BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 25 tháng 12, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46. Tương Ưng Giác Chi - Phẩm Chuyển Luân Vương- SN 46.42
Bài 578. BÁU VẬT Ở ĐỜI -
Kinh Chuyển Luân Vương (Cakkavattisuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-578.jpg ... .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Kinh Chuyển Luân Vương (Cakkavattisuttaṃ) .

Bảy báu thế gian tuy cao quý nhưng chỉ đem lại trật tự và an ổn trong phạm vi luân hồi, còn bảy bảo pháp giác chi mới là những giá trị vô song dẫn đến giải thoát rốt ráo.Như Lai không chỉ là bậc Giác Ngộ cho riêng mình, mà là nhân duyên lớn làm cho toàn bộ kho báu giác ngộ được hiển lộ trong thế gian.
Người tu Phật nhờ vậy được mời gọi quay về tìm kiếm “báu vật” chân thật ngay trong chính tiến trình tu tập bảy giác chi của mình.nhấn mạnh nghe pháp đúng cách: khi lắng nghe với tâm khát khao và chuyên chú, ngay trong khoảnh khắc ấy triền cái lắng xuống và giác chi tăng trưởng.

Kinh Văn

223. “rañño, bhikkhave, cakkavattissa pātubhāvā sattannaṃ ratanānaṃ pātubhāvo hoti. katamesaṃ sattannaṃ? cakkaratanassa pātubhāvo hoti, hatthiratanassa pātubhāvo hoti, assaratanassa pātubhāvo hoti, maṇiratanassa pātubhāvo hoti, itthiratanassa pātubhāvo hoti, gahapatiratanassa pātubhāvo hoti, pariṇāyakaratanassa pātubhāvo hoti. rañño, bhikkhave, cakkavattissa pātubhāvā imesaṃ sattannaṃ ratanānaṃ pātubhāvo hoti.
“tathāgatassa, bhikkhave, pātubhāvā arahato sammāsambuddhassa sattannaṃ bojjhaṅgaratanānaṃ pātubhāvo hoti. katamesaṃ sattannaṃ? satisambojjhaṅgassa ratanassa pātubhāvo hoti ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgassa ratanassa pātubhāvo hoti. tathāgatassa, bhikkhave, pātubhāvā arahato sammāsambuddhassa imesaṃ sattannaṃ bojjhaṅgaratanānaṃ pātubhāvo hotī”ti. dutiyaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi một chuyển luân vương xuất hiện thì bảy báu được xuất hiện. Thế nào là bảy? Đó là sự xuất hiện của xa luân báu, tượng báu, mã báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và tướng quân báu.
Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, khi một Như Lai, một A-la-hán, một Đấng Chánh Đẳng Giác xuất hiện thì bảy báu của các Giác chi được xuất hiện. Thế nào là bảy?
Đó là sự xuất hiện của bảo pháp  niệm giác chi, bảo pháp trạch pháp giác chi, bảo pháp cần giác chi, bảo pháp hỷ giác chi, bảo pháp  khinh an giác chi, bảo pháp định giác chi, và bảo pháp xả giác chi.
Này các Tỳ-khưu, khi một Như Lai, một A-la-hán, một Đấng Chánh Đẳng Giác xuất hiện thì bảy bảo pháp giác chi này được xuất hiện.”

Chú Thích

Theo Sớ giải, gọi  Chuyển Luân (cakkavattī) vì nhờ phước lực đã chín muồi, vị ấy khiến luân báu vận hành, nên bánh xe quyền lực Chánh Pháp được xoay chuyển. Danh xưng này được xác lập ngay từ lúc tái sinh, chứ không phải chỉ sau khi luân báu xuất hiện. Theo Sớ giải, chính phước nghiệp của Chuyển Luân Thánh Vương làm nhân khiến bảy báu lần lượt xuất hiện; do đó, không phải bảy báu sinh trước rồi mới có Chuyển Luân Vương, mà sự xuất hiện của vị vua là nhân chính, còn bảy báu là quả và trợ duyên. Điều nầy thường được nhắc tới trong hệ Phật học Hán Việt là  Chánh báo (正報 - saṃskṛta-pratisaṃdhi hoặc chủng tử chính) và  Y báo (依報 - upabhoga-pratisaṃdhi hoặc môi trường y chỉ)

