|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai ngày 08 tháng 02, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC
Bài
104. Kinh Sāmagāma (Sāmagāma Sutta)
-Hoá Giải Những Nguyên Nhân Phân Hoá
Sāmagāma là tên một thị trấn của vưong quốc dòng Sakka
(Thích Ca). Bản Việt dịch ghi là Kinh Làng Sāma. Dịch tên
địa danh như vầy không thích hợp mà nên giữ nguyên chữ
Sāmagāma (thí dụ nên thành phố Bangkok không nên dịch là
thành phố Làng Kok). Chính tại nơi nầy Tôn giả Cunda
Samanuddesa trình với thầy tế độ của mình là Tôn giả Ānanda
về sự phân hoá của ngoại giáo Nigaṇṭha. Samanuddesa có nghĩa
là người tập sự. Ở đây là danh từ riêng không phải là sa di.
Vị nầy là một tỳ kheo em út của Tôn giả Sāriputta do vậy
trong bản dịch tiếng Việt gọi Tôn giả Cunda là không sa di
Cunda là không chính xác.
Sau khi nghe trình bày về sự tranh luận bất hoà của những
Nigaṇṭha, Đức Phật đã dạy về những phương cách giảm thiểu
bất hoà trong Tăng chúng. Đức Thế Tôn đặc biệt lưu ý là chư
tăng cần luôn hướng đến mẫu số chung là tinh hoa của giáo
pháp và nhận thức rõ về bản chất hệ lụy phiền não của tranh
chấp. Ngài cũng dạy về bảy nguyên tắc làm lắng dịu tranh
tụng trong Tăng chúng và những điều nầy trở thành những học
giới trong giới bổn của chư tỳ kheo. Sau cùng Bậc Đạo Sư dạy
về sáu pháp hoà kính.
503.
Bài học từ một sự phân hoá
Sự phân hoá bất đồng vốn là điều thường xẩy ra trong xã hội
loài người kể cả trong tất cả tôn giáo:
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở giữa các vị Sakka (Thích Ca), tại
Samāgama (Xá-di thôn).
Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta vừa mới tạ thế ở Pava. Sau
khi vị này tạ thế, các vị Nigantha chia ra làm hai phái,
chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn
hại nhau với binh khí miệng lưỡi. "Ông không biết Pháp và
Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp
và Luật này? Ông theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói
ta tương ưng, lời nói Ông không tương ưng. Ðiều đáng nói
trước, Ông nói sau; điều đáng nói sau, Ông nói trước. Ðiều
Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã
bị thách đố. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm
của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được!"
Hình như các đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta muốn tàn hại lẫn
nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigaṇṭha
Nātaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các Nigantha,
vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách
vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an
tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, tháp y chỉ
đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
Rồi Sa-di Cunda, sau khi an cư mùa mưa ở Pava, đến thăm Tôn
giả Ānanda ở Sāmagāma, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda
và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Sa-di
Cunda bạch Tôn giả Ānanda:
-- Bạch Tôn giả, Nigaṇṭha Nātaputta đã từ trần ở Pāvā. Sau
khi vị này tạ thế, các Nigaṇṭha chia ra làm hai phái... tháp
y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với Sa di Cunda:
-- Này Hiền giả Cunda, đây là vấn đề đáng đưa ra để yết kiến
Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi yết kiến Thế
Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế
Tôn biết.
-- Thưa vâng, Tôn giả.
Sa di Cunda vâng lời Tôn giả Ānanda. Rồi Tôn giả Ānanda cùng
với Sa di Cunda đi đến yết kiến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh
lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên,
Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Sa di Cunda có nói: " Nigaṇṭha Nātaputta đã
từ trần ở Pāvā. Sau khi vị này từ trần, các vị Nigaṇṭha chia
ra làm hai phái... tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y
chỉ". Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: "Sau khi Thế Tôn nhập
diệt, chớ để cho tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng. Tranh
luận ấy đưa đến sự bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số,
thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài
người".
