|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba ngày 09 tháng 02, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC
Bài
105. Kinh Thiện Tinh (Sunakkhatta Sutta)
-Căn cơ chúng sanh tạo nên khuynh hướng cố hữu
Tên kinh lấy theo tên Tỳ kheo Sunakkhatta (Thiện Tinh) người
đã đến bạch hỏi Đức Phật về sự việc nhiều tỳ kheo tuyên bố
đã chứng thánh quả vô sanh như vậy trong số đó ai thực
chứng, ai không thực chứng. Đức Phật đã dạy về nhiều trường
hợp khác nhau trong sự lượng định bản thân trên đường tu
tập. Sự nhận thức bản thân thường dựa trên khuynh hướng cố
hữu. Nhiều trường hợp “tưởng vậy nhưng không phải vậy - gọi
tăng thượng mạn” Những khuynh hướng của chúng sanh được đề
cập trong bài kinh nầy ít khi tìm thấy trong những bản kinh
khác của Tạng Pāli.
509.
Câu hỏi về sự thực chứng
Biết rõ sự tu tập của chính mình là chuyện khó mà lượng định
được sự tiến bộ và thành tựu bản thân không phải là chuyện
dễ:
Một thời Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), ở Ðại Lâm, tại
Trùng Các giảng đường (Kuṭāgārasālā).
Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã
chứng trí giác: "Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng
thái này nữa".
Sunakkhatta Licchaviputta (Thiện Tinh Ly-xa Tử) được nghe:
"Nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí
giác: 'Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này
nữa'". Rồi Sunakkhatta Licchaviputta đi đến chỗ Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Sunakkhatta Licchaviputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con có được nghe như sau: "Nhiều Tỷ-kheo,
trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: 'Chúng tôi
biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên
làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa'". Bạch Thế
Tôn, không biết các Tỷ-kheo ấy đã tuyên bố một cách chơn
chánh chứng trí giác, hay ở đây có một số Tỷ-kheo, vì tăng
thượng mạn đã tuyên bố chứng trí giác?
-- Này Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo trước mặt Ta đã tuyên
bố chứng trí giác: "Chúng tôi biết rằng, sanh đã tận, Phạm
hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại
trạng thái này nữa". Ở đây, có một số Tỷ-kheo đã chơn chánh
tuyên bố chứng trí giác; nhưng ở đây, cũng có một số Tỷ-kheo
chính vì tăng thượng mạn, đã tuyên bố chứng trí giác. Ở đây,
này Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo nào đã chơn chánh tuyên bố
chứng trí giác, thời đối với các vị ấy, thật là đúng như
vậy. Nhưng đối với các vị Tỷ-kheo nào, vì tăng thượng mạn đã
tuyên bố chứng tri giác, ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai
nghĩ như sau: "Ta hãy thuyết pháp cho những vị ấy". Và như
vậy, ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai suy nghĩ: "Ta hãy
thuyết pháp cho những vị ấy". Nhưng ở đây, nếu có một số
người ngu si, bày đặt câu hỏi, đến hỏi Như Lai; ở đây, này
Sunakkhatta, Như Lai suy nghĩ như sau: "Ta hãy thuyết pháp
cho những người ấy". Như Lai suy nghĩ như vậy, không có làm
khác.
510.
Hạng người thiên về vật chất thế gian
Những người thiên nặng về thị dục của ngũ trần chắc chắn có
sự trói buộc ở ngoại cảnh:
-- Vậy này Sunakkhatta, hãy nghe và khéo tác ý kỹ, Ta sẽ
giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Sunakkhatta Licchaviputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như
sau:
-- Này Sunakkhatta, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là
năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả
ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức...;
các hương do mũi nhận thức...; các vị do lưỡi nhận thức...;
các xúc do thân cảm xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên
hệ đến dục, hấp dẫn. Này Sunakkhatta, những pháp này là năm
dục trưởng dưỡng.
Nhưng này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số
người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên
nặng về vật chất thế gian, này Sunakkhatta, câu chuyện
(thích hợp với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù
hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ
giao thiệp với người nào người ấy thích thú. Nhưng nếu câu
chuyện chỉ nói liên hệ đến bất động, thời người ấy không
nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và
người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích
thú.
