BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 27 tháng 12, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46. Tương Ưng Giác Chi - Phẩm Chuyển Luân Vương- SN 46.43 đén SN 46. 50
Bài 579. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ HIỆU NĂNG THẤT GIÁC CHI
-
- 43. Kinh Ma (Mārasutta), - 44. Kinh Kẻ U Mê (Duppaññasuttaṃ), - 45. Kinh Người Sáng Suốt (Paññavantasuttaṃ), - 46. Kinh Kẻ Nghèo Nàn (Daliddasutta), - 47. Kinh Phú Túc (Aḍḍhasutta), - 48. Kinh Mặt Trời (ādiccasutta), - 49. Kinh Nhân tố nội tại (Ajjhattikaṅgasuttaṃ ), - 50. Kinh Nhân tố Ngoại tại (Bāhiraṅgasuttaṃ). .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-579.jpg ... .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngCác bài kinh từ 43 đến 50 thuộc chương Bảy Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta) nhấn mạnh vai trò trung tâm của bảy giác chi (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả) trong việc tu tập dẫn đến giác ngộ. Bảy giác chi được ví như con đường mạnh mẽ nghiền nát quân đội Ma vương, biểu tượng cho mọi chướng ngại phiền não và lực lượng bất thiện. Những ai không tu tập và làm sung mãn bảy giác chi  gọi là “người thiếu trí” và “nghèo nàn” về mặt tâm linh, trong khi người tu tập chúng được xem là “có trí tuệ tỉnh giác” và “sung mãn”. Thiện hữu tri thức (kalyanamitta) được Đức Phật chỉ ra là tiền phong ngoại tại quan trọng nhất, giống như bình minh báo hiệu mặt trời mọc, giúp bảy giác chi khởi sinh và phát triển. Như lý tác ý (yoniso manasikāra) lại là yếu tố nội tại then chốt, hỗ trợ mạnh mẽ cho sự khởi sinh của các giác chi. Qua đó, Đức Phật dạy rằng bảy giác chi không chỉ là phương tiện tu tập mà còn là tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ hay suy thoái trên con đường giải thoát.

Kinh Văn

43. Kinh Ma (Mārasutta)

224. “Mārasenappamaddanaṃ vo, bhikkhave, maggaṃ desessāmi; taṃ suṇātha. Katamo ca, bhikkhave, mārasenappamaddano maggo? Yadidaṃ—satta bojjhaṅgā. Katame satta? Satisambojjhaṅgo … pe … upekkhāsambojjhaṅgo. Ayaṃ kho, bhikkhave, mārasenappamaddano maggo.”

“Này các tỳ-khưu, Ta sẽ giảng cho các Thầy con đường đè bẹp đạo binh của Ma vương; hãy lắng nghe. Này các tỳ-khưu, thế nào là con đường đè bẹp đạo binh của Ma vương? Chính là bảy giác chi.

Bảy pháp gồm những gì? niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi. Này các tỳ-khưu, đó chính là con đường đè bẹp đạo binh của Ma vương.”


44. Kinh U Mê (Duppaññasuttaṃ)

 225. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “‘duppañño eḷamūgo, duppañño eḷamūgo’ti, bhante, vuccati. kittāvatā nu kho, bhante, ‘duppañño eḷamūgo’ti vuccatī”ti? “sattannaṃ kho, bhikkhu, bojjhaṅgānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā ‘duppañño eḷamūgo’ti vuccati. katamesaṃ sattannaṃ? satisambojjhaṅgassa ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgassa — imesaṃ kho, bhikkhu, sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā ‘duppañño eḷamūgo’ti vuccatī”ti. catutthaṃ.

Rồi một tỳ-khưu nọ đi đến Thế Tôn …
“Bạch Thế Tôn, nói rằng‘kẻ u mê, kẻ u mê”. Ở phương diện nào, bạch Thế Tôn, mà một người được gọi là kẻ u mê?”
“Này  Tỳ-khưu, ở đây một tỳ-khưu không tu tập, không làm cho sung mãn bảy giác chi. Do vậy người ấy được gọi là ‘kẻ u mê’. Bảy pháp gồm những gì? niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi.   Này các tỳ-khưu, chính do không tu tập, không làm cho sung mãn bảy giác chi này mà người ấy được gọi là ‘kẻ u mê’.”