Sớ giải định nghĩa “báu (ratana)” không theo nghĩa vật chất thông thường, mà dựa trên năm đặc tính: Được tôn kính (cittīkata), Vô giá (mahaggha),Vô song (atula), Cực kỳ hiếm có (dullabhadassana), chỉ bậc thượng nhân mới thọ dụng (anomasattaparibhoga). Do hội đủ các đặc tính này, nên cả bảy báu thế gian lẫn bảy bảo pháp giác chi đều được gọi là “báu”. Theo Sớ giải, bảy báu không xuất hiện đồng loạt, mà xuất hiện theo thứ tự, khởi đầu bằng xa luân báu. Xa luân báu giữ vai trò dẫn đầu, các báu khác làm trợ lực, tương ứng với cấu trúc quyền lực và trật tự thế gian của Chuyển Luân Thánh Vương.

Sớ giải thiết lập một phép đối chiếu tương ứng giữa thất bảo và thất giác chi:

  • Xa luân báu tương ứng Niệm giác chi:
    Xa luân báu dẫn đầu các báu; niệm giác chi dẫn đầu mọi thiện pháp, mở đường cho toàn bộ tiến trình tu tập.
  • Tượng báu tương ứng Trạch pháp giác chi:
    Tượng báu to lớn, vững chãi; trạch pháp giác chi là pháp lớn, nâng đỡ toàn bộ cấu trúc trí tuệ.
  • Mã báu tương ứng Cần (tinh tấn) giác chi:
    Mã báu nhanh, nhẹ; tinh tấn giác chi có công năng thúc đẩy tiến trình tu tập mau lẹ.
  • Ngọc báu tương ứng Hỷ giác chi:
    Ngọc báu phá tan bóng tối và chiếu sáng; hỷ giác chi phá trừ bóng tối phiền não, làm sinh khởi ánh sáng thiện pháp.
  • Nữ báu tương ứng Khinh an giác chi:
    Nữ báu làm lắng dịu thân tâm; khinh an giác chi làm lắng dịu các dao động thân–tâm trong tu tập.
  • Gia chủ báu tương ứng Định giác chi:
    Gia chủ báu gom tài vật đúng lúc, làm việc có trật tự; định giác chi gom tâm, cắt tán loạn, khiến tâm nhất điểm.
  • Tướng quân báu tương ứng Xả giác chi:
    Tướng quân báu hoàn thành mọi việc, khiến vua không phải bận tâm; xả giác chi đưa tâm đến trạng thái quân bình, không còn phải dụng công.

Theo Sớ giải, Như Lai không “tạo ra” bảy giác chi, mà sự xuất hiện của Như Lai là đại duyên khiến: bảy giác chi được khai thị đầy đủ; được thiết lập đúng thứ tự; và được tu tập đến viên mãn trong thế gian.

