|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 25 tháng 12, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 578. BÁU VẬT Ở ĐỜI - Kinh Chuyển Luân Vương (Cakkavattisuttaṃ) .
...
.
Kinh Chuyển Luân Vương (Cakkavattisuttaṃ)
.
Bảy báu thế gian tuy cao quý nhưng chỉ
đem lại trật tự và an ổn trong phạm vi luân hồi, còn bảy bảo
pháp giác chi mới là những giá trị vô song dẫn đến giải thoát
rốt ráo.Như Lai không chỉ là bậc Giác Ngộ cho riêng mình, mà là
nhân duyên lớn làm cho toàn bộ kho báu giác ngộ được hiển lộ
trong thế gian.
Kinh Văn
223. “rañño, bhikkhave, cakkavattissa pātubhāvā sattannaṃ
ratanānaṃ pātubhāvo hoti. katamesaṃ sattannaṃ? cakkaratanassa
pātubhāvo hoti, hatthiratanassa pātubhāvo hoti, assaratanassa
pātubhāvo hoti, maṇiratanassa pātubhāvo hoti, itthiratanassa
pātubhāvo hoti, gahapatiratanassa pātubhāvo hoti,
pariṇāyakaratanassa pātubhāvo hoti. rañño, bhikkhave,
cakkavattissa pātubhāvā imesaṃ sattannaṃ ratanānaṃ pātubhāvo
hoti. “Này các Tỳ-khưu, khi một chuyển luân vương
xuất hiện thì bảy báu được xuất hiện. Thế nào là bảy? Đó là sự
xuất hiện của xa luân báu, tượng báu, mã báu, ngọc báu, nữ báu,
gia chủ báu, và tướng quân báu.
Chú Thích Theo Sớ giải, gọi
Chuyển Luân (cakkavattī)
vì nhờ phước lực đã chín muồi, vị ấy khiến luân báu vận hành,
nên bánh xe quyền lực Chánh Pháp được xoay chuyển. Danh xưng này
được xác lập ngay từ lúc tái sinh, chứ không phải chỉ sau khi
luân báu xuất hiện. Theo Sớ giải, chính phước nghiệp của Chuyển
Luân Thánh Vương làm nhân khiến bảy báu lần lượt xuất hiện; do
đó, không phải bảy báu sinh trước rồi mới có Chuyển Luân Vương,
mà sự xuất hiện của vị vua là nhân chính, còn bảy báu là quả và
trợ duyên. Điều nầy thường được nhắc tới trong hệ Phật học Hán
Việt là Chánh báo (正報
- saṃskṛta-pratisaṃdhi hoặc chủng tử chính) và
Y báo (依報
- upabhoga-pratisaṃdhi hoặc môi trường y chỉ)
Sớ giải định nghĩa “báu (ratana)”
không theo nghĩa vật chất thông thường, mà dựa trên năm đặc
tính: Được tôn kính (cittīkata), Vô giá (mahaggha),Vô song
(atula), Cực kỳ hiếm có (dullabhadassana), chỉ bậc thượng nhân
mới thọ dụng (anomasattaparibhoga). Do hội đủ các đặc tính này,
nên cả bảy báu thế gian lẫn bảy bảo pháp giác chi đều được gọi
là “báu”. Theo Sớ giải, bảy báu không xuất hiện đồng loạt, mà
xuất hiện theo thứ tự, khởi đầu bằng xa luân báu. Xa luân báu
giữ vai trò dẫn đầu, các báu khác làm trợ lực, tương ứng với cấu
trúc quyền lực và trật tự thế gian của Chuyển Luân Thánh Vương. Sớ giải thiết lập một
phép đối chiếu tương ứng giữa thất
bảo và thất giác chi:
Theo Sớ giải,
Như Lai không “tạo ra” bảy giác
chi, mà sự xuất hiện của Như Lai là đại duyên khiến: bảy
giác chi được khai thị đầy đủ; được thiết lập đúng thứ tự; và
được tu tập đến viên mãn trong thế gian.
Sớ Giải
223. dutiye rañño, bhikkhave, cakkavattissāti ettha attano
sirisampattiyā rājati, catūhi vā saṅgahavatthūhi lokaṃ rañjetīti
rājā, tassa rañño. “pavattatu bhavaṃ cakkaratanan”ti
puññānubhāvena abbhuggatāya vācāya codento cakkaṃ vattetīti
cakkavattī, tassa cakkavattissa. pātubhāvāti pātubhāvena.
