|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư ngày 17 tháng 02, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Bài 109. Ðại Kinh Mãn Nguyệt (Mahāpuṇṇama Sutta), phân đoạn 525 đến 529.
Mãn Nguyệt - puṇṇama - có nghĩa là ngày trăng tròn. Tên kinh
đặt theo ngáy rằm với lễ bố tát, cũng là trường hợp hiếm khi
lấy thời điểm trong tháng làm tựa đề cho bài kinh. Có hai
bài kinh cùng tên. Bài nầy dài hơn nên gọi là đại kinh. Nhân
ngày bố tát, một tỳ kheo hỏi Đức Phật về sự quán chiếu tự
thân. Bậc Đạo Sư đã dạy về năm uẩn và quán chiếu bản chất vô
thường, khổ não, vô ngã đối với năm uẩn.
525. Hỏi pháp, hỏi về bản chất tự nhiên, cũng là hỏi về tự thân
Nhân ngày bố tát hằng tháng một tỳ kheo bạch hỏi
Đức Phật về năm thủ uẩn. Những nhóm tác thành sự hiện hữu
của chúng sanh. Những thành tố nầy tạo nên bởi chấp thủ và
cũng là đối tượng của chấp thủ:
Một
thời Thế Tôn ở tại Sāvatthī (Xá-vệ), Pubbārāma
(ÐôngViên),
Migāramātu pāsāde
(Lộc Mẫu Giảng đường).Lúc bấy giờ trong ngày
Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế
Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo
đoanh vây. Rồi một Tỷ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy,
đắp y vào một bên vai, chấp tay vái Thế Tôn và
bạch Thế Tôn:
-- Con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề đặc biệt, nếu
Thế Tôn cho con được phép nói lên câu hỏi.
-- Vậy này Tỷ-kheo, hãy ngồi trên chỗ của Ông và
hỏi như ý Ông muốn.
Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi
của mình, bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này, tức
là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành
thủ uẩn và thức thủ uẩn?
-- Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ
uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn,
thức thủ uẩn.
-- Lành thay, bạch Thế Tôn.
526. Sự chấp thủ năm uẩn cũng là một phần thuộc về năm uẩn
Tất cả hiện tượng chấp thủ, đối tượng của chấp thủ
đều nằm trong ngũ uẩn:
-- Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này, lấy gì làm căn
bản?
-- Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn
bản.
-- Bạch Thế Tôn, có phải chính chấp thủ ấy là năm
thủ uẩn, hay là ngoài năm thủ uẩn, có một chấp
thủ (khác)?
-- Này Tỷ-kheo, không phải chính chấp thủ ấy là năm
thủ uẩn, cũng không phải ngoài năm thủ uẩn có sự
chấp thủ. Này Tỷ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng
tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp
thủ.
-- Bạch Thế Tôn, phải chăng có thể có sự sai khác
trong lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn?
Thế Tôn trả lời:
-- Này Tỷ-kheo, có thể có. Ở đây, này Tỷ-kheo có
người nghĩ như sau: "Mong rằng có sắc như thế này
trong tương lai! Mong rằng có thọ như thế này trong
tương lai! Mong rằng có tưởng như thế này trong
tương lai! Mong rằng có hành như thế này trong
tương lai! Mong rằng có thức như thế này trong
tương lai!" Như vậy, này Tỷ-kheo, có sự sai khác
trong lòng dục, lòng tham đối với năm uẩn.
527. Chữ “uẩn” được định nghĩa thế nào?
Thuật ngữ khandha thường được dịch là uẩn hay ấm
có nghĩa là nhóm, khối. Định nghĩa trong bài kinh nầy cho
thấy uẩn bao gồm những gì đang hiện hữu, đã hiện hữu, sẽ
sanh khởi ở nhiều dạng thức khác nhau:
-- Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện
tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa
hay gần, như vậy là sắc uẩn. Phàm cảm thọ gì, quá
khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế,
liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn.
Phàm tưởng gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa
hay gần, như vậy là tưởng uẩn. Phàm những hành
gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như
vậy là hành uẩn. Phàm thức gì, quá khứ, vị lai hay
hiện tại... xa hay gần, như vậy là thức uẩn. Cho
đến như vậy, này Tỷ- kheo là ý nghĩa chữ uẩn trong
các uẩn.
528. Nhân và duyên sanh tác thành năm uẩn
Năm uẩn tạo thành do nhân, do duyên. Chính ở đây
là trả lời thực tiễn cho câu “chúng ta từ đâu đến” qua cái
nhìn của thiền quán:
-- Bốn đại là nhân, này Tỷ-kheo, bốn đại là duyên
được chấp nhận gọi là sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc
là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn. Xúc là
nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là tưởng
uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận
gọi là hành uẩn. Danh sắc là nhân này Tỷ-kheo, danh
sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn.
-- Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là thân kiến?
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không
hiểu rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các
bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không
hiểu rõ các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp
các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn
nhân, xem sắc như là tự ngã, hay xem tự ngã như là
có sắc, hay xem sắc như là trong tự ngã, hay xem tự
ngã như là trong sắc; xem thọ như là tự ngã, hay
xem tự ngã như là có thọ, hay xem thọ như là trong
tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thọ; xem tưởng
như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có tưởng,
hay xem tưởng như là trong tự ngã, hay xem tự ngã
như là trong trưởng; xem hành như là tự ngã, hay
xem tự ngã như là có hành, hay xem hành như là
trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong hành; xem
thức như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có
thức, hay xem có thức như là trong tự ngã, hay xem
tự ngã như là trong thức.
-- Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là không thân kiến?
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, đi đến
các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu
tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chơn nhân,
thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, tu tập pháp các
bậc Chơn nhân, không xem sắc như là tự ngã, hay
không xem tự ngã như là có sắc, hay không xem sắc
như là trong tự ngã, hay không xem tự ngã như là
trong sắc; không xem thọ như là tự ngã...., không
xem tự ngã như là trong thọ; không xem tưởng như
là tự ngã... , hay không xem tự ngã như là trong
tưởng; không xem hành như là tự ngã... , hay không
xem tự ngã như là trong hành; không xem thức như là
tự ngã... , không xem tự ngã như là trong thức. Như
vậy, này Tỷ-kheo, là không thân kiến.
-- Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt của sắc, cái gì
là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là
vị ngọt của thọ, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì
là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của tưởng, cái
gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì
là vị ngọt của hành, cái gì là sự nguy hiểm, cái
gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của thức,
cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly?
-- Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên sắc khởi lên, như
vậy là vị ngọt của sắc. Cái gì vô thường, khổ,
bị biến hoại trong sắc như vậy là sự nguy hiểm của
sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn
diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly của sắc. Này
Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên thọ khởi lên, như vậy là
vị ngọt của thọ... như vậy là sự xuất ly của thọ.
Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên tưởng khởi lên như
vậy là vị ngọt của tưởng.... là sự xuất ly của
tưởng. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên hành khởi lên
như vậy là vị ngọt của hành... là sự xuất ly của
hành. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên thức khởi lên,
như vậy là vị ngọt của thức. Cái gì vô thường,
khổ, bị biến hoại trong thức, như vậy là sự nguy
hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục tham đối với
thức, sự đoạn diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly
của thức.
-- Bạch Thế Tôn, do biết gì, do thấy gì, mà không có
mạn tùy miên rằng: "Ta là người làm, sở thuộc của
ta là người làm", đối với tự thân có ý thức, và
đối với cả tưởng ở ngoài?
-- Này Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay
hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng,
xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như
thật với trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi,
cái này không phải là tôi, cái này không phải tự
ngã của tôi". Phàm có thọ gì... tưởng gì... hành
gì... phàm có thức gì, quá khứ vị lai hay hiện
tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa
hay gần, đối với tất cả thức, thấy được như thật
với trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái
này là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi".
Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, nên
không có mạn tùy miên rằng: "Ta là người làm, sở
thuộc của ta là người làm", đối với tự thân có ý
thức, và đối với tất cả tướng ở ngoài.
529. Chỉ có quả chứ không có người gặt quả
Sự hiện hữu, trong ý nghĩa tận cùng, là sự đắpp
đổi nối tiếp những nhân và quả, không có người tạo nghiệp
cũng không có người gặt quả:
Thế Tôn biết được tâm tư của Tỷ-kheo ấy với tâm
tư của mình liền nói với các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, sự kiện này xảy ra, khi ở đây có
kẻ ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi
phối, lại nghĩ cần phải vượt qua lời dạy của bậc
Ðạo sư với (câu hỏi): "Nếu được nói rằng, chư
Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là
vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy
những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào
cảm thọ kết quả?" Này các Tỷ-kheo, các Ông đã
được Ta huấn luyện tìm kiếm nhân duyên, chỗ này
chỗ kia, đối với những pháp này, pháp khác.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là
thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Những gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp
lý chăng khi xem: "Cái này của tôi, cái này là
tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
-- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, thọ...
tưởng... hành... thức là thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Những gì vô thường, là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp
lý chăng khi xem: "Cái này là của tôi, cái này là
tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
-- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm
ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với
tưởng, yếm ly đối với hành, yếm ly đối với thức.
Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát.
Trong sự giải thoát, vị ấy biết được vị ấy đã
giải thoát. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những gì nên làm đã làm. Từ nay không còn
trở lại đời sống thế này nữa".
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ
tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự giảng giải
này được nói lên, tâm của sáu mươi vị Tỷ-kheo
được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp
thủ.
Dịch
giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo-
|