Sớ Giải

223. dutiye rañño, bhikkhave, cakkavattissāti ettha attano sirisampattiyā rājati, catūhi vā saṅgahavatthūhi lokaṃ rañjetīti rājā, tassa rañño. “pavattatu bhavaṃ cakkaratanan”ti puññānubhāvena abbhuggatāya vācāya codento cakkaṃ vattetīti cakkavattī, tassa cakkavattissa. pātubhāvāti pātubhāvena. sattannanti gaṇanaparicchedo. ratanānanti paricchinnātthadassanaṃ. vacanattho panettha ratijananaṭṭhena ratanaṃ. apica — ♦ “cittīkataṃ mahagghañca, atulaṃ dullabhadassanaṃ. ♦ anomasattaparibhogaṃ, ratanaṃ tena vuccatī”ti. ♦ cakkaratanassa ca nibbattakālato paṭṭhāya aññaṃ devaṭṭhānaṃ nāma na hoti, sabbeva gandhapupphādīhi tasseva pūjañca abhivādanādīni ca karontīti cittīkataṭṭhena ratanaṃ. cakkaratanassa ca “ettakaṃ nāma dhanaṃ agghatī”ti aggho natthi, iti mahagghaṭṭhenāpi ratanaṃ. cakkaratanañca aññehi loke vijjamānaratanehi asadisanti atulaṭṭhena ratanaṃ. yasmā pana yasmiṃ kappe buddhā uppajjanti, tasmiṃyeva cakkavattino, buddhā ca kadāci karahaci uppajjanti, tasmā dullabhadassanaṭṭhena ratanaṃ. tadetaṃ jātirūpakulaissariyādīhi anomassa uḷārasattasseva uppajjati, na aññassāti anomasattaparibhogaṭṭhenāpi ratanaṃ. yathā ca cakkaratanaṃ, evaṃ sesānipīti. tena vuttaṃ — ♦ “cittīkataṃ mahagghañca, atulaṃ dullabhadassanaṃ. ♦ anomasattaparibhogaṃ, ratanaṃ tena vuccatī”ti. ♦ pātubhāvo hotīti nibbatti hoti. tatrāyaṃ yojanā — cakkavattissa pātubhāvā sattannaṃ ratanānaṃ pātubhāvoti ayuttaṃ. uppannañhi cakkaṃ vattetvā so cakkavattī nāma hotīti nāyuttaṃ. kasmā? cakkavattananiyamāpekkhatāya. yo hi niyamena cakkaṃ vattessati, so paṭisandhito pabhuti “cakkavatti pātubhūto”ti vattabbataṃ āpajjati. laddhanāmassa ca purisassa mūluppattivacanatopi yuttamevetaṃ. yo hi esa cakkavattīti laddhanāmo sattaviseso, tassa paṭisandhisaṅkhāto pātubhāvoti ayamettha attho. tassa hi pātubhāvā ratanāni pātubhavanti. pātubhūtehi pana tehi saddhiṃ paripakke puññasambhāre so saṃyujjati, tadā lokassa tesu pātubhāvacittaṃ uppajjati. bahulavacanato cāpi yuttamevetaṃ. yadā hi lokassa tesu pātubhāvasaññā uppajjati, tadā ekameva paṭhamaṃ, pacchā itarāni cha pātubhavantīti bahulavacanato cāpi etaṃ yuttaṃ. pātubhāvassa ca atthabhedatopi yuttamevetaṃ. na kevalañhi pātubhūtameva pātubhāvo, pātubhāvayatīti pātubhāvo. ayaṃ pātubhāvassa atthabhedo. yasmā yo so puññasambhāro rājānaṃ cakkavattiṃ paṭisandhivasena pātubhāvayati, tasmā rañño cakkavattissa pātubhāvā. na kevalañhi cakkavattiyeva, imāni pana satta ratanānipi pātubhavantīti ayamettha attho. yatheva hi so puññasambhāro rañño janakahetu, evaṃ ratanānampi pariyāyena upanissayahetūti yuttamevetaṃ “rañño, bhikkhave, cakkavattissa pātubhāvā sattannaṃ ratanānaṃ pātubhāvo hotī”ti. ♦ idāni tesaṃ ratanānaṃ sarūpavasena dassanatthaṃ katamesaṃ sattannaṃ cakkaratanassātiādimāha. tattha cakkaratanassātiādīsu ayaṃ saṅkhepādhippāyo — dvisahassadīpaparivārānaṃ catunnaṃ mahādīpānaṃ sirivibhavaṃ gahetvā dātuṃ samatthassa cakkaratanassa pātubhāvo hoti, tathā purebhattameva sāgarapariyantaṃ pathaviṃ anupariyāyanasamatthassa vehāsaṅgamassa hatthiratanassa, tādisasseva assaratanassa, caturaṅgasamannāgatepi andhakāre yojanappamāṇaṃ andhakāraṃ vidhamitvā ālokadassanasamatthassa maṇiratanassa, chabbidhaṃ dosaṃ vivajjetvā manāpacārino itthiratanassa, yojanappamāṇe padese antopathavigatānaṃ nidhīnaṃ dassanasamatthassa gahapatiratanassa, aggamahesiyā kucchimhi nibbattitvā sakalarajjānusāsanasamatthassa jeṭṭhaputtasaṅkhātassa pariṇāyakaratanassa ca pātubhāvo hotīti. ayamettha saṅkhepo. vitthārato pana tesaṃ cakkaratanādīnaṃ pātubhāvavidhānaṃ mahāsudassanādīsu suttesu āgatameva. atthopissa tesaṃ vaṇṇanāya saṃvaṇṇitoyeva. ♦ satisambojjhaṅgaratanassātiādīsu sarikkhakatā evaṃ veditabbā — yatheva hi cakkavattino cakkaratanaṃ sabbaratanānaṃ purecaraṃ, evaṃ satisambojjhaṅgaratanaṃ sabbesaṃ catubhūmakadhammānaṃ purecaranti, purecaraṇaṭṭhena cakkavattirañño cakkaratanasadisaṃ hoti. cakkavattino ca ratanesu mahākāyūpapannaṃ accuggataṃ vipulaṃ mahantaṃ hatthiratanaṃ, idampi dhammavicayasambojjhaṅgaratanaṃ mahantaṃ dhammakāyūpapannaṃ accuggataṃ vipulaṃ mahantanti hatthiratanasadisaṃ hoti. cakkavattino assaratanaṃ sīghaṃ lahu javaṃ, idampi vīriyasambojjhaṅgaratanaṃ sīghaṃ lahu javanti imāya sīghalahujavatāya assaratanasadisaṃ hoti. cakkavattino maṇiratanaṃ andhakāraṃ vidhamati, ālokaṃ dasseti, idampi pītisambojjhaṅgaratanaṃ tāya ekantakusalattā kilesandhakāraṃ vidhamati, sahajātapaccayādivasena ñāṇālokaṃ dassetīti iminā andhakāravidhamanāalokadassanabhāvena maṇiratanasadisaṃ hoti. ♦ cakkavattino itthiratanaṃ kāyacittadarathaṃ paṭipassambheti, pariḷāhaṃ vūpasameti. idampi passaddhisambojjhaṅgaratanaṃ kāyacittadarathaṃ paṭipassambheti, pariḷāhaṃ vūpasametīti itthiratanasadisaṃ hoti. cakkavattino gahapatiratanaṃ icchiticchitakkhaṇe dhanadānena vikkhepaṃ pacchinditvā cittaṃ ekaggaṃ karoti, idampi samādhisambojjhaṅgaratanaṃ yathicchitādivasena appanaṃ sampādeti, vikkhepaṃ pacchinditvā cittaṃ ekaggaṃ karotīti gahapatiratanasadisaṃ hoti. cakkavattino ca pariṇāyakaratanaṃ sabbatthakiccasampādanena appossukkataṃ karoti. idampi upekkhāsambojjhaṅgaratanaṃ cittuppādaṃ līnuddhaccato mocetvā payogamajjhatte ṭhapayamānaṃ appossukkataṃ karotīti pariṇāyakaratanasadisaṃ hoti. iti imasmiṃ sutte catubhūmako sabbasaṅgāhikadhammaparicchedo kathitoti veditabbo.