sattannanti gaṇanaparicchedo. ratanānanti
paricchinnātthadassanaṃ. vacanattho panettha ratijananaṭṭhena
ratanaṃ. apica — ♦ “cittīkataṃ mahagghañca, atulaṃ
dullabhadassanaṃ. ♦ anomasattaparibhogaṃ, ratanaṃ tena
vuccatī”ti. ♦ cakkaratanassa ca nibbattakālato paṭṭhāya aññaṃ
devaṭṭhānaṃ nāma na hoti, sabbeva gandhapupphādīhi tasseva
pūjañca abhivādanādīni ca karontīti cittīkataṭṭhena ratanaṃ.
cakkaratanassa ca “ettakaṃ nāma dhanaṃ agghatī”ti aggho natthi,
iti mahagghaṭṭhenāpi ratanaṃ. cakkaratanañca aññehi loke
vijjamānaratanehi asadisanti atulaṭṭhena ratanaṃ. yasmā pana
yasmiṃ kappe buddhā uppajjanti, tasmiṃyeva cakkavattino, buddhā
ca kadāci karahaci uppajjanti, tasmā dullabhadassanaṭṭhena
ratanaṃ. tadetaṃ jātirūpakulaissariyādīhi anomassa
uḷārasattasseva uppajjati, na aññassāti
anomasattaparibhogaṭṭhenāpi ratanaṃ. yathā ca cakkaratanaṃ, evaṃ
sesānipīti. tena vuttaṃ — ♦ “cittīkataṃ mahagghañca, atulaṃ
dullabhadassanaṃ. ♦ anomasattaparibhogaṃ, ratanaṃ tena
vuccatī”ti. ♦ pātubhāvo hotīti nibbatti hoti. tatrāyaṃ yojanā —
cakkavattissa pātubhāvā sattannaṃ ratanānaṃ pātubhāvoti ayuttaṃ.
uppannañhi cakkaṃ vattetvā so cakkavattī nāma hotīti nāyuttaṃ.
kasmā? cakkavattananiyamāpekkhatāya. yo hi niyamena cakkaṃ
vattessati, so paṭisandhito pabhuti “cakkavatti pātubhūto”ti
vattabbataṃ āpajjati. laddhanāmassa ca purisassa
mūluppattivacanatopi yuttamevetaṃ. yo hi esa cakkavattīti
laddhanāmo sattaviseso, tassa paṭisandhisaṅkhāto pātubhāvoti
ayamettha attho. tassa hi pātubhāvā ratanāni pātubhavanti.
pātubhūtehi pana tehi saddhiṃ paripakke puññasambhāre so
saṃyujjati, tadā lokassa tesu pātubhāvacittaṃ uppajjati.
bahulavacanato cāpi yuttamevetaṃ. yadā hi lokassa tesu
pātubhāvasaññā uppajjati, tadā ekameva paṭhamaṃ, pacchā itarāni
cha pātubhavantīti bahulavacanato cāpi etaṃ yuttaṃ. pātubhāvassa
ca atthabhedatopi yuttamevetaṃ. na kevalañhi pātubhūtameva
pātubhāvo, pātubhāvayatīti pātubhāvo. ayaṃ pātubhāvassa
atthabhedo. yasmā yo so puññasambhāro rājānaṃ cakkavattiṃ
paṭisandhivasena pātubhāvayati, tasmā rañño cakkavattissa
pātubhāvā. na kevalañhi cakkavattiyeva, imāni pana satta
ratanānipi pātubhavantīti ayamettha attho. yatheva hi so
puññasambhāro rañño janakahetu, evaṃ ratanānampi pariyāyena
upanissayahetūti yuttamevetaṃ “rañño, bhikkhave, cakkavattissa
pātubhāvā sattannaṃ ratanānaṃ pātubhāvo hotī”ti. ♦ idāni tesaṃ
ratanānaṃ sarūpavasena dassanatthaṃ katamesaṃ sattannaṃ
cakkaratanassātiādimāha. tattha cakkaratanassātiādīsu ayaṃ
saṅkhepādhippāyo — dvisahassadīpaparivārānaṃ catunnaṃ
mahādīpānaṃ sirivibhavaṃ gahetvā dātuṃ samatthassa
cakkaratanassa pātubhāvo hoti, tathā purebhattameva
sāgarapariyantaṃ pathaviṃ anupariyāyanasamatthassa
vehāsaṅgamassa hatthiratanassa, tādisasseva assaratanassa,
caturaṅgasamannāgatepi andhakāre yojanappamāṇaṃ andhakāraṃ
vidhamitvā ālokadassanasamatthassa maṇiratanassa, chabbidhaṃ
dosaṃ vivajjetvā manāpacārino itthiratanassa, yojanappamāṇe
padese antopathavigatānaṃ nidhīnaṃ dassanasamatthassa
gahapatiratanassa, aggamahesiyā kucchimhi nibbattitvā
sakalarajjānusāsanasamatthassa jeṭṭhaputtasaṅkhātassa
pariṇāyakaratanassa ca pātubhāvo hotīti. ayamettha saṅkhepo.