504. Hãy luôn ghi nhớ cái gì là trọng điểm
Đức Phật khi nghe về sự phân hoá của các Nigaṇṭha đã nhắc
nhở chư Tăng đệ tử Phật cần ghi nhớ thế nào là tinh hoa của
giáo pháp mà tất cả nên đồng thuận học hỏi và tu tập:
-- Bạch Thế Tôn, những pháp Thế Tôn dạy cho con với thượng
trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn,
Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành, con không thấy
cho đến hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác
nhau. Bạch Thế Tôn, và những người nào sống y cứ sùng kính
Thế Tôn, những người ấy sau khi Thế Tôn nhập diệt, có thể
khởi lên những tranh luận giữa tăng chúng, hoặc về Tăng
thượng hoạt mạng, hoặc về Tăng thượng Giới bổn (Pātimokkha).
Tranh luận ấy đem đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số,
bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.
-- Là nhỏ nhặt, này Ānanda, là sự tranh luận ấy, tức là
tranh luận về Tăng thượng hoạt mạng hay Tăng thượng giới
bổn. Này Ananda, sự tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng về
con đường (magga) hay về đường hướng tu hành (paṭipada), sự
tranh luận ấy mới đưa đến bất an cho đa số, thất lợi cho đa
số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.
505. Tất cả tranh chấp đều bắt nguồn từ phiền não
Cần luôn tự nhắc là tất cả tranh chấp bất hoà đề do nguyên
nhân phiền não. Không có gì đáng để hãnh diện, tự hào với
những sự kiện như vậy:
Này Ānanda, nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa
các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này Ānanda, Ông phải
tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này Ānanda, nếu
Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay
giữa các người khác; ở đây, này Ānanda, Ông phải theo một
đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai
về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản
tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến
đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy như vậy.
Lại nữa này Ānanda, vị Tỷ-kheo hiềm hận não hại... tật đố,
xan tham... gian manh, xảo trá... ác dục tà kiến... chấp thủ
thế trí, cố chấp, khó thuyết phục. Này Ānanda, Tỷ-kheo nào
chấp thủ thế trí, cố chấp khó thuyết phục, vị ấy sống không
cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính,
không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng
Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập. Này Ananda,
vị Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo
sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không
cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên
mãn sự học tập, vị ấy khởi lên sự tranh luận giữa Tăng
chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh
cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài
Trời, loài Người, này Ānanda, nếu Ông thấy căn bản tranh
luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây,
này Ānanda, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận
ấy. Này Ānanda, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như
vậy, giữa các Ông hay giữa người khác, ở đây, này Ānanda,
Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn
tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn
diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp
tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận như
vậy. Những pháp này, này Ānanda, là sáu căn bản tranh chấp.
506. Bốn thứ bất hoà
Không phải sự tranh luận nào cũng giống nhau. Cần phân biệt
rõ:
507. Bảy cách diệt trừ sự chia rẽ
Bảy cách diệt trừ sự chia rẽ là bảy nguyên tắc để tránh sự
chia rẽ trong tăng chúng. Bảy pháp nầy của là bảy học giới
trong giới bổn của một tỳ kheo (nêu lưu ý rằng bảy pháp hoá
giải tranh tụng ở đây được giải rất rõ ràng không có những
chú thích khó hiểu như một số kinh luật thường gặp):
Này Ānanda, thế nào là phán quyết với sự hiện diện cần được
ban cho? Ở đây, này Ānanda, các Tỷ-kheo tranh chấp nhau:
"Ðây là pháp, hay đây là phi pháp, hay đây là luật, hay đây
là phi luật". Này Ānanda, tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp
hòa hợp với nhau, sau khi tập hợp, pháp quy chế
(dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp
quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây, làm thế nào để
đồng nhất đạt được, như vậy, tránh sự phải được giải quyết.
Như vậy, này Ānanda, là phán quyết với sự hiện diện; và như
vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng phán
quyết với sự hiện diện.
Và này Ānanda, thế nào là quyết định đa số (yebbuyyasikā)?