Trong bài kinh thứ hai, nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, với sự xuất hiện của vị vua Chuyển Luân”. Ở đây, gọi là vua (rājā) vì vị ấy trị vì bằng phước đức và uy nghi của chính mình, hoặc vì làm đẹp lòng và nhiếp phục thế gian bằng bốn nhiếp pháp; do đó gọi là vua, và nói đến vị vua ấy.

Gọi là Chuyển Luân (cakkavattī) vì vị ấy, do lời phát khởi được nâng đỡ bởi năng lực phước đức, thúc đẩy bánh xe rằng: “Nguyện cho luân bảo này được vận hành”, và khiến bánh xe vận hành; vì vậy gọi là Chuyển Luân, và nói đến vị Chuyển Luân ấy.

“Sự xuất hiện” (pātubhāva) là sự hiện khởi. “Bảy” là chỉ số lượng. “Các báu” là chỉ cho ý nghĩa đã được xác định rõ ràng. Về mặt từ nguyên, chữ “báu” (ratana) ở đây có nghĩa là làm sinh khởi sự hỷ lạc.

Hơn nữa, có câu kệ rằng:

“Được tôn kính, vô giá,
Hiếm hoi, khó sánh bằng,
chỉ thượng nhân mới có,
Do vậy gọi là báu.”

Từ khi luân báu sinh khởi, thì không còn nơi thờ tự chư thiên nào khác; tất cả đều dùng hương hoa v.v… để cúng dường, đảnh lễ và tôn kính chính luân báu ấy, do đó gọi là báu vì được tôn kính. Luân báu cũng không thể định giá rằng trị giá bao nhiêu, nên gọi là báu vì vô giá. Luân báu không giống với bất kỳ bảo vật nào có trong thế gian, nên gọi là báu vì vô song. Lại nữa, vì trong kiếp nào có Phật xuất hiện thì trong kiếp ấy mới có Chuyển Luân Thánh Vương, mà Phật thì rất hiếm khi xuất hiện, nên gọi là báu vì khó gặp thấy.Hơn nữa, bảo vật ấy chỉ sinh khởi cho bậc đại nhân có dòng tộc, quyền lực, phước đức cao quý, không sinh cho kẻ khác, nên gọi là báu vì chỉ bậc thượng nhân mới thọ dụng.

Như luân bảo là vậy, sáu báu còn lại cũng như thế.

“Có sự xuất hiện” nghĩa là có sự sinh khởi. Ở đây cần kết nối ý nghĩa như sau: Nói rằng “Do sự xuất hiện của Chuyển Luân Thánh Vương nên có sự xuất hiện của bảy báu” — nếu hiểu như vậy thì không hợp lý. Bởi vì không phải do bánh xe đã sinh khởi rồi mới gọi là Chuyển Luân Thánh Vương, mà là ngược lại. Vì sao? Vì tính tất yếu của việc vận hành bánh xe. Người nào nhất định sẽ vận hành bánh xe, thì ngay từ lúc tái sinh đã có thể được gọi là “Chuyển Luân Thánh Vương đã xuất hiện”. Và đối với một người đã được đặt tên như vậy, thì việc nói rằng sự sinh khởi căn bản của người ấy chính là sự xuất hiện là hoàn toàn hợp lý. Do đó, “sự xuất hiện” của vị Chuyển Luân Thánh Vương chính là sự tái sinh của vị ấy. Vì do sự xuất hiện của vị ấy, nên các báu cũng xuất hiện. Và khi các báu ấy đã xuất hiện, vị ấy kết hợp với kho phước đã chín muồi, lúc ấy trong thế gian khởi lên nhận thức rằng các báu đã xuất hiện. Do dùng số nhiều, cách hiểu này cũng là hợp lý. Bởi vì khi nhận thức về sự xuất hiện của các báu khởi lên trong thế gian, thì trước tiên chỉ có một báu xuất hiện, sau đó sáu báu còn lại mới xuất hiện; do đó dùng số nhiều là hợp lý. Lại nữa, xét theo sự sai biệt về ý nghĩa của “sự xuất hiện”, cách hiểu này cũng hợp lý. Không chỉ có nghĩa là đã xuất hiện, mà còn có nghĩa là làm cho xuất hiện. Đây là sự phân biệt ý nghĩa của từ “sự xuất hiện”. Bởi vì chính kho phước ấy làm cho vị vua xuất hiện với tư cách là Chuyển Luân Thánh Vương qua sự tái sinh, nên nói là “do sự xuất hiện của vị Chuyển Luân”. Không phải chỉ riêng Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện, mà bảy báu ấy cũng xuất hiện — đó là ý nghĩa ở đây. Giống như kho phước ấy là nhân sinh ra vị vua, thì các báu cũng là các duyên hỗ trợ theo thứ lớp; do đó, câu nói: “Này các Tỳ-khưu, do sự xuất hiện của Chuyển Luân Thánh Vương mà có sự xuất hiện của bảy báu” là hoàn toàn hợp lý.