45. Kinh Người Sáng Suốt (Paññavantasuttaṃ)

226. “‘paññavā aneḷamūgo, paññavā aneḷamūgo’ti, bhante, vuccati. kittāvatā nu kho, bhante, ‘paññavā aneḷamūgo’ti vuccatī”ti? “sattannaṃ kho, bhikkhu, bojjhaṅgānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā ‘paññavā aneḷamūgo’ti vuccati. katamesaṃ sattannaṃ? satisambojjhaṅgassa ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgassa — imesaṃ kho, bhikkhu, sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā ‘paññavā aneḷamūgo’ti vuccatī”ti. pañcamaṃ.

1. “Bạch Thế Tôn, có nói ‘người khôn ngoan, người tỉnh giác’.
Ở phương diện nào, bạch Thế Tôn, mà một người được gọi là khôn ngoan, tỉnh giác?”
2. “Này Tỳ-khưu, ở đây một tỳ-khưu tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi.
Do vậy người ấy được gọi là ‘khôn ngoan, tỉnh giác’. Bảy pháp gồm những gì? niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi.  Ở phương diện nầy, này Tỳ-khưu, một người được gọi là khôn ngoan, tỉnh giác.


46. Kinh Kẻ Nghèo Nàn (Daliddasutta)

227. “‘daliddo, daliddo’ti, bhante, vuccati. kittāvatā nu kho, bhante, ‘daliddo’ti vuccatī”ti? “sattannaṃ kho, bhikkhu, bojjhaṅgānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā ‘daliddo’ti vuccati. katamesaṃ sattannaṃ? satisambojjhaṅgassa ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgassa — imesaṃ kho, bhikkhu, sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā ‘daliddo’ti vuccatī”ti. chaṭṭhaṃ.

“Bạch Thế Tôn, có nói ‘nghèo nàn, nghèo nàn’. Ở phương diện nào, bạch Thế Tôn, mà một người được gọi là nghèo nàn?”

“Này Tỳ-khưu, do không tu tập, không làm cho sung mãn bảy giác chi, nên người ấy được gọi là ‘nghèo nàn’. Bảy pháp gồm những gì? niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi.  Ở phương diện nầy, này Tỳ-khưu, một người được gọi là “người nghèo nàn”


47. Kinh Phú Túc (Aḍḍhasutta)

228. “‘adaliddo, adaliddo’ti, bhante, vuccati. kittāvatā nu kho, bhante, ‘adaliddo’ti vuccatī”ti? “sattannaṃ kho, bhikkhu, bojjhaṅgānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā ‘adaliddo’ti vuccati. katamesaṃ sattannaṃ? satisambojjhaṅgassa ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgassa — imesaṃ kho, bhikkhu, sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā ‘adaliddo’ti vuccatī”ti. sattamaṃ.

“Bạch Thế Tôn, có nói ‘phú túc, phú túc’. Theo mức độ nào, bạch Thế Tôn, mà một người được gọi là phú túc?”

“Này Tỳ-khưu, do tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi, nên người ấy được gọi là ‘phú túc’. Bảy pháp gồm những gì? niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi.  Ở phương diện nầy, này Tỳ-khưu, một người được gọi là  “người phú túc”


48. Kinh Mặt Trời (ādiccasutta)

229. “ādiccassa, bhikkhave, udayato etaṃ pubbaṅgamaṃ etaṃ pubbanimittaṃ, yadidaṃ — aruṇuggaṃ. evameva kho, bhikkhave, bhikkhuno sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ uppādāya etaṃ pubbaṅgamaṃ etaṃ pubbanimittaṃ, yadidaṃ — kalyāṇamittatā. kalyāṇamittassetaṃ, bhikkhave, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṃ — satta bojjhaṅge bhāvessati, satta bojjhaṅge bahulīkarissati. kathañca, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto satta bojjhaṅge bhāveti, satta bojjhaṅge bahulīkaroti? idha, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto satta bojjhaṅge bhāveti, satta bojjhaṅge bahulīkarotī”ti. aṭṭhamaṃ.

“Ví như, này các tỳ-khưu, rạng đông là dự báo và dấu hiệu cho biết trước cho mặt trời mọc; cũng vậy, này các tỳ-khưu, đối với một tỳ-khưu, thiện hữu là dự báo và dấu hiệu cho biết trước cho sự sinh khởi của bảy giác chi. Này các tỳ-khưu, một tỳ-khưu có thiện hữu sẽ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi.