Này Ānanda, nếu các Tỷ-kheo kia không có thể giải quyết
tránh ấy tại trú xứ ấy, thời này Ānanda, các vị Tỷ-kheo kia
cần phải đi đến chỗ trú xứ có nhiều Tỷ-kheo hơn, tại đấy tất
cả các Tỷ-kheo phải hòa đồng tập hợp lại; sau khi tập hợp,
pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích.
Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây làm
thế nào, để đồng nhất đạt được như vậy, tránh sự phải được
giải quyết. Như vậy, này Ānanda, là sự giải quyết một số
tránh sự tức là dùng sự quyết định đa số.
Và này Ānanda, thế nào phán quyết ức niệm? Ở đây, này
Ānanda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội
như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng:
"Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không,
hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả lời như sau:
"Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc
Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Như vậy, này Ānanda, một phán
quyết ức niệm cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như vậy, này Ānanda,
là phán quyết ức niệm. Như vậy, ở đây là sự giải quyết một
số tránh sự tức là nhờ phán quyết ức niệm.
Và này Ānanda, thế nào là phán quyết bất si? Ở đây, này
Ānanda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội
như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di nói rằng: "Tôn
giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc
Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả lời như sau: "Chư
Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc
Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Tỷ-kheo ấy bị các vị Tỷ-kheo
kia dồn ép phải thú nhận: "Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu
Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di,
hoặc gần Ba-la-di". Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Này Chư
Hiền, tôi đã bị cuồng si, tâm trí tôi điên đảo; do tôi cuồng
si như vậy, nhiều việc đã được tôi làm, tôi nói không xứng
Sa-môn hạnh. Vì bị cuồng si, tôi không nhớ đã làm như vậy".
Này Ānanda, phán quyết bất si cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như
vậy, này Ānanda, là phán quyết bất si. Và như vậy, ở đây là
sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ phán quyết bất
si.
Và này Ānanda, thế nào là quyết định tùy theo thú nhận? Ở
đây, này Ānanda, bị buộc tội hay không bị buộc tội, Tỷ-kheo
nhớ một giới tội, tỏ lộ, trình bày. Tỷ-kheo ấy phải đến một
Tỷ-kheo lớn tuổi hơn, đắp y phía một bên vai, đảnh lễ chân
vị ấy, ngồi gối hai chân, chấp tay và nói như sau: "Bạch Tôn
giả, tôi có phạm giới tội tên như thế này, nay xin sám hối".
Tỷ-kheo kia nói như sau: "Ông có thấy chăng?"- "Tôi có thấy"
-- "Ông có gìn giữ trong tương lai không?" -- "Tôi sẽ gìn
giữ". Như vậy, này Ananda, là quyết định tùy theo thú nhận,
như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ
quyết định tùy theo thú nhận.
Và này Ānanda, thế nào là quyết định tùy theo giới tội người
phạm? Ở đây, này Ānanda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về
một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di,
nói rằng: "Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế
này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả lời
như sau: "Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như
vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Tỷ-kheo ấy bị các
Tỷ-kheo kia dồn ép phải tỏ lộ ra: "Tôn giả hãy biết cho rõ
ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc
Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?" Tỷ-kheo ấy trả lời như sau:
"Chư Hiền, tôi không có nhớ tôi có phạm trọng tội như thế
này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Chư Hiền, tôi nhớ tôi
có phạm khinh tội như thế này". Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo
kia dồn ép phải tỏ lộ: "Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu
Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di
hoặc gần Ba-la-di?". Vị ấy trả lời như sau: "Chư Hiền, dầu
không ai hỏi tội, tôi sẽ thú nhận có phạm khinh tội như thế
này, làm sao tôi có thể, khi có người hỏi tôi, lại không thú
nhận có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba la di, hoặc gần
Ba-la-di?" Vị kia nói như sau: "Này Hiền giả, dầu Ông có
phạm khinh tội này, nếu không hỏi, Ông sẽ không thú nhận,
làm sao khi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di,
hoặc gần Ba-la-di, nếu có hỏi, Ông lại có thể thú nhận? Tôn
giả hãy biết rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như
thế này không, hoặc Ba-la-di. hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả
lời như sau: "Chư Hiền, tôi nhớ, tôi có phạm trọng tội như
thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Ðiều tôi đã nói
như vậy, là nói chơi, điều tôi đã nói như vậy là để cười
(rava) Tôi không có nhớ tôi đã phạm trọng tội như thế này,
hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Như vậy, này Ānanda, là
quyết định tùy theo giới tội người phạm. Và như vậy, ở đây
là sự giải quyết một số tránh tội, tức là nhờ quyết định tùy
theo giới tội người phạm.
