|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư ngày 03 tháng 02, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Bài 101. Kinh Devadaha (Devadaha Sutta) tiếp theo, phân đoạn 491 đến 494.
Devadaha là tên một thị trấn lớn trong vương quốc của giòng
tộc Sakka (Thích Ca). Bài kinh nầy là một pháp thoại của Đức
Phật dạy cho chư tỳ kheo mà trong đó Ngài dạy về những khiếm
khuyết khi nếp tín ngưỡng hay sự hành trì dựa trên giáo
thuyết định mệnh. Thật ra ngày nay có rất nhiều Phật tử
thuộc cả hai giới xuất gia và tại gia hiểu giáo lý nghiệp
báo như định mệnh. Điều đó sai lầm từ trong căn bản. Phải
đọc bài kinh nầy thật kỷ để hiểu rõ tại sao.
491.
Nếu mười tùy thuyết là đúng thì sự tu khổ hạnh của Đạo Jain
đáng chỉ trích
Đức Thế Tôn đã đưa ra mười giả thuyết (vādānuvādā) mà qua đó
nếu những giả thuyết nầy đúng với sự thật thì sự hành trì
khổ hạnh của
Nigaṇṭha
đáng chỉ trích:
(1) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân các việc làm
quá khứ, lãnh thọ lạc khổ, thời này các Tỷ- kheo,
các Nigaṇṭha thật sự đã làm những ác hạnh trong
thời quá khứ, nên nay họ phải lãnh thọ những cảm
giác đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.
(2) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân một vị Tạo
hóa tạo ra lãnh thọ những cảm giác lạc khổ, thời
này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha a thật sự được tạo ra
bởi một vị Tạo hóa ác độc, vì rằng nay họ lãnh
thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ.
(3) Như
vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết
hợp các điều kiện (saṅgātibhāva), thọ lãnh lạc khổ,
thời này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha thật sự bị ác
kết hợp, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác
đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.
(4) Này
các Tỷ-kheo, nếu các loài hữu tình do nhân sanh
loại (ahbijāti) lãnh thọ những cảm giác lạc khổ,
thời này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha thật sự bị ác
sinh loại, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác
đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.
(5) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh tấn hiện
tại, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các
Nigantha thật sự đã tạo ác tinh tấn hiện tại, vì
rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực
khổ, thống khổ.
(6) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân việc làm quá
khứ thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ
trích. Nếu các hữu tình không do nhân việc làm quá
khứ thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ
trích.
(7) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân được một vị
Tạo hóa tạo ra thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng
bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân được
một vị Tạo hóa tạo ra thọ lãnh lạc khổ, các
Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích.
(8) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các
điều kiện thọ lãnh lạc khổ, các Nigantha đáng bị
chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân kết hợp
các điều kiện thọ lãnh lạc khổ các Nigaṇṭha đáng
bị chỉ trích.
(9) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại thọ
lãnh lạc khổ, các Nigantha đáng bị chỉ trích. Nếu
các hữu tình không do nhân sanh loại thọ lãnh lạc
khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích.
(10) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh cần hiện
tại thọ lãnh lạc khổ, các Nigantha đáng bị chỉ
trích. Nếu các hữu tình không do nhân tinh cần hiện
tại thọ lãnh lạc khổ, các Nigantha đáng bị chỉ
trích.
Này các
Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha nói
như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết
hợp pháp các Nigaṇṭha đã
nói như vậy đưa đến sự chỉ trích. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, sự tinh tấn của các Nigaṇṭha
là không có kết
quả, sự tinh cần của họ là không có kết quả.
492.
Sự nỗ lực hiện tại có lợi lạc
Phải thấy được giá trị của sự cải thiện cuộc sống bằng ý
chí. Chỉ cần vài thí dụ có thể thấy điều đó:
Này các
Tỷ-kheo, ví như một người luyến ái một nữ nhân,
tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến
mộ. Người ấy thấy nữ nhân này đứng với một
người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười
cợt. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người
ấy, khi thấy nữ nhân này đứng với một người đàn
ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, có
sanh sầu, bi, khổ, ưu, não không?
-- Thưa
có vậy, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Vì rằng người
ấy luyến ái nữ nhân kia, tâm tư say đắm, nhiệt
tình ái mộ, nhiệt tình luyến mộ. Do vậy, người ấy
khi thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông
khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, nên sanh
sầu, bi, khổ, ưu, não.
-- Nhưng
này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau:
"Ta luyến ái nữ nhân
này,
tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến
mộ. Khi ta thấy nữ nhân này đứng với một người
đàn ông khác, nói chuyện đùa giỡn và cười cợt, ta
sanh sầu, bi, khổ, ưu, não. Vậy ta hãy bỏ lòng tham
luyến đối với nữ nhân này". Rồi người ấy bỏ lòng
tham luyến đối với nữ nhân kia. Sau một thời gian,
người ấy thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn
ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt. Này
các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy khi
thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác,
nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, có sanh sầu, bi,
khổ, ưu não, không?
