BÀI HỌC HẰNG NGÀY

 Chủ Nhật ngày 21 tháng 02, 2021

GIÁO TRÌNH THẮNG PHÁP ABHIDHAMMA

HƯỚNG DẪN BÀI HỌC
NGÀY21/02/2021

Tiếp tục bài 60. Tương Hợp Thuộc Tánh Đối Với Tâm

(lưu ý: phần nầy sẽ được giảng trong nhiều bài học)

Sự tương hợp giữa tâm và tánh trong bài học học trước là “mỗi tâm có bao nhiêu thuộc tánh tương hợp”. Bài học nầy nhắm vào “mỗi thuộc tánh tương hợp bao nhiêu tâm”. Cái nhìn đối ngược nầy giúp người học hiểu rõ hơn về tâm và các thuộc tánh.

THUỘC TÁNH

TÂM

CHÚ THÍCH

7 thuộc tánh tợ tha biến hành

1.Thuộc tánh xúc (phassa)

2.Thuộc tánh thọ (vedanā)

3.Thuộc tánh tưởng (saññā) 

4.Thuộc tánh tư (Cetanā)

5.Thuộc tánh nhất hướng (Ekaggatā)

6.Thuộc tánh mạng quyền (Jīvitindriya)

7.Thuộc tánh tác ý (manasikāra)

Tương hợp với tất cả 121 tâm.

Tất cả tâm đều có 7 thuộc tánh xúc, thọ, tưởng, tư, định, mạng quyền, tác ý nên gọi là tợ tha biến hành

Những thuộc tánh tợ tha thường đóng vai trò cơ năng của tâm. Điều nầy đôi khi khiến người học không chú ý nhiều như đối với nhóm bất thiện và tịnh hảo. Tuy vậy một số những thuộc tánh như xúc, thọ, tưởng, tư… lại là chi pháp cho những chủ đề quan trọng nhưng duyên khởi, nghiệp báo, thiền chi….

Những tâm đơn giản nhất, như ngũ song thức, cũng phải có tối thiểu 7 thuộc tánh nầy điều nầy khẳng định tại sao theo Phật học thì không có hiện tượng của pháp hữu vi dù vật lý hay tâm lý là sự hiện hữu cá biệt độc lập mà là sự kết cấu của nhiều nhân nhiều duyên.

7 thuộc tánh tợ tha biến hành bao gồm 3 uẩn: thọ uẩn là thuộc tánh thọ, tưởng uẩn là thuộc tánh tưởng, 5 thuộc tánh còn lại thuộc về hành uẩn. Chính vì vậy mặc dù nói theo bình diện rộng tnhư Tạng Kinh thì năm uẩn có thể quán sát riêng lẻ nhưng khi nói theo phương diện vĩ mô của Tạng Thắng Pháp thì 4 danh uẩn là bất khả ly. Nói cách khác bất cứ sát na tâm nào cũng có 4 danh uẩn thọ, tưởng, hành, thức.

 

 

 

 

 

6 THUỘC TÁNH TỢ THA BIỆT CẢNH

 

THUỘC TÁNH

TÂM

CHÚ THÍCH

 

Thuộc tánh tầm (Vitakka)

Tương hợp được 44 Dục giới (trừ ngũ song thức) và 11 tâm Sơ Thiền.

Sự giao thoa giữa căn, cảnh, thức tạo nên ngũ song thức không có tầm, tứ. Hơn thế nữa ngũ song thức là sự tiếp xúc tiên khởi của tâm đối với năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc giống như vai trò đơn giản của người gác cổng một công ty khi gặp khách đến nên ngũ song thức là thứ tâm ít thuộc tánh nhất (chỉ có 7 thuộc tánh tợ tha biến hành)

Tầm là một trong năm thiền chi nến đối với những tâm thiền từ nhị thiền tới ngũ thiền không có thuộc tánh tầm.