Và này Ānanda, thế nào là trải cỏ che lấp? Ở đây, này
Ānanda, một số Tỷ-kheo sống tranh chấp, tranh cãi, tranh
luận với nhau, có nhiều việc đã làm, đã nói không xứng
Sa-môn hạnh. Tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa đồng với
nhau. Sau khi tập hợp, một Tỷ-kheo thông minh có kinh nghiệm
hơn của một phe nhóm Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về
phía một bên vai, chắp tay, bạch Tăng chúng, nói rằng: "Chư
Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh
chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã
nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời,
tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất
cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng
vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như
lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư
sĩ".
Rồi một vị Tỷ-kheo thông minh, kinh nghiệm của nhóm Tỷ-kheo
khác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chấp
tay bạch Tăng chúng, nói rằng: "Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy
nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh
luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn
hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ
giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của
tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự
thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ
các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ". Như vậy, này
Ananda, là trải cỏ che lấp, và như vậy, ở đây là sự giải
quyết một số tránh pháp, tức là nhờ trải cỏ che lấp.
508. Sáu pháp hoà kính
Không phải chỉ đề cập tới sự giải quyết các tranh chấp, Đức
Phật còn dạy về sáu pháp tạo nên sự thân thiện, hoà ái trong
sinh hoạt hằng ngày giữa những tỳ kheo. Sáu pháp nầy, thường
được gọi là lục hoà, trở nên phổ thông đặc biệt trong Phật
giáo Việt Nam mặc dù sự ứng dụng không ứng dụng được như lợi
hoà, giới hoà và kiến hoà:
Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo an trú từ thân nghiệp, đối với
các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả
niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến
đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
Và lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo an trú từ khẩu nghiệp, đối
với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người.
Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa
đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
Và lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo an trú từ ý nghiệp đối với
các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả
niệm pháp này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến
đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
Và lại nữa, này Ānanda, với mọi sở đắc như pháp, mọi lợi
dưỡng đúng pháp cho đến những thọ lãnh trong bình bát,
Tỷ-kheo là vị san sẻ các lợi dưỡng như vậy, là vị thọ hưởng
chúng cùng với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Khả niệm
pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến
đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
Và lại nữa, này Ānanda, đối với mọi giới luật nào, không sứt
mẻ, không tỳ, không vết, không ô uế, giải thoát, được người
trí tán thán, không chấp thủ, đưa đến Thiền định, Tỷ-kheo
sống thành tựu những giới luật như vậy cùng với các vị đồng
Phạm hạnh giữa chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả
niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa
đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
Và lại nữa, này Ānanda, đối với mọi tri kiến thánh thiện,
đưa đến xuất ly, dẫn đến sự chơn chánh, đoạn diệt khổ đau
cho những ai thực hành theo, Tỷ-kheo sống thành tựu những
tri kiến như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh trước chỗ
đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác
thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không
tranh luận, hòa đồng, đồng nhất.
Này Ānanda, sáu pháp khả niệm này tác thành khả ái, tác
thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng,
đồng nhất. Này Ānanda, nếu Ông thọ trì và thực hành sáu pháp
khả niệm này, thời này Ānanda, Ông thấy có những cách nói
nào, hoặc tế hoặc thô, khiến Ông không có thể kham nhẫn?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Do vậy, này Ānanda, hãy thọ trì và thực hành sáu pháp khả
niệm này, như vậy sẽ đưa đến cho Ông an lạc và hạnh phúc lâu
dài.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
Dịch
giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo-
|