|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai ngày 15 tháng 02, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Bài 107. Kinh Gaṇaka Moggallāna (Gaṇakamoggallāna Sutta)phân đoạn 520 đến 522.
Tên kinh lấy từ nhân vật Gaṇaka Moggallānasutta một bà la
môn ở Sāvatthī được biết là một nhà toán học. Vị nầy đến
diện kiến Đức Phật và hỏi về sự tu tập trong Phật giáo.
Những gì được đề cập trong bài kinh nầy cho thấy một khía
cạnh quan trọng của Phật Pháp đó là chuyển hoá con người
bằng sự giáo dục.
520.
Giáo dục là con đường chuyển hoá mang tính tuần tự thứ lớp
Phương pháp chuyển hóa tuần tự là căn bản của sự giáo dục:
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, Pubbārāma, nơi lâu đài của
Migaramātu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Rồi Bà-la-môn
Gaṇaka Moggallāna đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên
những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào
đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna bạch Thế Tôn:
-- Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migāramātu này,
có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần
tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng
cuối cùng; thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị
Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình
tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập
Vedā). Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn
cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần
tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng
vậy, thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người
toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập
tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là
toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng khi có được người đệ
tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: "Một, một
lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần,
sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần,
mười, mười lần". Và thưa Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm
tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama,
trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một
tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?
-- Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này,
có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có một
tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện
ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước
tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho
nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi
được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện
người ấy như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy
sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi
chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ
trì và học tập các học giới".
Này Bà-la-môn, khi vị Tỷ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự
chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự
nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các
học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy
đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm
giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên
nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu
bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự
nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt.
Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị.. thân
cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng
chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý
căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác
bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý
căn, thực hành sự hộ trì ý căn".
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai
mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy
tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn,
không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để
trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này
được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì
Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và
không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi
lầm, sống được an ổn".
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi,
Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo,
hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và
trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại
pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và
trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại
pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên
phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau,
chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban
đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành
và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng
ngại pháp".
Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như
Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo,
hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui
đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác;
khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình
bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều
tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi,
đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác".
Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới
huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một
chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang
đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm".
Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây,
khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm.
Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già,
lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt.
Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái,
gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm
không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình,
gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy
sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh
sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy
miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội
tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi
ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng
lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm,
làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và
trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh,
với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ
hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ,
nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,
thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú,
chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm
thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc,
xả niệm thanh tịnh.
Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm
chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các
triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những
vị ấy. Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu
đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt
gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết
sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại
lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
521.
Tại sao cũng tu theo Phật nhưng có vị đắc chứng, có vị
không?
Không phải ai tu cũng đắc chứng. Đây là sự tự nhiên về căn
tánh của chúng sanh. Cũng là sự khác biệt trong cách nói
giữa Đạo Phật và các tôn giáo. (Các tôn giáo khác, ngay cả
một số tông pháp Phật giáo ngày nay, tuyên bố sự vạn năng
của niềm tin: hễ tin là được):
-- Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama
khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều
chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng
được?
-- Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo
như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích
Niết-bàn, một số không chứng được.
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có
mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn,
trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy
các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo
như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích
Niết-bàn, một số không chứng được?
-- Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn,
hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có
giỏi về con đường đi đến Rājagaha (Vương Xá)?
-- Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người,
muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau:
"Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rājagaha. Hãy chỉ cho tôi con
đường đi đến Rājagaha". Ông nói với người ấy như sau: "Ðược,
này Bạn, đây là con đường đưa đến Rājagaha. Hãy đi theo con
đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời
gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo
trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ
thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một
thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy
Rājagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ
diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu".
Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy
như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây.
Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rājagaha. Người này
đến Ông và hỏi như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến
Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi". Rồi Ông
nói với người ấy như sau: "Ðược, này Bạn, đây là đường đi
đến Rājagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian.
Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như
thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau
khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như
thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau
khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy
Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ
diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu".
Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến
Rājagaha một cách an toàn.
Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt
Rājagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rājagaha, trong
khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến
giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai
lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rājagaha
một cách an toàn?
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là
người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong
khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta
là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến
giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh
đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này
Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
522.
Tán thán và quy y
Là một người trí thức, vị bà la môn đã nói lên suy nghĩ của
mình trước khi quy y Tam Bảo:
-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì
lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất
thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ
trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác,
thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy
đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly,
biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác,
không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả
Gotama không thể sống với những người như vậy.
Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia
đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt,
không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không
dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có
tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn
kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ
thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh
niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ,
không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị
ấy.
Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên
đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây
hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong
các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối
thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được
xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.
Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay,
thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị
quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho
những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để
những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã
được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải
thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng
Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay
cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Dịch
giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo-
|