Và này các tỳ-khưu, thế nào là tỳ-khưu có thiện hữu tu tập bảy giác chi? Ở đây, vị ấy tu tập niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi.  y cứ trên viễn ly, y cứ trên ly tham, y cứ trên đoạn diệt, hướng dến giải thoát.”  Này các tỳ-khưu, trong cách nầy một tỳ-khưu có thiện hữu sẽ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi.


49. Kinh Nhân tố nội tại (Ajjhattikaṅgasuttaṃ )

230. “ajjhattikaṃ, bhikkhave, aṅganti karitvā nāññaṃ ekaṅgampi samanupassāmi sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ uppādāya, yathayidaṃ — bhikkhave, yonisomanasikāro. yonisomanasikārasampannassetaṃ, bhikkhave, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṃ — satta bojjhaṅge bhāvessati, satta bojjhaṅge bahulīkarissati. kathañca, bhikkhave, bhikkhu yonisomanasikārasampanno satta bojjhaṅge bhāveti, satta bojjhaṅge bahulīkaroti? idha, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu yonisomanasikārasampanno satta bojjhaṅge bhāveti, satta bojjhaṅge bahulīkarotī”ti. navamaṃ.

“Này các tỳ-khưu, trong các pháp nội tại, Ta không thấy một pháp nào khác giúp ích cho sự sinh khởi của bảy giác chi nhiều như tác ý như lý. Này các tỳ-khưu, một tỳ-khưu thành tựu tác ý như lý sẽ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi.” Bảy pháp gồm những gì? niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi. 

Này các tỳ-khưu, một tỳ-khưu thành tựu tác ý như lý sẽ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi.”


50. Kinh Nhân tố Ngoại tại (Bāhiraṅgasuttaṃ)

231. “bāhiraṃ, bhikkhave, aṅganti karitvā nāññaṃ ekaṅgampi samanupassāmi sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ uppādāya, yathayidaṃ — bhikkhave, kalyāṇamittatā. kalyāṇamittassetaṃ, bhikkhave, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṃ — satta bojjhaṅge bhāvessati, satta bojjhaṅge bahulīkarissati. kathañca, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto satta bojjhaṅge bhāveti, satta bojjhaṅge bahulīkaroti? idha, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto satta bojjhaṅge bhāveti, satta bojjhaṅge bahulīkarotī”ti. dasamaṃ.

“Này các tỳ-khưu, trong các pháp ngoại tại, Ta không thấy một pháp nào khác giúp ích cho sự sinh khởi của bảy giác chi nhiều như thiện hữu.
Này các tỳ-khưu, một tỳ-khưu có thiện hữu sẽ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi.” Bảy pháp gồm những gì? niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi. 

Này các tỳ-khưu, một tỳ-khưu có thiện hữu sẽ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi.

Chú Thích

Theo Sớ Giải giải thích mārasenā không chỉ là Ma vương nhân cách hóa, mà là toàn bộ các pháp bất thiện gồm năm triền cái (pañca nīvaraṇā), Ái (taṇhā), Vô minh (avijjā), và mọi pháp đưa đến luân hồi. Do đó, “đè bẹp đạo binh Ma” đồng nghĩa đoạn tận các duyên sinh bất thiện.

Theo Sớ Giải: bảy giác chi không chỉ là pháp trợ đạo, mà khi viên mãn thì đồng thời làm nhiệm vụ của Đạo chi (maggaṅga). Hậu Sớ Giải  nhấn mạnh: “Magga-bojjhaṅgā missakā” – các giác chi này hoà quyện với đạo chi, có khả năng sinh khởi tâm siêu thế.


Theo Sớ Giải dummedha có nghĩa thiếu trí tuệ giải thoát, không phải kém thông minh. Người có học, giỏi luận lý, nhưng không tu bảy giác chi  vẫn là dummedha.: vì bảy giác chi là điều kiện trực tiếp cho nibbedha (thâm nhập Tứ Thánh Đế). Vì hông tu thất giác chi là đóng kín cửa giải thoát, nên gọi là ngu. Dummedha là đánh giá trên bình diện đạo quả, không phải xã hội.


Theo Sớ Giải có sự phân biệt:Paṇḍita: người biết chọn đúng pháp; Nipuṇa: người tinh tế trong thực hành, không thô tháo. Vì bảy giác chi tự động điều chỉnh cực đoan và Trạch pháp, Hỷ, Định,  Xả giúp người ấy không lệch về hôn trầm hay trạo cử. Sự khôn ngoan ở đây hàm ý cân bằng nội tâm, không phải tích lũy kiến thức.


