|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu ngày 05 tháng 02, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Bài 102. Kinh Năm Và Ba (Pañcattaya Sutta) Khi Ngã Chấp Trở Thành Tín Lý Tôn Giáo- phân đoạn 495 đến 498.
Bài kinh nầy là một “phiên bản Trung Bộ” của Kinh
Phạm Võng của Trường Bộ. Bài kinh nầy cho thấy những luận
thuyết tinh vi của hệ thống tín ngưỡng, triết học, tu chứng
của Ấn Độ thời xưa cũng như hôm nay qua sự trình bày của Đức
Phật về 62 kiến chấp.
Tên kinh Năm và Ba lấy từ những con số của nội dung
bài kinh.
Năm là ba quan niệm chấp thường, một quan niệm chấp
đoạn, và một quan niệm về hiện tại Niết Bàn.
Ba là nếu gom chung ba quan niệm chấp thường là một
cộng với hai quan niệm còn lại.
Sự chấp thủ y cứ trên ba quan niệm trên đưa đến sự
viện dẫn về quá khứ, tương lai, và hiện tại.
Điểm thú vị là Kinh Phạm Võng của Tam Tạng Pāli là
một phản biện đối tất cả kiến chấp của Bà la môn giáo thì
Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới của Phật Giáo Đại Thừa là một
công kích lớn đối với Phật giáo Nguyên Thuỷ. Tất cả những
giáo lý về thế giới hoa tạng, duy thức, bát nhã, tịnh độ
nhân gian… đề có gốc rễ bắt nguồn từ 62 lập thuyết của bài
Kinh Phạm Võng. Tuy vậy bài kinh nầy vẫn “sống sót” trong hệ
thống Đại Tạng Kinh của Phật giáo Tây Tạng với tựa đề
Pan̄catraya Sūtra mặc dù được xem là thuộc Nhất Thiết Hữu
Bộ (Mūlasarvāstivāda).
495.
Tổng thuyết về kiến chấp ngoại giáo
Có hai cách nhìn
về thực tại. Một là theo quan niệm thường thức tất cả sự
thực hữu ẩn hiện như con người, văn hoá, xã hội, cõi giới…
Hai là nhìn tất cả đều là hiện tượng giới kết cấu bởi những
phân tử cực vi (sát na – khana) dù là vật chất hay tâm thức.
Không có đủ khả năng thấy được thế giới vĩ mô, chúng sanh
thường tạo ra nhiều sở chấp y cứ trên suy diễn:
Một thời Thế Tôn
trú ở Sāvatthī, Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tu viện ông
Anāthapiṇḍika. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các
Tỷ-kheo" -
"Thưa vâng, bạch
Thế Tôn". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói
như sau:
-- Này các
Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai,
thảo luận về tương lai, y cứ vào tương lai, tuyên bố nhiều
quan điểm sai khác. Ở đây, một số tuyên bố: "Sau khi chết,
tự ngã không bệnh, có tưởng". Ở đây, một số tuyên bố: "Sau
khi chết, tự ngã không bệnh, không tưởng". Ở đây một số
tuyên bố: "Sau khi chết, tự ngã không bệnh, phi tưởng và phi
phi tưởng". Hay họ chủ trương đoạn diệt hủy hoại, tiêu diệt
của loài hữu tình hiện đang sanh tồn. Hay một số lại tuyên
bố về hiện tại Niết-bàn.
Như vậy, họ chủ
trương sau khi chết, tự ngã tồn tại không bệnh. Hay họ chủ
trương đoạn diệt, hủy hoại, tiêu diệt của loài hữu tình hiện
đang sanh tồn. Hay một số lại tuyên bố hiện tại Niết-bàn.
Như vậy, những chủ thuyết này, sau khi thành năm trở lại
thành ba, sau khi thành ba, trở lại thành năm. Ðây là sự
tổng thuyết năm và ba.
496. Luận thuyết về
tương lai
Sự hiện hữu trên
nói theo hiện tượng giới là “dòng chảy” của những sát na
sanh diệt nối tiếp nhau cả hai phương diện vật chất của như
tâm thức. mỗi sát na có kết cấu và tự tánh riêng. Có liên
đới tương tác nhưng không thể gọi là có một chủ quyền theo
quan niệm “bản ngã”. Sự hiện hữu của mỗi chúng sanh là một
tiến trình nhưng không thể nói con người ở thời điểm A với
thời điểm B là một. Do vậy những lập thuyết về tự hữu hiện
tại và tương lai đều là bất cập:
Về vấn đề này, này
các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: "Những Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng,
không bệnh, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau
khi chết, tự ngã hoặc có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn
giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã
hoặc không có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết tự ngã hoặc có sắc và
không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết tự ngã hoặc không sắc
và không không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả
Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc
nhứt tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc dị tưởng,
có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ
trương sau khi chết, tự ngã hoặc thiểu tưởng, có tưởng,
không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau
khi chết, tự ngã hoặc vô lượng tưởng, có tưởng, không bệnh.
