|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư ngày 10 tháng 02, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Bài 106. Kinh Bất Động Lợi Ích (Āneñjasappāya Sutta), phân đoạn 515 đến 519.
Āneñjasappāya Sutta có nghĩa là bài kinh dạy về hướng đi
từ trạng thái bất động. (chữ sappāya có nghĩa là tốt đẹp,
lợi ích, tương thích). Trạng thái bất động ở đây là thiền
chứng ở trạng thái “xã niệm thanh tịnh của tứ thiền” và Niết
bàn. Trạng thái nầy đối lập với trạng thái tâm vần xoay theo
năm cảnh dục ngoại giới (sắc, thinh, khí, vị, xúc). Nội dung
bài kinh chứa đựng những Phật ngôn dạy về sự tương quan sâu
xa giữa chỉ (samatha) và quán (vipassanā).
515.
Ngũ dục chẳng những tầm thường mà còn nguy hại
Sự say đắm năm cảnh dục ngoại giới (sắc, thinh, khí, vị,
xúc) chẳng những khiến tâm tư luôn bị giao động mà còn chứa
nhiều hiểm hoạ:
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru (Câu-lâu).
Kammāssadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm) là thị trấn của dân chúng
Kuru. Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". --
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, trống rỗng, giả
dối, thuộc ngu si tánh; chúng là đề tài dông dài trong câu
chuyện của kẻ thiểu trí. Các dục hiện tại, và các dục tương
lai, các dục tưởng hiện tại và các dục tưởng tương lai, cả
hai đều thuộc lãnh vực của ma, là cảnh giới của ma, là mồi
bẩy của ma, là hành xứ của ma.
516.
Thiền định là con đường đưa tới trạng thái không giao động
Thiền định là câu trả lời làm thế nào đạt đến trạng thái
không giao động. Theo sớ giải thì trạng thái tứ thiền (hay
ngũ thiền theo A Tỳ Đàm) là tầng cấp bất động được Đức Phật
giảng ở đây. Có ba hướng đi của hành giả khi chứng đạt trạng
thái bất động nầy: một là chứng thiền làm cơ sở để sanh vào
cõi thiền, hai là chứng thiền rồi dùng thiền chứng là đề mục
khai triển tuệ giác (một sự kết hợp giữa chỉ và quán), ba là
chứng thiền rồi dùng trạng thái đó là lực đầy đạt đến tầng
cao hơn:
Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:
"Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng
hiện tại, và những dục tưởng tương lai, phàm bất cứ sắc pháp
gì, là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành". Trong khi
vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở
thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy
thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí
tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức
diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Bất
động.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:
"Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng
hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện
tại và những sắc pháp tương lai, những sắc tưởng hiện tại và
những sắc tưởng tương lai, cả hai đều vô thường. Cái gì vô
thường thời không đáng để được hoan hỷ, không đáng để được
hoan nghênh, không đáng để được chấp trước". Trong khi vị ấy
hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở
thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy
thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí
tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức
diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy,
này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Bất
động.
517.
Vô sở hữu xứ và tánh không
Một đặc điểm của bài kinh nầy là sự mô tả chi tiết về tầng
thiền vô sở hữu xứ trong hai phương diện chỉ và quán (định
và niệm) cũng với ba hướng đi như đã đề cập ở đoạn trên.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đi đến khu rừng hay
đi đến dưới gốc cây và suy nghĩ như sau: "Trống không là tự
ngã hay ngã này sở hữu". Trong khi vị ấy hành trì như vậy,
an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong
giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu
xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi
thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy
có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Vô sở hữu
xứ.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:
"Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào,
và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong
hình thức nào". Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú
nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ
(của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ
trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại
mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy
theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được
gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
518.
Phi tưởng phi phi tưởng xứ
Giống như nhiều bài kinh khác và theo A tỳ đàm thì cảnh giới
phi tưởng phi phi tưởng quá tế nhị để làm đề mục quán chiếu
nên ở phần nầy chỉ một hướng đi được đề cập.
519.
Tuệ quán không đi với tam muội định
Theo sớ giải thì Tôn giả Ānanda sau khi nghe Bậc Đạo Sư
giảng dạy về sự liên hệ tế nhị giữa chỉ và quán đã nêu lên
câu hỏi về khả năng thành tựu tuệ giác mà không có thiền
chứng (sukkhavipassaka):
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy
nghĩ: "Nếu trước không có như vậy, thời có thể không là của
ta; nếu nay không có như vậy thời có thể sẽ không là của ta.
Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có". Và như vậy
vị ấy được xả. Bạch Thế Tôn, môt vị Tỷ-kheo như vậy có chứng
được cứu cánh Niết-bàn không?
-- Ở đây, này Ānanda, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu
cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng
được cứu cánh Niết-bàn.
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số
Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một
số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn?
-- Ở đây, này Ānanda, một Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy
nghĩ: "Nếu trước không có như vậy thời có thể không là của
ta. Nếu nay không có như vậy, thời có thể sẽ không là của
ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có". Và như
vậy vị ấy được xả. Vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh,
chấp trước xả ấy. Do vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh,
chấp trước xả ấy, thức lệ thuộc xả ấy và thủ trước xả ấy. Có
thủ trước, này Ananda, vị Tỷ-kheo không chứng cứu cánh
Niết-bàn.
-- Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo ấy thủ trước là thủ trước chỗ
nào?
-- Này Ānanda, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
-- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là
thủ trước tối thượng?
-- Này Ānanda, Vị Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là
thủ trước tối thượng. Này Ānanda, đây là thủ trước tối
thượng, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, này
Ānanda, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: "Nếu
(trước) không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu
(nay) không có như vậy, thời có thể không là của ta. Ta đoạn
trừ những gì hiện có và những gì đã có". Như vậy, vị ấy được
xả, vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh,
không chấp trước xả ấy. Do vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy,
không hoan nghênh, không thủ trước xả ấy, thức không lệ
thuộc xả ấy và không thủ trước xả ấy. Không thủ trước, này
Ananda, vị Tỷ-kheo chứng cứu cánh Niết-bàn.
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch
Thế Tôn! Chính mười y cứ sự này sự kia, bạch Thế Tôn, sự
vượt thoát dòng nước mạnh đã được Thế Tôn nói lên. Nhưng
bạch Thế Tôn, thế nào là Thánh giải thoát?
-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:
"Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng
hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện
tại và những sắc pháp tương lai, những Bất động tưởng, những
Vô sở hữu xứ tưởng, và những Phi tưởng phi phi tưởng xứ
tưởng, cái gì thuộc tự thân, là tự thân. Ðây là bất tử tức
là tâm giải thoát không thủ trước". Này Ānanda, đây là đạo
lộ về lợi ích Bất động được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi
ích Vô sở hữu xứ được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Phi
tưởng phi phi tưởng xứ được Ta thuyết giảng, là sự vượt qua
dòng nước mạnh do y cứ sự này sự kia được Ta thuyết giảng,
Thánh giải thoát được Ta thuyết giảng.
Những gì, này Ānanda, vị Ðạo sư cần phải làm, vì lòng từ mẫn
mưu tìm hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đã được Ta
làm, vì lòng từ mẫn của Ta đối với Ông. Này Ānanda, đây là
những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, này
Ānanda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời
dạy của Ta cho Ông.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
Dịch
giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo-
|