Ví như, này Sunakkhatta, có người đã lâu không trú ở trong
làng hay thị trấn của mình, và có thể thấy một người vừa mới
từ làng ấy hay thị trấn ấy lại. Người này sẽ hỏi người ấy về
sự an ninh của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc
và về ít bệnh tật, và người ấy sẽ nói cho người này biết về
sự an ổn của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và
về ít bệnh tật. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Có phải
người này sẽ nghe người kia, lóng tai, tâm an trú vào trí
giác và người này sẽ giao thiệp với người ấy mà người này
thích thú?
-- Thưa phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây
có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người
thiên nặng về vật chất thế gian, này Sunakkhatta, câu chuyện
thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp
với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao
thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện
chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe,
không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người
ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.
Người ấy cần được hiểu như vầy: "Là hạng người thiên nặng về
vật chất thế gian".
511.
Hạng người thiên nặng về Bất động
Một số thiên nặng về nội tại của định lực thì tâm tư ổn định
hơn nhưng không hẳn là giải thoát hoàn toàn (do khuynh hướng
tầm cầu bất động thôi):
Ví như, này Sunakkhatta, một lá vàng khô đã rời khỏi cành,
không còn xanh trở lại; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với
hạng người thiên nặng về Bất động, đã rời khỏi kiết sử vật
chất thế gian. Người ấy cần được hiểu như sau: "Ðây là hạng
người không liên hệ với kiết sử vật chất thế gian, thiên
nặng về Bất động".
512.
Hạng người thiên nặng về Vô sở hữu xứ
Ngay cả một người có khuynh hướng về sự phủ nhận tất cả
nhưng không hẳn đã chứng trú không tánh của Niết bàn:
Ví như, này Sunakkhatta, một hòn đá bị vỡ làm đôi không thể
nối liền lại được; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng
người thiên nặng về Vô sở hữu, đã bị chặt đứt khỏi kiết sử
Bất động, người ấy cần được hiểu như sau: "Ðây là hạng người
không liên hệ với kiết sử Bất động, thiên nặng về Vô sở
hữu".
513.
Hạng người thiên về Phi tưởng phi phi tưởng xứ
Trong mức độ cao nhất được lãnh hội đối với nội tại là phi
tưởng phi phi tưởng cũng phải cẩn thận đó chỉ là khuynh
hướng:
Ví như, này Sunakkhatta, một người đã ăn các món ăn mỹ vị và
đã quăng bỏ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có
ưa ăn lại món ăn ấy không?
-- Cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng
về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã để một bên kiết sử Vô sở
hữu xứ. Người ấy cần được hiểu như sau: "Ðây là hạng người
không liên hệ với kiết sử Vô sở hữu xứ, thiên nặng về Phi
tưởng phi phi tưởng xứ".
514.
Hạng người thiên về chánh Niết Bàn
Một người tu chứng Niết bàn thật sự vượt khỏi khuynh hướng
cá nhân, đó là cảnh giới không y cứ trên những gì đã từng
trãi nghiệm, vượt ngoài đối đãi thường thức:
Ví như, này Sunakkhatta, cây tala ngọn cây đã bị chặt đứt
không thể lớn được nữa; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với
hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, đã cắt đứt kiết sử
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã cắt đứt từ rễ, làm cho như
cây tala không thể tái sanh, không thể khởi lên lại trong
tương lai. Người ấy cần phải được hiểu như sau: "Ðây là hạng
người không liên hệ với kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
thiên nặng về chánh Niết-bàn".
Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi ở đây, có một số
người suy nghĩ như sau: "Tham ái được vị Sa-môn gọi là mũi
tên. Thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục, tham,
sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc vô minh
đã được trừ khử; ta thiên nặng về chánh Niết-bàn". Vị ấy có
thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu
những gì không thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn,
mắt vị ấy có thể truy cầu sắc không thích hợp, tai có thể
truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy cầu hương
không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp,
thân có thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu
pháp không thích hợp. Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp,
tai truy cầu tiếng không thích hợp, mũi truy cầu hương không
thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân truy cầu
xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp, thời
tham dục nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tâm bị tham dục
nhiễu loạn đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.
Ví như, này Sunakkhatta, một người bị mũi tên bắn, tên ấy có
tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống
người ấy cho mời một y sĩ giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có
thể cắt xung quanh miệng vết thương với con dao; sau khi cắt
xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải phẫu
có thể dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò
tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên
ra. Y sĩ có thể trừ khử hết thuốc độc, còn để lại một ít
nhưng nghĩ không có thuốc độc nào còn lại, y sĩ nói như sau:
"Này Hiền giả, mũi tên của Bạn đã được rút ra, thuốc độc đã
được trừ khử, không còn dư tàn, và không còn gì nguy hiểm
nữa cho Bạn, nhưng Bạn phải chỉ ăn các đồ ăn thích hợp, và
hãy gìn giữ, nếu ăn đồ ăn không thích hợp, vết thương của
Bạn sẽ làm mủ lại, và thường thường phải cho rửa vết thương,
thường thường phải xức thuốc cho miệng vết thương. Trong khi
thường thường cho rửa vết thương, thường thường xức thuốc
cho miệng vết thương, chớ có để máu cũ đóng khô trên miệng
vết thương và hãy cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng; hãy
cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng, nếu không, bụi và nhớp
có thể nhiễu hại miệng vết thương. Và này Bạn, nếu Bạn chăm
sóc vết thương, thời vết thương sẽ được lành".
Người ấy suy nghĩ như sau: "Mũi tên đã được rút khỏi (thân)
ta, nọc độc đã được trừ khử, không còn dư tàn, và ta đã
thoát khỏi nguy hiểm". Và người ấy ăn những đồ ăn không
thích hợp. Vì người ấy ăn những đồ ăn không thích hợp, nên
vết thương làm mủ lại. Và thường thường người ấy không rửa
vết thương, thường thường không xức thuốc miệng vết thương.
Vì người ấy thường thường không rửa vết thương, vì người ấy
thường thường không xức thuốc miệng vết thương, nên máu cũ
đông lại trên miệng vết thương. Và người ấy thường hay đi
giữa gió và nắng. Do người ấy thường hay đi giữa gió và
nắng, bụi và nhớp nhiễu hại miệng vết thương; và vì người ấy
không chăm sóc vết thương nên vết thương không được lành. Vì
người ấy làm chính những việc không thích hợp, và do thuốc
độc được trừ khử nhưng còn dư tàn, do cả hai điều ấy nên
miệng vết thương có thể lở to hơn trước. Do vết thương lở
to, người ấy có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.
Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một
số Tỷ-kheo nghĩ như sau: "Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi
tên, thuốc độc vô minh làm não hại (con người) với dục,
tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc
vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn".
Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy
cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng chánh
Niết-bàn. Mắt có thể truy cầu sắc không thích hợp, tai có
thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy cầu
hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích
hợp, thân có thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy
cầu pháp không thích hợp. Khi mắt truy cầu sắc không thích
hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp, mũi truy cầu hương
không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân truy
cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp,
thời tham dục nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tham dục nhiễu
loạn tâm, đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.
Như vậy, này Sunakkhatta, là chết trong giới luật của bậc
Thánh, khi vị ấy từ bỏ tu tập, trở về hoàn tục, và như vậy,
này Sunakkhatta, là khổ như chết, khi vị ấy phạm một ô uế
tội nào.
Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi ở đây một số
Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Tham ái được bậc Sa-môn gọi là
mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục,
tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt, thuốc độc
vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn".
Chính vì thiên nặng về chánh Niết-bàn, vị ấy không truy cầu
những gì không thích hợp với khuynh hướng thiên nặng về
Niết-bàn, mắt không truy cầu sắc không thích hợp, tai không
truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy cầu hương
không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp,
thân không truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu
pháp không thích hợp. Vì mắt vị ấy không truy cầu sắc không
thích hợp, vì tai không truy cầu tiếng không thích hợp, vì
mũi không truy cầu hương không thích hợp, vì lưỡi không truy
cầu vị không thích hợp, vì thân không truy cầu xúc không
thích hợp, vì ý không truy cầu pháp không thích hợp, nên
tham dục không nhiễu loạn tâm, vì tham dục không nhiễu loạn
tâm; nên vị ấy không đi đến chết hay đi đến khổ gần như
chết.
Ví như, này Sunakkhatta, một người bị tên bắn, và mũi tên bị
tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống
người ấy cho mời một y sĩ giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có
thể cắt xung quanh miệng vết thương với con dao; sau khi cắt
xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải phẫu
có thể dò tìm tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm
mũi tên với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên
ra... Y sĩ có thể trừ khử hết thuốc độc không còn để dư lại
và biết rằng không còn để dư lại. Vị ấy nói như sau: "Này
Bạn, mũi tên của Bạn đã được rút ra, thuốc độc đã được trừ
khử, không có dư tàn, nhưng vẫn còn nguy hiểm cho Bạn. Và
Bạn hãy ăn những đồ ăn thích hợp, chớ ăn những đồ ăn không
thích hợp khiến vết thương có thể làm mủ; và thường thường
hãy rửa vết thương, thường thường hãy xức thuốc miệng vết
thương, thường thường rửa vết thương, thường thường xức
thuốc miệng vết thương, chớ để máu cũ đóng khô lại trên
miệng vết thương. Và chớ có đi ra giữa gió và nắng; đi ra
giữa gió và nắng, chớ để bụi và nhớp làm nhiễu hại miệng vết
thương, hãy sống gìn giữ vết thương, này Bạn, và vết thương
sẽ lành".