Thuộc tánh tứ (Vicāra)

Tương hợp được 44 tâm dục giới (trừ ngũ song thức) và 22 tâm Sơ và Nhị Thiền

Thuộc tánh tứ không có mặt ở những tâm tam thiền, tứ thiền, ngũ thiền bởi vị đây là thiền chi chỉ có trong tâm sơ và nhị thiền.

Thuộc tánh thắng giải (Adhimokkha)

Tương hợp với 110 tâm (trừ ngũ song thức và si hoài nghi)

Trạng thái của thuộc tánh thắng giải là sự khẳng định nên tự nhiên không thể có mặt trong tâm si hoài nghi.

Thuộc tánh cần (Viriya)

Tương hợp được 105 tâm (trừ 15 tâm quả vô nhân và 1 khai ngũ môn)

Thuộc tánh cần tức trạng thái tinh cần hay năng lượng không có trong những tâm quá muội lược vì có vai trò cơ năng như 15 tâm quả vô nhân. Tâm khai ngũ môn cũng là một thứ tâm cơ năng muội lược khác không có thuộc tánh cần.

Thuộc tánh hỷ (Pīti)

Tương hợp với 51 tâm thọ Hỷ (trừ Tứ Thiền)

Thuộc tánh hỷ khác với thọ hỷ. Tuy vậy thuộc tánh hỷ chỉ có mặt trong những tâm thọ hỷ.

Các tâm thiền chỉ có hai thọ là thọ hỷ và thọ xả. Tâm ngũ thiền thọ xả nên không có thuộc tánh hỷ. Các tâm tứ thiền được kể là thọ hỷ nhưng chỉ có hai thiền chi là lạc và định nên thuộc tánh hỷ không tương hợp.

Thuộc tánh dục (Chanda)

Tương hợp được 101 tâm (trừ 18 tâm vô nhân và 2 tâm si)

Trạng thái của thuộc tánh dục là sự mong muốn. Do bản chất tự nhiên nên không có trong 18 tâm cơ năng và 2 tâm si.


 

Ngữ và nghĩa: Trong môn học Thắng Pháp cách phân nhóm và tên gọi rất quan trọng. Thay vì nói tâm thức và vật chất thì gọi là DANH và SẮC. Danh pháp là hiện tượng tâm lý bao gồm tâm và thuộc tánh của tâm. Do vậy 4 uẩn thọ, tưởng, hành, thức được gọi là DANH UẨN (hay tứ danh uẩn).

Nên cẩn thận:Khi trở lại những ý nghĩa về thuộc tánh của tâm người học cần luôn ghi nhớ là có sự khác biệt lớn giữa cách nói vĩ mô và cách nói trên bình diện rộng. Không phân rõ điều nẩy đôi khi tạo nên những vấn đề thí dụ theo Tạng Kinh thì xúc tạo nên cảm thọ nhưng theo Tạng Thắng Pháp thì xúc và thọ đồng sanh trong mỗi sát na tâm.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Minh-Hoa.png

 

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Bai-60-7-Thuoc-tanh-to-tha-bien-hanh.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Bai-60-8-Tuong-hop-thuoc-tanh-thuoc-tanh-tam.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Bai-60-9-Tuong-hop-thuoc-tanh-thuoc-tanh-tu.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Bai-60-10-Tuong-hop-thuoc-tanh-thuoc-tanh-thang-giai.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Bai-60-11-Tuong-hop-thuoc-tanh-thuoc-tanh-can.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Bai-60-12-Tuong-hop-thuoc-tanh-thuoc-tanh-hy.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Bai-60-13-Tuong-hop-thuoc-tanh-thuoc-tanh-duc.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dieu-Da-Noi-Red.png



Bài học trước là:
Tương Hợp Giữa Tâm và Thuộc tánh

Bài học tiếp theo sẽ là:
Tương Hợp Thuộc Tánh Đối Với Tâm (tiếp theo)