Theo Sớ Giải: dalidda (nghèo) là nghèo pháp giải thoát. Aḍḍha (phú túc) = giàu thánh tài (ariya-dhana). Bảy giác chi chính là tài sản không mất, không bị vua tịch thu, trộm cướp, lửa, nước, chết phá hủy. Người xuất gia nghèo vật chất nhưng đủ giác chi được xem là đại phú.


Theo Sớ Giải “rạng đông - aruṇa” không làm mặt trời mọc, nhưng báo chắc chắn rằng mặt trời sắp mọc. Tương tự, thiện hữu không trực tiếp tạo giác ngộ, nhưng bảo đảm điều kiện đúng. Nhờ thiện hữu: chỉ ra đối tượng đúng cho yoniso manasikāra, nhắc nhở khi lệch hướng, bảo vệ khỏi tà kiến vi tế.Không có thiện hữu, giác chi dễ biến thành pháp thế gian.


Theo Sớ Giải mọi giác chi đều sinh từ như lý tác ý. Từ đó tạo ra: Niệm đúng, Trạch pháp đúng, Tinh tấn đúng  … Không có yoniso manasikāra, mọi pháp tu đều trượt sang sự lệch hướng.


Theo Sớ Giải: ngoài tâm mình, không có pháp nào ảnh hưởng mạnh bằng bạn lành. Ngay cả chỗ ở, khí hậu, vật thực đều đứng sau thiện hữu. Và cũng theo Sớ Giải hai pháp Thiện hữu (bên ngoài) là sự hỗ trợ trong lúc như lý tác ý (bên trong) là sự đặt để trí tuệ đúng chỗ. Hai pháp này phải song hành, không thể thay thế nhau.

Sớ Giải

Vì sớ giải của nhiều kinh trên quá dài nên lược dịch ghi vào chú thích

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

IV. Phẩm Chuyển Luân

43.III. Màra (S.v,99)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường đưa đến chinh phục Ma quân. Hãy lắng nghe.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến chinh phục Ma quân? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác chi. Ðây là con đường, này các Tỷ-kheo, đưa đến chinh phục Ma quân.

44.IV. Liệt Tuệ (Duppanna) (S.v,99)

1) ...

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến... ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

3) -- "Kẻ liệt tuệ ngu đần, kẻ liệt tuệ ngu đần", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là liệt tuệ ngu đần?

4) -- Do bảy giác chi không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Tỷ-kheo, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác chi.

5) Này các Tỷ-kheo, chính do bảy giác chi này không được tu tập, không được làm cho sung mãn, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần.

45.V. Có Trí Tuệ (S.v,100)

1-2) ...

3) -- "Có trí tuệ không ngu đần, có trí tuệ không ngu đần", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là có trí tuệ không ngu đần?

4) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này các Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần. Thế nào là bảy giác chi này? Niệm giác chi... Xả giác chi.

5) Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần.

46.VI. Bần Cùng (Daliddo) (S.v,100)

1-2) ...

3) -- "Bần cùng, bần cùng", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bần cùng?

4) -- Do không tu tập, do không làm cho sung mãn bảy giác chi, nên được gọi là bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác chi.

5) Do không tu tập, không làm cho sung mãn bảy giác chi này, này Tỷ-kheo, được gọi là bần cùng.

47.VII. Không Bần Cùng (S.v,100)

1-2) ...

3) -- "Không bần cùng, không bần cùng", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là không bần cùng?

4) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này Tỷ-kheo, được gọi là không bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác chi.

5) Chính do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này nên được gọi là không bần cùng.

48.VIII. Mặt Trời (S.v,101)

1) ...

2) -- Cái này là điềm đi trước, này các Tỷ-kheo, cái này là tướng báo trước mặt trời mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, cái này là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là làm bạn với thiện (kalyànamittatà).

3) Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, được tu tập bảy giác chi, được làm cho sung mãn bảy giác chi?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

49.IX. Chi Phần (1) (Tạp 27, 20, Ðại 2, 196a) (S.v,101)

1) ...

2) -- Sau khi làm thành nội chi phần, này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một phần nào khác khiến bảy giác chi được sanh khởi, này các Tỷ-kheo, thành phần ấy tức là như lý tác ý.

3) Với Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

50.X. Chi Phần (2) (S.v,102)

1) ...

2) -- Sau khi làm thành ngoại chi phần, này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một chi phần nào khác khiến bảy giác chi được sanh khởi, này các Tỷ-kheo, chi phần ấy tức làm bạn với thiện.

3) Với Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.