngược. Một tỳ-khưu cần chế
ngự dù chỉ một chút phiền não. Các bậc hiền trí thời
xưa, chỉ nhờ thấy một đối tượng nhỏ, đã chế ngự phiền
não nội tâm và chứng quả Độc Giác Phật .”
Rồi Ngài kể chuyện quá khứ.
Câu chuyện tiền thân
Ngày xưa rất xưa, có một người thợ gốm sống thoải mái
trong một ngôi nhà ấm cúng với gia đình có vợ và con.
Một ngày đẹp trời có bốn vị tu sĩ đi khất thực ngang
nhà. Cả bốn khất sĩ đều cao sang trong phong thái và các
căn vô cùng thanh tịnh. Cảm nhận được sự thanh thoát phi
phàm từ bốn vị nầy, người thợ gốm vội vả thỉnh mời vào
nhà cúng dường thực phẩm. Sau khi những nhà tu hành đã
thọ trai, chủ nhà chọn một chỗ thấp để ngồi và cầu học
đạo lý. Cả bốn chỉ tuần tự cho biết xuất thân và lý do
tại sao chọn đường thoát vòng tục luỵ.
Vị khất sĩ đầu tiên cho biết bản thân trước khi là một
quân vương tên gọi Karandaka của xứ Kaliṅga. Một lần
trong chuyến đi săn trong rừng tình cờ thấy một cây xoài
trĩu quả, vua đang ngồi trên lưng voi liền với tay hái
một trái xoài, vào vườn ăn. Các quan và và tuỳ tùng
nghĩ:
“Từ khi vua đã hái, thì ai cũng có thể hái.”
Họ hái ăn không chừa quả nào, kẻ đến sau còn leo lên
cây, dùng chày đập gãy cành, ăn cả trái non.
Chiều về, vua thấy cây xoài trơ trụi, gãy nát, liền suy
nghĩ:
“Sáng nay cây này còn đẹp, trĩu quả, ai thấy cũng hoan
hỷ. Nay vì có quả mà bị phá hoại. Đời sống gia đình cũng
giống cây có quả, xuất gia giống cây không quả. Người có
của thì sợ, người không của thì không sợ. Ta cũng nên
như cây không quả.”
Lấy cây xoài làm thiền ác suy gẫm, vua quán ba tướng,
tuệ quán tăng trưởng và chứng
thánh trí của Độc Giác Phật. Kể xong nói lên kệ
ngôn:
ambāhamaddaṃ vanamantarasmiṃ,
“Cây xoài nhành lá xanh
Vị khất sĩ thứ hai cho biết mình từng là vua xứ
Takkasilā với
biệt danh Naggaji. Có một lần đi dạo quanh thành bất
chợt nhìn thấy một phụ nữ tay đeo những vòng xuyến. Khi
người nầy cử động thì những vòng xuyến chạm nhau tạo nên
một thứ âm thanh lạ tai.
Vua suy nghĩ:
“Chúng sinh sống một mình thì không xung đột; khi hai ba
người thì va chạm, tranh cãi. Ta cai trị hai xứ Kashmir
và Gandhāra, dù vương quốc rộng lớn nhưng hiểm hoạ tranh
chấp luôn chực chờ. Ta ra nên sống một mình như tay đeo
chỉ một vòng xuyến. Nghĩ cho cùng, dục lạc ở đời chỉ tạo
nên bao tranh chấp, phiền luỵ”
Quán chiếu như vậy, vua chứng thánh trí của Độc Giác
Phật. Kể
xong nói lên kệ ngôn:
selaṃ sumaṭṭhaṃ naravīraniṭṭhitaṃ,
Vòng xuyến khéo chế tác
Vị khất sĩ thứ ba cho biết mình
cũng từng làm
vua tên Nimi của
nước Mithilā. Có một lần đứng trong cung nhìn qua cửa
sổ, mục kích
chim chóc tranh nhau một miếng thịt. Con nào giữ
được thì bị cả bầy mổ đau đớn; con nào buông ra thì bay
đi bình yên. Vua thở dài: “Có nhiều thì khổ nhiều.”
Vua suy nghĩ:
“Năm dục cũng vậy. Ta có mười sáu ngàn cung nữ. Ta nên
bỏ dục như bỏ miếng thịt để được an vui.”
Quán chiếu như vậy, vua chứng thánh trí của Độc Giác
Phật. Kể
xong nói lên kệ ngôn:
dijā dijaṃ kuṇapamāharantaṃ,
Vì miếng thịt tương tranh
Vị khất sĩ sau cùng tự kể câu chuyện mình. Cũng là một
quốc vương tên Dummukha trị vì xứ Kapila. Một lần tình
cờ nhìn thấy hai con bò đực động dục đấu nhau vì một con
bò cái. Sau trận hỗn chiến sống mái, một con chết, một
con bị thương. Vua rùng mình: “Dục vọng quật ngã sức
mạnh thể chất.” Và vua đã quyết định chọn con đường
rời bỏ.
Vua suy nghĩ:
“Khát ái khiến mọi loài rơi vào hệ luỵ và diệt vong. Ta
phải đoạn trừ phiền não.”
Quán ba tướng, vua chứng chánh trí của
Độc Giác Phật.
Kể xong, vị khất sĩ nói lên kệ ngôn:
usabhāhamaddaṃ yūthassa majjhe,
Bò mộng giữa đàn bò
Sau khi nghe bốn vị Phật độc giác tự thuật về sự xuất
gia, người thợ gốm sinh nhàm chán đời sống thế tục. Vợ
ông cũng xin xuất gia. Sau khi thử khả năng tự lập của
con cái, Bồ-tát giao con cho thân quyến rồi xuất gia làm
đạo sĩ, tu thiền chứng thiền và sau khi hết tuổi thọ tái
sinh vào Phạm thiên giới.
Đức Thế Tôn kết thúc pháp thoại, tuyên thuyết Tứ Thánh
Đế. Khi pháp thoại kết thúc, năm trăm tỳ-khưu chứng
A-la-hán.
Đức Phật xác nhận tiền thân: Ngưòi con gái xưa chính là
Uppalavaṇṇā, con trai nay là
Rāhula, người vợ
của thợ gốm là giờ mẹ Rāhula. Và người thợ gốm của kiếp
đó chính là Ngài. Tỳ khưu Giác Đẳng phóng tác từ Kinh Bổn Sanh |