|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy ngày 20 tháng 02, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Bài 112. Kinh Sáu Thanh Tịnh (Chabbisodhana Sutta), phân đoạn 537 đến 543.
Kinh Sáu Thanh Tịnh là đề tài chỉ cho sáu pháp, một con số
vẫn có nhiều bàn cãi. Việc xác chứng ai là a la hán thật sự
là một điều rất tế nhị và phức tạp. Khi Bậc Đạo Sư trụ thế
thì chính Ngài là người tuyên bố vị nào thật sự chứng đắc.
Điều chắc chắn là khi không có Đức Phật thì thật khó khăn để
lượng định ai là người chứng đắc đạo quả tối thượng. Đối với
đa số Tăng chúng hôm nay thì chỉ có một phương cách duy nhất
là nêu lên những câu hỏi cần thiết. Điều cần nhớ là không
nên có thái độ cả tin hay phủ bác khi chưa nêu lên câu hỏi
và lắng nghe câu trả lời.
537.
Một vấn đề không đơn giản
Khi nghe một người tuyên bố đã hoàn toàn giải thoát thì
khoan vội tin, khoan vội phủ nhận:
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana
(Kỳ-đà-lâm), tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở
đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:,
"Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các vị
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :
-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói lên chánh trí
(aññaṁ) như sau: "Ta tuệ tri như vầy:"Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa"".
Này các Tỷ-kheo, lời nói của vi Tỷ-kheo ấy, không nên
tán thán cũng không nên bác bỏ.
538.
Câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi chánh đáng
Hãy bắt đầu với câu hỏi y cứ trên truyền thống chánh pháp:
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo, các lậu hoặc đã đoạn
tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã
đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn
trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh
trí, câu trả lời tùy pháp (anudhamma) của vị ấy phải
như sau:
"Này chư Hiền, tôi không cảm thấy luyến ái, không
chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không
hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế, đối với
những vật được thấy... được nghe... được cảm
giác... được nhận thức. Chư Hiền, vì rằng tôi biết
như vậy, thấy như vậy, đối với bốn hình thức tuyên
bố này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi
các lậu hoặc, không có chấp thủ".
539. Trình độ nhận thức đối với tự thân
Một vị thật sự giải thoát trước hết là phải vượt quan những
chấp thủ đối với năm uẩn:
"Này Hiền giả, năm thủ uẩn này được Thế Tôn, bậc
Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân
chánh nói lên. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn,
tưởng thủ uẩn, thọ thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức
thủ uẩn. Năm thủ uẩn này, này Hiền giả, được Thế
Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác chân chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì,
đối với năm thủ uẩn này, Tôn giả có thể nói tâm của
Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có
chấp thủ?"
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn
tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã
đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn
trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh
trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:
"Này chư Hiền, sau khi biết sắc này là vô lực, biến
hoại, không an ổn, đối với những sắc là những chấp
thủ phương tiện (upāyupādānā), là những tâm cố chấp,
thiên chấp, tùy miên, đối với những sắc ấy, với sự
đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả,
tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Này chư Hiền, sau khi biết thọ này... Này chư Hiền,
sau khi biết tưởng này...
Này chư Hiền, sau khi biết hành này…
Này chư Hiền, sau khi biết thức này là vô lực, biến
hoại, không an ổn, đối với thức là những chấp thủ
phương tiện, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy
miên. Ðối với những thức ấy, với sự đoạn tận, đoạn
ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi
được giải thoát.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy,
đối với năm thủ uẩn này, tôi có thể nói tâm tôi được
giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ".
540. Tuy vậy vẫn nên hỏi thêm
Cái nhìn về vạn pháp (vũ trụ quan) của một vị hoàn toàn giải
thoát cũng cần được hỏi rõ:
"Này Hiền giả, sáu giới này được Thế Tôn, bậc Tri
Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn
chánh nói lên. Thế nào là sáu? Ðịa giới, thủy giới,
hỏa giới, phong giới, không giới, thực giới. Sáu giới
này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến
Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên. Nhưng biết
cái gì, thấy cái gì với sáu giới này, Tôn giả có thể
nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu
hoặc, không có chấp thủ?"
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn
tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã
đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục địch, đã đoạn
trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh
trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:
"Chư Hiền, tôi đã đi đến địa giới như là không phải
tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc địa
giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương
tiện tùy thuộc địa giới, là những tâm cố chấp, thiên
chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn
tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ
tri tâm tôi được giải thoát.