-- Bạch
Thế Tôn không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn vì rằng,
người này đối với nữ nhân kia không còn tham
luyến. Do vậy, khi thấy nữ nhân kia đứng với một
người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười
cợt, người ấy không sanh sầu bi, khổ, ưu, não.
-- Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, (một người) không để cho tự
ngã chưa bị nhiếp phục, bị đau khổ nhiếp phục và
không từ bỏ lạc thọ hợp pháp, và không để lạc
thọ ấy chi phối. Vị ấy biết như sau: "Trong khi ta
tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ này, do chống
lại nguyên nhân đau khổ, ta không có tham dục. Nhưng
trong khi ta xả đối với nguyên nhân đau khổ này,
trong khi tu tập xả, ta không có tham dục". Khi (vị
ấy) tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, do tinh
cần chống lại nguyên nhân đau khổ, vị ấy không có
tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tinh cần chống lại
(nguyên nhân đau khổ). Nhưng trong khi vị ấy xả đối
với nguyên nhân đau khổ, trong khi tu tập xả, vị ấy
không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tu tập xả.
Trong khi vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau
khổ ấy, do tinh cần chống lại nguyên nhân, vị ấy
không có tham dục. Như vậy, sự đau khổ đối với vị
ấy được diệt tận. Trong khi vị ấy xả đối với
nguyên nhân đau khổ ấy, trong khi tu tập xả, vị ấy
không có tham dục. Như vậy, sự đau khổ đối với vị
ấy được diệt tận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
sự tinh tấn có kết quả, sự tinh cần có kết quả.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo lại suy nghĩ như
sau: "Khi ta trú vào lạc, bất thiện pháp tăng
trưởng, thiện pháp giảm thiểu. Nhưng khi ta tinh cần
dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp
giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vậy ta hãy
tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã". Vị ấy tinh
cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Do tinh cần dùng
đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm
thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vị ấy sau một
thời gian, không tinh cần dùng đau khổ chống với tự
ngã. Vì sao vậy? Vì mục đích vị Tỷ-kheo ấy tinh
cần dùng đau khổ chống với tự ngã đã thành tựu. Do
vậy, sau một thời gian vị ấy không tinh cần dùng đau
khổ chống với tự ngã.
Ví như,
này các Tỷ-kheo, một người làm tên, hơ nóng và
đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến thân
tên được thẳng và dễ uốn nắn. Nhưng này các
Tỷ-kheo, khi thân tên của người làm tên, đã được
hơ nóng và đốt nóng giữa hai ngọn lửa trở thành
thẳng và dễ uốn nắn, người ấy sau một thời gian
không còn hơ nóng và đốt nóng thân tên giữa hai
ngọn lửa, khiến thân tên được thẳng và dễ uốn
nắn. Vì sao vậy? Vì mục đích người làm tên ấy hơ
nóng và đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến
thân tên được thẳng và dễ uốn nắn đã được thành
tựu. Do vậy, sau một thời gian, người ấy không còn
hơ nóng, đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa để
trở thành thẳng và dễ uốn nắn.
Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như
sau: "Khi ta trú vào lạc, bất thiện pháp tăng
trưởng, thiện pháp giảm thiểu. Nhưng khi ta tinh cần
dùng đau khổ chống với tự ngã", các bất thiện pháp
giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vậy ta hãy
tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã". Vị ấy tinh
cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Do tinh cần dùng
đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm
thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vị ấy sau một
thời gian, không tinh cần dùng đau khổ chống với tự
ngã. Vì sao vậy? Vì mục đích vị Tỷ-kheo ấy tinh
cần dùng đau khổ chống với tự ngã đã thành tựu. Do
vậy, sau một thời gian, vị ấy không tinh cần dùng
đau khổ chống với tự ngã. Như vậy, này các Tỷ-kheo
là sự tinh cần có kết quả.
493.
Con đường giới, định, tuệ
Con đường giải thoát được Đức Phật truyền dạy khởi sự với
lòng tịnh tính và tiếp theo là sự tu tập giới uẩn, định uẩn
và tuệ uẩn:
Người
gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người
sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe
pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi
có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: "Ðời
sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy
những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như
hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở
gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy
đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc.
Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia,
từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Một thời gian
sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn,
bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến
thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất
gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vị ấy
xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh
sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh,
bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng
từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng
sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không
cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật
đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị
ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm
hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ
liệt.