Người ấy suy nghĩ như sau: "Mũi tên đã được rút ra khỏi ta,
thuốc độc đã được trừ khử, không có dư tàn. Và ta chưa thoát
khỏi nguy hiểm". Và vị ấy có thể chỉ ăn các đồ ăn thích hợp.
Do chỉ ăn các đồ ăn thích hợp miệng vết thương có thể không
làm mủ. Và thường thường vị ấy có thể rửa vết thương, thường
thường có thể xức thuốc miệng vết thương. Do thường thường
rửa vết thương, do thường thường xức thuốc miệng vết thương,
máu cũ không có thể đóng khô lại trên miệng vết thương.
Người ấy không sốt sắng đi giữa gió và nắng. Do người ấy
không sốt sắng đi giữa gió và nắng, bụi và nhớp không có thể
nhiễu hại miệng vết thương và người ấy sống gìn giữ vết
thương, và vết thương được lành. Vì người ấy chỉ làm những
điều thích hợp và vì thuốc độc được trừ khử không còn dư
tàn, do hai nhân duyên ấy vết thương được khép kín lại. Khi
vết thương được da che kín lại, người ấy không đi đến chết
hay không đi đến khổ gần như chết.
Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một
số Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Tham ái được bậc Sa-môn gọi là
mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục,
tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt.... không có
truy cầu những gì không thích hợp. Mắt không truy cầu sắc
không thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp,
mũi không truy cầu hương không thích hợp, lưỡi không truy
cầu vị không thích hợp, thân không truy cầu xúc không thích
hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp. Do mắt người ấy
không truy cầu sắc không thích hợp, do tai không truy cầu
tiếng không thích hợp, do mũi không truy cầu hương không
thích hợp, do lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, do
thân không truy cầu xúc không thích hợp, do ý không truy cầu
pháp không thích hợp, tham dục có thể không nhiễu hại tâm.
Do tâm không bị tham dục nhiễu hại, nên người ấy không đi
đến chết, hay không đi đến khổ gần như chết.
Này Sunakkhatta, Ta nói ví dụ này với mục đích làm sáng tỏ ý
nghĩa. Nghĩa ở đây như sau: Vết thương, này Sunakkhatta, là
đồng nghĩa với sáu xúc xứ (phassayatana); thuốc độc, này
Sunakkhatta, là đồng nghĩa với vô minh; mũi tên, này
Sunakkhatta, là đồng nghĩa với ái; vật dụng dò tìm, này
Sunakkhatta, là đồng nghĩa với niệm; con dao, này
Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Vị y sĩ giải
phẫu, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Thật vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo tự mình phòng hộ đối với
sáu xúc xứ, nghĩ rằng: "Sanh y (Upadhi) là căn bản của khổ",
sau khi biết như vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát
nhờ đoạn diệt sanh y. Vị ấy còn chú thân của mình trên sanh
y hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.
Ví như, này Sunakkhatta, một chén uống nước bằng đồng, đẹp
đẽ và hương thơm, và chén ấy lại tẩm thuốc độc. Rồi một
người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, yếm ly khổ.
Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có uống chén
bằng đồng này không, nếu người ấy biết: "Sau khi tôi uống từ
đây, tôi sẽ đi đến chết hoặc đi đến gần như chết?"
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ
đối với sáu xúc xứ. "Sanh y là căn bản của đau khổ", sau khi
biết vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn
diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, để tâm đến
sanh y, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này
Sunakkhatta, một con rắn độc hết sức độc hại, và có một
người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, yếm ly khổ.
Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có đưa tay hay
gót chân cho con rắn độc hại này không, nếu người ấy biết:
"Nếu ta bị con rắn này cắn, ta sẽ đi đến chết hay khổ gần
như chết?"
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ
sáu xúc xứ. "Sanh y là căn bản đau khổ", sau khi biết vậy,
vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y.
Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, hay để tâm đến sanh y,
sự tình như vậy không xảy ra.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sunakkhatta Licchaviputta hoan
hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Dịch
giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo-
|