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thủy giới... Này
chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến hỏa giới... Này chư
Hiền, sau khi tôi đã đi đến phong giới... Này chư Hiền,
sau khi tôi đã đi đến không giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thức giới như là
không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy
thuộc thức giới. Ðối với những pháp là những chấp
thủ phương tiện tùy thuộc thức giới, là những tâm
cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy,
với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ,
đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy,
đối với sáu giới này, tôi có thể nói tâm tôi được
giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ".
541. Vẫn cần hỏi rõ y cứ trên căn bản pháp học
Đắc chứng đạo quả không phải là một danh vị ban phong mà là
khả năng nhìn xuyên suốt cuộc sống với chân pháp:
"Này Hiền giả, sáu nội ngoại xứ này được Thế Tôn,
bậc Tri Giả, Kiến Giả bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Mắt và sắc, tai và
tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và
pháp. Sáu nội ngoại xứ này, này Hiền giả, được Thế
Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác nói lên.
Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, thấy cái gì đối với
sáu nội ngoại xứ này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn
giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp
thủ?".
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn
tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã
đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn
trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh
trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:
"Chư Hiền, đối với mắt, đối với sắc, đối với nhãn
thức, đối với những pháp được nhận thức bởi nhãn
thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có
những pháp chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp,
thiên chấp, tùy miên. Ðối với những pháp ấy, với sự
đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả,
tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát. Chư Hiền, vì
rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu
nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được giải
thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Chư Hiền, đối với tai, đối với tiếng, đối với nhĩ
thức...; chư Hiền, đối với mũi, đối với hương,
đối với tỷ thức...; chư Hiền, đối với lưỡi, đối
với vị, đối với thiệt thức...; chư Hiền, đối với
thân, đối với xúc, đối với thân thức...; chư Hiền,
đối với ý, đối với pháp, đối với ý thức, đối với
các pháp được nhận thức bởi ý thức, phàm có dục gì,
tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có những chấp thủ phương
tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối
với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn
diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được
giải thoát.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy,
đối với sáu nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi
được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp
thủ".
542. Mạn tuỳ miên là một câu hỏi lớn cần được nêu ra
Mạn là kiết sử sau cùng trong năm thượng phần kiết sử. Không
một vị nào đạt đến viên mãn cứu cánh mà mạn tuỳ miên vẫn tồn
đọng ngay cả trong hình thức vi tế nhất:
"Nhưng này Hiền giả, do biết gì, thấy gì, do đối với
các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở
ngoài, Tôn giả có thể nói về mạn tùy miên: "Ta là
người làm, sở thuộc của ta là người làm", mạn tùy
miên của Tôn giả được đoạn trừ một cách hoàn toàn?".
Chư Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn
tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm, đã làm, đã
đặt gánh xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ
hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu
trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:
"Chư Hiền, thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia, tôi còn
ngu muội. Tôi được Như Lai, đệ tử Như Lai thuyết
pháp. Sau khi nghe pháp. Tôi có lòng tịnh tín đối với
Như Lai. Thánh tựu được tịnh tín ấy, tôi suy nghĩ:
"Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường
đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng
như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia
đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn
toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên
cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình,
sống không gia đình".
"Chư Hiền, một thời gian sau, tôi từ bỏ tài sản nhỏ
hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ
hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc,
đắp áo cà-sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không
gia đình.
Khi đã xuất gia như vậy, tôi thành tựu học giới và
nếp sống các vị Tỷ-kheo, tôi từ bỏ sát sanh, tránh xa
sát sanh, bỏ trượng bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng
từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loại
hữu tình. Tôi từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy
của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong
những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm
cướp. Tôi từ bỏ phi Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh,
sống tránh xa (phi Phạm hạnh), từ bỏ dâm dục tục
pháp.
Tôi từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chơn
thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy,
không phản lại đời. Tôi từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa
nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói
chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều
này ở chỗ kia, không đi nói với những người này, để
sinh chia rẽ ở những người kia. Tôi sống hòa hợp
những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan
hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan
trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Tôi từ
bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, tôi nói
những lời nhẹ nhàng, thuận tai, dễ thương, thông cảm
đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, tôi nói những
lời nói như vậy. Tôi từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh
xa nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân
thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về
Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng
được gìn giữ, những lời hợp thời thuận lý, có mạch
lạc hệ thống, có ích lợi.