Vị ấy
từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ
đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường
gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói
hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ
kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe
điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người
này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như
vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến
khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp,
thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói
những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc
ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói
dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm,
tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những
lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm,
tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói
chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật,
nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp
thời, hợp lý có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
Vị ấy
từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các
loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban
đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem
múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không
dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và
các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và
giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ
không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt
sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ
không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận
cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ
không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không
nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người
làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ
không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân,
tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối
lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương
tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp
phá.
Vị ấy
sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với
đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng
mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ
nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ- kheo bằng
lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực
để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy
thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc
thọ không khuyết phạm.
Khi mắt
thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không
nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con
mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các
ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự
các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự
hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi
hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận
thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung,
không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì,
vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu
bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự
nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ
trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn
này nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
Vị ấy
khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng,
khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay
đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y
đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh
giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi
đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh
giác.
Vị ấy
thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ
trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh
giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng,
gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài
trời, đống rơm.
Sau khi
ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi
kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú
chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở
đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm
hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm
không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả
chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ
bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn
trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng,
chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm
thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống
không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết
trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống
thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột
rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
Vị ấy,
từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí
tuệ muội lược này, ly dục, ly bất thiện pháp,
chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ
lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy, này các
Tỷ- kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh
cần có kết quả.
Và lại
nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ,
chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc
do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh nhứt
tâm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có
kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
Và lại
nữa này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả,
chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các
bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú
thiền thứ ba. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh
tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
Và lại
nữa này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ,
diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền
thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết
quả, là sự tinh cần có kết quả.
Với tâm
định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm,
không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc,
bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng
trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một
đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi
đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời,
một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp,
nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta
có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp
như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc
như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi
tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ
ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này,
giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ
khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế
này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở
đây". Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá
khứ, cũng với các nét đại cương và các chi tiết.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết
quả, là sự tinh cần có kết quả.
Với tâm
định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm,
không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc,
bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử
trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần
tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng
sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ
liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người
may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị
ấy nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này
thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những
ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về
ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các
nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân
hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành
tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những
thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh
về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh
kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người
này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các
thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, vị
ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự
sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng
chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp
đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do
hạnh nghiệp của họ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết
quả.
Với tâm
định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm,
không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc,
bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận
trí. Vị ấy tuệ tri như thật: "Ðây là Khổ", tuệ tri
như thật: "Ðây là Khổ tập", tuệ tri như thật: "Ðây
là Khổ diệt", tuệ tri như thật: "Ðây là con Ðường
đưa đến khổ diệt" tuệ tri như thật: "Ðây là những
lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là nguyên nhân
của các lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là sự
diệt trừ các lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là
con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc".
Nhờ
biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi
dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh
lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi
lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy tuệ
tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời
sống này nữa". Như vậy, này các Tỷ-kheo là sự tinh
tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
494. Mười tuỳ thuyết đối với Đức Như Lai
Nói với sự đối chứng, nếu 10 giả thuyết được đưa ra để nói
về Đức Phật thì ở điểm nào cũng có thể tán thán:
(1) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân các việc đã
làm trong quá khứ thọ lãnh lạc khổ, thời này các
Tỷ-kheo, Như Lai thật sự đã làm những thiện hạnh
trong thời quá khứ nên nay mới thọ lãnh vô lậu lạc
thọ như vậy.
(2) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân một vị Tạo
hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-
kheo, Như Lai thật sự được tạo ra bởi một vị Tạo
hóa hiền thiện, nên nay mới thọ lãnh vô lậu lạc
thọ như vậy.
(3) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các
điều kiện, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-
kheo, Như Lai thật sự được thiện kết hợp, nên nay
mới thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.
(4) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại,
thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo Như Lai
thật sự được thiện sanh loại, nên nay thọ lãnh vô
lậu lạc thọ như vậy.
(5) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh tấn hiện
tại thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như
Lai thật sư đã tạo thiện tinh tấn hiện tại, vì
rằng nay thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.
(6) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân hành động
quá khứ thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán
thán. Nếu các hữu tình không do nhân hành động quá
khứ thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.
(7) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân được một vị
Tạo hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng
được tán thán. Nếu các hữu tình không do nhân
được một vị Tạo hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ,
Như Lai đáng được tán thán.
(8) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các
điều kiện thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán
thán. Nếu các hữu tình không do nhân các điều kiện
kết hợp thọ lãnh lạc thọ khổ thọ, Như Lai đáng
được tán thán.
(9) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại thọ
lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các
hữu tình, không do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ,
Như Lai đáng được tán thán.
(10) Này
các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh cần hiện
tại thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.
Này các
Tỷ-kheo, Như Lai nói như vậy. Này các Tỷ-kheo,
mười thuyết tùy thuyết hợp pháp này Như Lai đã
nói như vậy đưa đến sự tán thán.
Thế Tôn
thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
Dịch
giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo-
|