Hay Như Lai biết loại tưởng nào trong các loại tưởng ấy được
xưng là thanh tịnh, tối thắng, đệ nhất, vô thượng, tức là
sắc tưởng, tức là vô sắc tưởng, tức là nhứt tưởng, tức là dị
tưởng. Nói rằng: "vô sở hữu", một số tuyên bố Vô sở hữu xứ
là vô lượng, bất động. Biết rằng cái này thuộc hữu vi, là
thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự
đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi
và đã vượt khỏi pháp hữu vi".
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà- la-môn nào chủ trương sau khi
chết, tự ngã không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc
không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy
chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, không tưởng,
không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau
khi chết, tự ngã hoặc có sắc không sắc, không tưởng, không
bệnh. Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi
chết tự ngã hoặc cũng không sắc, không không sắc, không
tưởng, không bệnh.
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi
chết, tự ngã có tưởng, vô bệnh, một số phỉ báng các vị ấy.
Vì sao vậy? Họ nói rằng: "Tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt
nhọt, tưởng là mũi tên; đây là tịch tịnh, thù diệu tức là vô
tưởng".
Về vấn đề này, này
các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: "Những Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã là không
tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ
trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, không tưởng, không
bệnh; Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi
chết, tự ngã hoặc không sắc, không tưởng, không bệnh; các
Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã
hoặc có sắc và không sắc, không tưởng, không bệnh; các Tôn
giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã
hoặc không có sắc, không không sắc, không tưởng, không
bệnh". Này các Tỷ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như
sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài hành, ngoài
thức, ta sẽ chủ trương sự lai, vãng, tử, sanh, tăng trưởng,
tăng thịnh, hay tăng đại"; sự tình không có như vậy. Biết
rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt
các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự
giải thoát pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau
khi chết tự ngã là Phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các
Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã
hoặc có sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn
giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã
hoặc không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn
giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã
hoặc có sắc và không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không
bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi
chết, tự ngã hoặc không sắc, không không sắc, phi tưởng phi
phi tưởng, không bệnh.
Ở đây này các
Tỷ-kheo, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi
chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị
ấy; các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự
ngã không tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Vì
sao vậy? Họ nói rằng: "Tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt
nhọt, tưởng là mũi tên, không tưởng là si ám. Ðây là tịch
tịnh, thù diệu, tức là phi tưởng phi phi tưởng".
Về vấn đề này, này
các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: "Những Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã là phi tưởng
phi phi tưởng, không bệnh, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy
chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, phi tưởng phi
phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ
trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, phi tưởng phi
phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ
trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, phi
tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã là không có
sắc, không không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh".
Này các Tỷ-kheo,
những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sự thành tựu của xứ
này (āyatana) chỉ nhờ những hành có thể thấy được, nghe
được, tư duy được, ý thức được; đây được xưng, này các
Tỷ-kheo, là tổn hại cho sự thành tựu xứ (āyatana) này. Vì
rằng, này các Tỷ-kheo, xứ này không được xưng là có thể đạt
thành nhờ sự thành tựu hữu hành (sasaṅkhāra), mà này các
Tỷ-kheo, xứ này được xưng là có thể đạt thành nhờ sự thành
tựu không có hành nào còn lại. Biết rằng cái này thuộc hữu
vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có
sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu
vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương đoạn
diệt, hủy hoại, diệt tận của loại hữu tình hiện đang sinh
tồn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào
chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, một số
phỉ báng các vị ấy. Còn những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ
trương sau khi chết, tự ngã không tưởng, không bệnh, một số
phỉ báng các vị ấy. Còn những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ
trương sau khi chết, tự ngã phi tưởng phi phi tưởng, không
bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Vì sao vậy? Tất cả những
Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này hướng thượng tuyên bố có chấp
trước: "Ðời sau chúng ta sẽ hiện hữu, đời sau chúng ta sẽ
hiện hữu". Ví như một người lái buôn đi buôn bán nghĩ rằng:
"Từ đây ta sẽ có vật này, ta sẽ được vật này từ cái này".