vitthārato pana tesaṃ cakkaratanādīnaṃ pātubhāvavidhānaṃ
mahāsudassanādīsu suttesu āgatameva. atthopissa tesaṃ vaṇṇanāya
saṃvaṇṇitoyeva. ♦ satisambojjhaṅgaratanassātiādīsu sarikkhakatā
evaṃ veditabbā — yatheva hi cakkavattino cakkaratanaṃ
sabbaratanānaṃ purecaraṃ, evaṃ satisambojjhaṅgaratanaṃ sabbesaṃ
catubhūmakadhammānaṃ purecaranti, purecaraṇaṭṭhena
cakkavattirañño cakkaratanasadisaṃ hoti. cakkavattino ca
ratanesu mahākāyūpapannaṃ accuggataṃ vipulaṃ mahantaṃ
hatthiratanaṃ, idampi dhammavicayasambojjhaṅgaratanaṃ mahantaṃ
dhammakāyūpapannaṃ accuggataṃ vipulaṃ mahantanti
hatthiratanasadisaṃ hoti. cakkavattino assaratanaṃ sīghaṃ lahu
javaṃ, idampi vīriyasambojjhaṅgaratanaṃ sīghaṃ lahu javanti
imāya sīghalahujavatāya assaratanasadisaṃ hoti. cakkavattino
maṇiratanaṃ andhakāraṃ vidhamati, ālokaṃ dasseti, idampi
pītisambojjhaṅgaratanaṃ tāya ekantakusalattā kilesandhakāraṃ
vidhamati, sahajātapaccayādivasena ñāṇālokaṃ dassetīti iminā
andhakāravidhamanāalokadassanabhāvena maṇiratanasadisaṃ hoti. ♦
cakkavattino itthiratanaṃ kāyacittadarathaṃ paṭipassambheti,
pariḷāhaṃ vūpasameti. idampi passaddhisambojjhaṅgaratanaṃ
kāyacittadarathaṃ paṭipassambheti, pariḷāhaṃ vūpasametīti
itthiratanasadisaṃ hoti. cakkavattino gahapatiratanaṃ
icchiticchitakkhaṇe dhanadānena vikkhepaṃ pacchinditvā cittaṃ
ekaggaṃ karoti, idampi samādhisambojjhaṅgaratanaṃ
yathicchitādivasena appanaṃ sampādeti, vikkhepaṃ pacchinditvā
cittaṃ ekaggaṃ karotīti gahapatiratanasadisaṃ hoti. cakkavattino
ca pariṇāyakaratanaṃ sabbatthakiccasampādanena appossukkataṃ
karoti. idampi upekkhāsambojjhaṅgaratanaṃ cittuppādaṃ
līnuddhaccato mocetvā payogamajjhatte ṭhapayamānaṃ appossukkataṃ
karotīti pariṇāyakaratanasadisaṃ hoti. iti imasmiṃ sutte
catubhūmako sabbasaṅgāhikadhammaparicchedo kathitoti veditabbo. Trong bài kinh thứ hai, nói rằng: “Này
các Tỳ-khưu, với sự xuất hiện của vị vua Chuyển Luân”. Ở
đây, gọi là vua (rājā) vì vị ấy trị vì bằng phước đức và uy nghi
của chính mình, hoặc vì làm đẹp lòng và nhiếp phục thế gian bằng
bốn nhiếp pháp; do đó gọi là vua, và nói đến vị vua ấy. Gọi là Chuyển Luân (cakkavattī) vì vị ấy,
do lời phát khởi được nâng đỡ bởi năng lực phước đức, thúc đẩy
bánh xe rằng: “Nguyện cho luân bảo này được vận hành”, và
khiến bánh xe vận hành; vì vậy gọi là Chuyển Luân, và nói đến vị
Chuyển Luân ấy. “Sự xuất hiện” (pātubhāva) là sự hiện khởi.
“Bảy” là chỉ số lượng. “Các báu” là chỉ cho ý nghĩa đã được xác
định rõ ràng. Về mặt từ nguyên, chữ “báu” (ratana) ở đây có
nghĩa là làm sinh khởi sự hỷ lạc. Hơn nữa, có câu kệ rằng: “Được tôn kính, vô giá, Từ khi luân
báu sinh khởi, thì không còn
nơi thờ tự chư thiên nào khác; tất cả đều dùng hương hoa
v.v… để cúng dường, đảnh lễ và tôn kính
chính luân báu ấy, do đó gọi
là báu vì được tôn kính.