Tôi từ bỏ không làm hại đến các hột giống và các loại
cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ
bỏ không ăn phi thời. Tôi từ bỏ không đi xem múa, hát,
nhạc, các cuộc trình diễn. Tôi từ bỏ không trang sức
bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, các thời trang,
các thời sức. Tôi từ bỏ không dùng giường cao và
giường lớn. Tôi từ bỏ không nhận các hạt sống. Tôi
từ bỏ không nhận thịt sống. Tôi từ bỏ không nhận đàn
bà, con gái. Tôi từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai. Tôi
từ bỏ không nhận cừu dê. Tôi từ bỏ không nhận gia
cầm và heo. Tôi từ bỏ không voi, bò, ngựa và ngựa cái.
Tôi từ bỏ không nhận ruộng nương và đất đai. Tôi từ
bỏ không nhận người môi
giới hoặc tự mình làm môi giới. Tôi từ bỏ không buôn
bán. Tôi từ bỏ các sự gian lận bằng cân tiền bạc và
đo lường. Tôi từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian
trá, lừa đảo. Tôi từ bỏ không làm thương tổn, sát
hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Tôi bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ
ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang
theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang
theo hai cánh; cũng vậy, tôi bằng lòng với tấm y để
che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại
chỗ nào cũng mang theo (y bát). Tôi thành tựu Thánh giới
uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi
lầm.
Khi mắt thấy sắc, tôi không nắm giữ tướng chung,
không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con
mắt không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác
bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự nguyên nhân
ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi
tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị...
thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, tôi không nắm giữ
tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên
nhân gì, vì ý căn không được chế ngự khiến tham ái ưu
bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự
nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý
căn. Tôi thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác
lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.
Khi đi tới, khi đi lui, tôi đều tỉnh giác. Khi nhìn
thẳng, khi nhìn quanh, tôi đều tỉnh giác. Khi co tay, khi
duỗi tay, tôi đều tỉnh giác. Khi mang y kép, y bát, tôi
đều tỉnh giác. Khi ăn, uống, nhai, nuốt, tôi đều tỉnh
giác. Khi đi đại tiện, tiểu tiện, tôi đều tỉnh giác.
Khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng, tôi đều
tỉnh giác.
"Và tôi đều thành tự Thánh giới uẩn này, thành tựu
Thánh hộ trì các căn này và thành tựu Thánh chánh niệm
tỉnh giác này chọn một chỗ thanh vắng, tịch mịch như
rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây,
ngoài trời, đống rơm.
Sau khi đi khất thực về và ăn xong, tôi ngồi kiết-già,
lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm
trước mặt. Tôi từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm
thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân
hận, tôi sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn
thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rữa tâm hết
sân hân. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, tôi sống thoát ly
hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng
chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trâm thụy
miên. Trừ bỏ trạo cử hối quá, tôi sống không trạo
cử, hối quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết
trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, tôi sống thoát
khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm
hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
"Tôi từ bỏ năm triền cái, các pháp làm cho tâm ô uế,
làm cho trí tuệ muội lược này, ly dục, ly bất thiện
pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ
lạc do ly dục, sanh có tầm có tứ. Tôi diệt tầm và tứ,
chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do
định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tôi
ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc
thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và
trú Thiền thứ ba. Tôi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã
cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ
không lạc, xả niệm thanh tịnh.
"Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm,
không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc,
bình thản như vậy, tôi dẫn tâm, hướng tâm đến lậu
tận trí. Tôi biết như thật:"Ðây là khổ", biết như
thật:"Ðây là nguyên nhân của khổ", biết như thật:"Ðây
là khổ diệt", biết như thật: "Ðây là con đường đưa
đến khổ diệt", biết như thật: "Ðây là những lậu
hoặc", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của lậu
hoặc", biết như thật: "Ðây là các lậu hoặc được
đoạn trừ", biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến
các lậu hoặc được diệt trừ".
"Tôi nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của
tôi thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát
khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như
vậy, tôi khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát"".
Tôi biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần
làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".
"Chư Hiền do biết như vậy, thấy như vậy, đối với
các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở
ngoài, mạn tùy miên: "Ta là người làm, sở thuộc của ta
là người làm", mạn tùy miên này được đoạn trừ một
cách hoàn toàn".
543. Hãy hoan hỷ chấp nhận nếu có câu trả lời chân xác
Nếu những câu hỏi được trả lời thoả đáng thì nên hoan hỷ chứ
không nên luôn giữ thái độ nghi hoặc:
Kinh văn:
Này các Tỷ-kheo Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán,
cần phải được tùy hỷ với lời nói: "Lành thay!" Sau
khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: "Lành thay" vị ấy
cần phải nói như sau: "Thật lợi ích thay cho chúng tôi,
thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được
thấy một vị sống Phạm hạnh như Tôn giả".
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín
thọ lời Thế Tôn dạy.
Dịch
giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo-
|