Cũng vậy, những vị Sa-môn, Bà-la-môn này, chúng ta nghĩ
rằng, cũng giống như những người lái buôn khi các vị này
nói: "Ðời sau chúng ta sẽ hiện hữu, đời sau chúng ta sẽ hiện
hữu".
Về vấn đề này, này
các Tỷ-kheo, Như Lai biết được: "Những Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn này chủ trương đoạn diệt, hủy hoại, diệt tận, loại
hữu tình hiện đang sinh tồn, những vị ấy sợ hãi tự thân, yếm
ly tự thân, chỉ chạy theo và chạy vòng quanh tự thân". Ví
như một con chó bị dây cột vào một cột trụ hay cây cột vững
chắc, chạy theo và chạy vòng tròn cột trụ hay cây cột ấy.
Cũng vậy, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy sợ hãi tự thân,
yếm ly tự thân, chỉ biết chạy theo và chạy vòng quanh tự
thân. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có
sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như
Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi, và đã vượt khỏi
pháp hữu vi.
Này các Tỷ-kheo,
những Sa-môn hay Bà-la-môn nào luận bàn về tương lai, thảo
luận về tương lai, y cứ vào tương lai tuyên bố nhiều quan
điểm sai khác, tất cả đều tuyên bố năm xứ này hay một trong
chúng.
497. Luận thuyết về
quá khứ
Một số các kiến chấp không đơn thuần đến từ suy diễn mà do
các vị đã chứng thiền nhớ lại kiếp quá khứ (…), như được Đức
Phật giảng chi tiết trong Kinh Phạm Võng (Brahmajāla Sutta)
Trường Bộ. Chính từ sự nhớ lại tạo nên những chấp chặt quan
điểm của mình về thượng đế và linh hồn:
Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có
chủ thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tự ngã và thế
giới là thường còn, chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư
vọng". Ngoài tín, ngoài hỷ, ngoài tùy văn, ngoài thẩm định
lý do, ngoài kham nhẫn chấp thọ tà kiến, trí tự mình sẽ trở
thành thanh tịnh, trong sạch; sự tình như vậy không xảy ra.
Này các Tỷ-kheo, nếu trí tự mình không trở thành thanh tịnh,
trong sạch, thời cho đến chỉ một phần nhỏ của trí mà những
Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy làm cho trong sạch, chính như
vậy cũng được xưng là chấp trước đối với những vị Tôn giả
Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô
pháp, không có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn
diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã
vượt khỏi pháp hữu vi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý
thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tự ngã và thế giới là
vô thường... tự ngã và thế giới là thường còn và vô
thường... tự ngã và thế giới không thường còn và không vô
thường... tự ngã và thế giới là vô biên... tự ngã và thế
giới là hữu biên và vô biên...
tự ngã và thế giới là không hữu biên và không vô
biên... tự ngã và thế giới là nhứt tưởng... tự ngã và thế
giới là dị tưởng... tự ngã và thế giới là thiểu tưởng... tự
ngã và thế giới là vô lượng tưởng... tự ngã và thế giới là
nhứt hướng lạc... tự ngã và thế giới là nhứt hướng khổ... tự
ngã và thế giới là lạc và khổ... tự ngã và thế giới là không
khổ, không lạc; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư
vọng". Ngoài lòng tin, ngoài hỷ, ngoài tùy văn, ngoài thẩm
định lý do, ngoài sự kham nhẫn chấp thọ tà kiến, trí tự mình
sẽ trở thành thanh tịnh, trong sạch, sự tình như vậy không
xảy ra. Này các Tỷ-kheo, nếu trí tự mình không trở thành
thanh tịnh, trong sạch, thời cho đến chỉ một phần nhỏ của
trí mà những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy làm cho trong
sạch, chính như vậy cũng được xưng là chấp trước đối với
những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Biết rằng cái này thuộc
hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết
được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi
pháp hữu vi, và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
498. Luận thuyết về
Niết bàn hiện tiền
Hỷ lạc của cảm thọ dù ở mức độ vi tế của thiền định vẫn chỉ
là cảm thọ, là pháp hữu vi không thể xem là vô vi niết bàn:
Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn
giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ những quan điểm về
quá khứ, và do từ bỏ những quan điểm về tương lai, do hoàn
toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, sau khi đạt được
viễn ly hỷ, liền an trú: "Ðây là sự thật, đây là thù diệu,
tức là đạt được viễn ly hỷ, ta an trú". Viễn ly ấy của vị
này bị đoạn diệt. Do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, ưu tư sanh
khởi; do ưu tư được đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi. Biết
rằng cái này thuộc hữu vi pháp là thô pháp, nhưng có sự đoạn
diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy
sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do
từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về
tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử,
do vượt qua viễn ly hỷ, sau khi đạt được phi vật chất lạc
liền an trú: "Ðây là sự thật, đây là thù diệu tức là đạt
được phi vật chất lạc, ta an trú". Phi vật chất lạc của vị
ấy bị đoạn diệt; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, viễn ly
hỷ sanh khởi; do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc
sanh khởi. Ví như, này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ,
chỗ ấy sức nóng mặt trời lan rộng, chỗ nào sức nóng mặt trời
từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi; do
viễn ly hỷ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi.
Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn
giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá
khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không
chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, đạt
được phi vật chất lạc và an trú: "Ðây là sự thật, đây là thù
diệu, tức là đạt được phi vật chất lạc, ta an trú". Phi vật
chất lạc ấy của vị này bị đoạn diệt. Do phi vật chất lạc bị
đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi; do viễn ly hỷ bị đoạn diệt,
phi vật chất lạc sanh khởi. Biết rằng cái này thuộc hữu vi
là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành; biết được có sự
đoạn diệt này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi pháp hữu
vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ
các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương
lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt
qua viễn ly hỷ, do vượt qua phi vật chất lạc, sau khi đạt
được vô khổ vô lạc thọ, liền an trú: "Ðây là sự thật, đây là
thù diệu, tức là đạt được vô khổ vô lạc thọ, ta an trú". Vô
khổ vô lạc thọ ấy của vị này bị đoạn diệt. Do vô khổ vô lạc
thọ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi; do phi vật
chất lạc bị đoạn diệt, vô khổ vô lạc thọ sanh khởi. Ví như
này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ, chỗ ấy sức nóng mặt
trời lan rộng, chỗ nào sức nóng từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan
rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do vô khổ vô lạc thọ bị
đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi; do phi vật chất lạc
bị đoạn diệt, vô khổ vô lạc thọ sanh khởi.
Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: vị Tôn
giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá
khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không
chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, do vượt
qua phi vật chất lạc, sau khi đạt được vô khổ vô lạc thọ,
liền an trú: "Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt
được vô khổ vô lạc thọ, ta an trú". Vô khổ vô lạc thọ ấy của
vị này bị đoạn diệt. Do vô khổ vô lạc thọ bị đoạn diệt, phi
vật chất lạc sanh khởi; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, vô
khổ vô lạc thọ sanh khởi. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là
thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, sau khi biết được:
"Ðây có sự đoạn diệt các hành này, Như Lai thấy được sự giải
thoát khỏi hữu vi pháp" và đã vượt khỏi hữu vi pháp.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do
từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về
tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử,
do vượt khỏi viễn ly hỷ, do vượt khỏi phi vật chất lạc, do
vượt khỏi vô khổ vô lạc thọ, vị ấy quán: "Ta là tịch tịnh,
ta là tịch diệt, ta là không chấp thủ".
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn giả
Sa-môn, Bà la môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do
từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm
đến các dục kiết sử, do vượt khỏi viễn ly hỷ, do vượt khỏi
phi vật chất lạc, do vượt khỏi vô khổ vô lạc thọ, vị ấy
quán: "Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta là không chấp
thủ". Chắc chắn vị Ðại đức này tuyên bố con đường thích hợp
đưa đến Niết-bàn. Nhưng vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này
khởi lên chấp thủ, hoặc chấp thủ quan điểm về quá khứ, hoặc
chấp thủ quan điểm về tương lai, hoặc chấp thủ dục kiết sử,
hoặc chấp thủ viễn ly hỷ, hoặc chấp thủ phi vật chất lạc,
hoặc chấp thủ vô khổ vô lạc thọ. Dầu cho vị Ðại đức này
quán: "Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta không có chấp
trước", nhưng vị này vẫn được xem là có chấp trước về điểm
ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi pháp là thô pháp, nhưng
có đoạn diệt các hành, sau khi biết được có sự đoạn diệt các
hành này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi hữu vi pháp
và đã vượt khỏi hữu vi pháp.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vô thượng tịch tịnh, tối thắng
đạo được Như Lai chánh đẳng giác, nghĩa là sau khi như thật
biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt và sự nguy hiểm của
sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ. Ở đây, này các
Tỷ-kheo, vô thượng tịch tịnh tối thắng đạo này được Như Lai
chánh đẳng giác, nghĩa là sau khi như thật biết sự tập khởi,
sự đoạn diệt, vị ngọt và sự nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự
giải thoát không chấp thủ.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
Dịch
giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo-
|