Luân báu cũng không thể định giá
rằng trị giá bao nhiêu, nên gọi là báu
vì vô giá. Luân báu
không giống với bất kỳ bảo vật nào
có trong thế gian, nên gọi là báu
vì vô song. Lại nữa, vì
trong kiếp nào có Phật xuất hiện
thì trong kiếp ấy mới có Chuyển Luân Thánh Vương, mà Phật
thì rất hiếm khi xuất hiện,
nên gọi là báu vì khó gặp thấy.Hơn
nữa, bảo vật ấy chỉ sinh khởi cho
bậc đại nhân có dòng tộc, quyền lực, phước đức cao quý,
không sinh cho kẻ khác, nên gọi là báu
vì chỉ bậc thượng nhân mới thọ
dụng. Như luân bảo là vậy,
sáu báu còn lại cũng như thế.
“Có sự xuất hiện”
nghĩa là có sự sinh khởi.
Ở đây cần kết nối ý nghĩa như sau: Nói rằng “Do sự xuất hiện
của Chuyển Luân Thánh Vương nên có sự xuất hiện của bảy báu”
— nếu hiểu như vậy thì không hợp lý. Bởi vì không phải do bánh
xe đã sinh khởi rồi mới gọi là Chuyển Luân Thánh Vương, mà là
ngược lại. Vì sao? Vì tính tất yếu của việc vận hành bánh xe.
Người nào nhất định sẽ vận hành bánh xe, thì ngay từ lúc tái
sinh đã có thể được gọi là “Chuyển Luân Thánh Vương đã xuất
hiện”. Và đối với một người đã được đặt tên như vậy, thì
việc nói rằng sự sinh khởi căn bản của người ấy chính là sự xuất
hiện là hoàn toàn hợp lý. Do đó, “sự xuất hiện” của vị Chuyển
Luân Thánh Vương chính là sự tái sinh của vị ấy. Vì do sự xuất
hiện của vị ấy, nên các báu cũng xuất hiện. Và khi các báu ấy đã
xuất hiện, vị ấy kết hợp với kho phước đã chín muồi, lúc ấy
trong thế gian khởi lên nhận thức rằng các báu đã xuất hiện. Do
dùng số nhiều, cách hiểu này cũng là hợp lý. Bởi vì khi nhận
thức về sự xuất hiện của các báu khởi lên trong thế gian, thì
trước tiên chỉ có một báu xuất hiện, sau đó sáu báu còn lại mới
xuất hiện; do đó dùng số nhiều là hợp lý. Lại nữa, xét theo sự
sai biệt về ý nghĩa của “sự xuất hiện”, cách hiểu này cũng hợp
lý. Không chỉ có nghĩa là đã xuất hiện, mà còn có nghĩa là làm
cho xuất hiện. Đây là sự phân biệt ý nghĩa của từ “sự xuất
hiện”. Bởi vì chính kho phước ấy làm cho vị vua xuất hiện với tư
cách là Chuyển Luân Thánh Vương qua sự tái sinh, nên nói là
“do sự xuất hiện của vị Chuyển Luân”. Không phải chỉ riêng
Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện, mà bảy báu ấy cũng xuất hiện
— đó là ý nghĩa ở đây. Giống như kho phước ấy là nhân sinh ra vị
vua, thì các báu cũng là các duyên hỗ trợ theo thứ lớp; do đó,
câu nói: “Này các Tỳ-khưu, do sự xuất hiện của Chuyển Luân
Thánh Vương mà có sự xuất hiện của bảy báu” là hoàn toàn hợp
lý. Tiếp theo, để
chỉ rõ đặc tướng của các báu ấy, kinh nói: “Bảy báu ấy
là những gì? Luân bảo…” v.v… Ý nghĩa tóm lược ở đây là như sau: Đây là phần tóm lược. Tiếp theo, đối với các cụm như “báu của
niệm giác chi” v.v…, cần hiểu
sự tương đồng như sau: Giống như luân bảo của Chuyển Luân Thánh
Vương là vật dẫn đầu tất cả các báu, Giống như tượng bảo của Chuyển Luân Thánh
Vương là vật to lớn, cao vút, hùng mạnh, Giống như mã bảo nhanh, nhẹ và mạnh mẽ, Giống như châu bảo phá tan bóng tối và làm
hiện ánh sáng, Giống như nữ bảo làm lắng dịu sự mệt mỏi
của thân và tâm, làm nguội sự bức bách, Giống như gia chủ bảo, khi bố thí tài sản
đúng lúc, cắt đứt sự tán loạn và làm tâm nhất điểm, Giống như tướng quân bảo hoàn thành mọi
công việc và khiến không còn phải bận tâm, Như vậy, cần biết rằng trong bài kinh này,
toàn bộ hệ thống các pháp thuộc bốn tầng và có khả năng bao trùm
mọi pháp đã được trình bày.
|