Tiếp theo, để chỉ rõ đặc tướng của các báu ấy, kinh nói: “Bảy báu ấy là những gì? Luân bảo…” v.v…

Ý nghĩa tóm lược ở đây là như sau:
Có sự xuất hiện của luân báu, có khả năng ban bố vinh quang và phú quý cho bốn đại châu được bao quanh bởi hai ngàn đảo nhỏ;
có sự xuất hiện của tượng báu, có khả năng đi khắp đại địa cho đến ranh giới đại dương chỉ trong buổi sáng;
cũng vậy đối với mã báu;
có sự xuất hiện của châu báu, có khả năng phá tan bóng tối trong phạm vi một do-tuần và làm hiện ánh sáng, dù là giữa đêm tối bốn phía;
có sự xuất hiện của nữ báu, người loại bỏ sáu loại lỗi lầm và có phong thái khả ái;
có sự xuất hiện của gia chủ báu, có khả năng thấy được các kho tàng nằm sâu trong lòng đất trong phạm vi một do-tuần;
và có sự xuất hiện của tướng quân báu, người sinh trong thai của hoàng hậu tối thượng, có khả năng cai trị toàn vương quốc.

Đây là phần tóm lược.
Còn chi tiết về sự xuất hiện của luân bảo v.v… đã được trình bày đầy đủ trong các kinh như Mahāsudassana, và ý nghĩa của chúng cũng đã được giải thích ở đó.

Tiếp theo, đối với các cụm như “báu của niệm giác chi” v.v…, cần hiểu sự tương đồng như sau:

Giống như luân bảo của Chuyển Luân Thánh Vương là vật dẫn đầu tất cả các báu,
cũng vậy, niệm giác chi là pháp dẫn đầu tất cả các pháp thuộc bốn tầng; do đó, xét về tính dẫn đầu, nó tương tự như luân bảo.

Giống như tượng bảo của Chuyển Luân Thánh Vương là vật to lớn, cao vút, hùng mạnh,
cũng vậy, trạch pháp giác chi là pháp lớn lao, thuộc về pháp thân, cao thượng, rộng lớn; do đó nó tương tự như tượng bảo.

Giống như mã bảo nhanh, nhẹ và mạnh mẽ,
cũng vậy, tinh tấn giác chi nhanh, nhẹ và mạnh; do đó tương tự như mã bảo.

Giống như châu bảo phá tan bóng tối và làm hiện ánh sáng,
cũng vậy, hỷ giác chi, do thuần thiện, phá tan bóng tối phiền não và làm hiện ánh sáng trí tuệ; do đó tương tự như châu bảo.

Giống như nữ bảo làm lắng dịu sự mệt mỏi của thân và tâm, làm nguội sự bức bách,
cũng vậy, khinh an giác chi làm lắng dịu thân tâm và làm nguội các nhiệt não; do đó tương tự như nữ bảo.

Giống như gia chủ bảo, khi bố thí tài sản đúng lúc, cắt đứt sự tán loạn và làm tâm nhất điểm,
cũng vậy, định giác chi thành tựu an chỉ theo ý muốn, cắt đứt tán loạn và làm tâm nhất điểm; do đó tương tự như gia chủ bảo.

Giống như tướng quân bảo hoàn thành mọi công việc và khiến không còn phải bận tâm,
cũng vậy, xả giác chi giải thoát tâm khỏi hôn trầm và trạo cử, đặt tâm vào trung đạo trong sự vận hành, khiến không còn phải dụng công; do đó tương tự như tướng quân bảo.

Như vậy, cần biết rằng trong bài kinh này, toàn bộ hệ thống các pháp thuộc bốn tầng và có khả năng bao trùm mọi pháp đã được trình bày.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

V. Phẩm Chuyển Luân

42.II. Chuyển Luân (Tạp 27, 10. Ðại 2, 194a) (S.v,99)

1) ...

2) -- Cùng với sự xuất hiện của vua Chuyển luân, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu. Thế nào là bảy?

3) Sự xuất hiện của bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, châu ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, sự xuất hiện của tướng quân báu. Cùng với sự xuất hiện của vua Chuyển luân, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu này.

4) Cùng với sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu giác chi. Thế nào là bảy?

5) Niệm giác chi báu xuất hiện... Xả giác chi báu xuất hiện. Cùng với sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy giác chi báu này.