|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 07 tháng 02, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN I-ĐỨC PHẬT
Bài 21. CON NHÀ TÔNG … Phần IV-
Đức Thế Tôn
ra đời mang ánh sáng giác ngộ giải thoát đến muôn loài chúng
sanh. Những đệ tử đã lãnh hội và thành tựu được sự chuyển
hoá kỳ diệu có thể nói là vô số. Trong những vị nầy đã có
nhiều thể hiện cho thấy sự trưởng thành thật sự trong giáo
pháp và góp phần hoằng hoá lợi sanh. Mặc dù khả năng hữu hạn
so với bậc Đạo Sư nhưng con nhà tông không giống lông cũng
giống cánh. Những giai thoại về các đệ tử Phật cho thấy sự
vô uý khi tuyên thuyết chánh pháp; hiệu năng khai thị dù
người thuyết giáo xuất thân tầm thường. Tất cả đã ghi lại
một thời hoàng kim của chánh pháp khi giá trị của chân lý
vượt qua tất cả hạn cuộc của giai cấp, giới tính, giàu
nghèo. Hiểu biết về các đệ tử cũng là sự cảm nhận tánh cách
cao cả về sự ra đời của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Sống Đẹp
Cuộc sống không nhất
thiết luôn diễn ra theo luật “Con Tạo trớ trêu”. Quan niệm
“bỉ sắc tư phong” đã là cái bóng phủ dài hằng bao thế hệ
trong nền văn hoá Trung Hoa và Việt Nam. Nhiều người tin
rằng có tài, sắc thì ắt phải khổ luỵ. Kỳ thật trong văn hoá
Phật giáo đúng nghĩa thì phước nếu khéo tạo thì tạo nên quả
lành đồng thời thói quen sống hiền thiện cũng khiến một đời
an lạc.
Visākhā là một nữ cư
sĩ đệ tử Phật, là đệ nhất nữ cư sĩ.
Ngoài đức hạnh thì còn được biết là một người tài mạo vẹn
toàn. Rất lạ là trong văn hoá Phật giáo Bắc Truyền và Phật
giáo Việt Nam ít nhắc về vị
nữ cư sĩ nầy mặc dù cũng được biết tới qua phiên âm là Tỳ Sá
Khư. Bà có một cuộc sống đẹp từ thời thơ ấu cho tới giây
phút trường thọ cuối đời. Là một người có thành tựu lớn cả
hai mặt đời và đạo. Bà để lại những giai thoại đẹp và quý
giá về cuộc sống.
Hình 77
Câu chuyện Bà Visākhā
Visākhā là
con gái nhà triệu phú Dhananjaya. Cô rất giàu lòng quảng đại
và có tâm đạo nhiệt thành. Mẹ cô là Sumana Devi và ông ngoại
cô là nhà triệu phú Mendaka mà cô hết sức thương mến và quý
trọng.
Ngày nọ, khi cô mới lên bảy, Đức Phật có dịp đến
viếng Bhaddiya, quê cô, trong Vương Quốc Anga. Được nghe tin
lành ấy, ông ngoại cô bảo: "Này cháu thân mến, hôm nay là
ngày vui của cháu và của ông. Vậy cháu hãy tập trung năm
trăm tớ gái, những nô tỳ của cháu, bắt kế năm trăm cỗ xe
cùng với năm trăm thị nữ, cháu hãy đi đón tiếp Đức Phật".
Cô vui vẻ vâng lời. Khi đến nơi, cô đảnh lễ Đức Phật
rồi cung kính ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn lấy làm đẹp ý
thấy tư cách phong nhã lễ độ của cô. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng
tinh thần cô Visākhā đã đến mức tiến bộ khá cao. Sau khi
nghe Đức Phật thuyết Pháp, cô đắc Quả Tu Đà Hườn.
Kinh sách ghi rằng cô Visākhā có sức mạnh như đàn ông
và rất mỹ miều duyên dáng từ thuở còn thơ. Tóc nàng tựa như
đuôi công và khi bỏ xả ra dài chí lai áo rồi cuộn trở lên.
Môi nàng tự nhiên đỏ hồng và rất dịu dàng. Răng trắng như
ngà, khít khao đều đặn và sáng ngời như hai hàng ngọc. Da cô
Visākhā mịn màng như cánh hoa sen màu vàng. Cho đến lúc già
và có đông con, Bà Visākhā vẫn còn giữ hình dáng đẹp đẽ của
thời son trẻ.
Được phú cho năm vẻ đẹp của người phụ nữ - tóc, da,
xương, vóc và tuổi trẻ - Visākhā lại còn trí tuệ hơn người,
sáng suốt trong việc thế gian cũng như trong lãnh vực tinh
thần đạo đức.
Lúc còn mười lăm mười sáu tuổi, nhân một ngày lễ nọ,
nàng cùng đi với nhiều tỳ nữ ra mé sông để tắm. Tình cờ một
đám mưa to từ xa kéo đến. Tất cả mọi người đều lật đật bỏ
chạy vào tạm trú trong một căn nhà bỏ trống, trừ cô Visākhā.
Cùng lúc ấy cũng có vài vị bà la môn đang đi tìm một
người phụ nữ có đủ năm vẻ đẹp cho ông thầy trẻ tuổi của
mình. Cô không vội vã hấp tấp mà chậm rãi, khoan thai lần
bước đi vào đụt mưa trong nhà. Các vị bà la môn trông thấy
lấy làm ngạc nhiên, hỏi cô tại sao không chạy mau vào cho
khỏi ướt mình.
Cô Visākhā nhân cơ hội, ứng khẩu nói lên quan điểm
của mình. Cô nói rằng cô có thể còn chạy mau hơn những người
khác, nhưng cố ý không làm vậy. Và cô giải thích rằng nếu có
vị vua kia đang mặc sắc phục triều đình bỗng nhiên xăn áo
quần lên chạy hối hả vào cung điện, thì ắt không thích đáng.
Một thớt ngự tượng đường bệ oai nghiêm, mình mang đầy trang
sức mà không dõng dạc lần bước, lại đâm đầu bỏ chạy ngoài
đường, thì cũng là một cảnh tượng trái mắt. Những nhà sư
thanh nhã khả kính cũng bị chỉ trích nếu các ngài chạy xốc
xếch y bát. Cùng thế ấy, người phụ nữ chạy ngoài đường như
đàn ông sẽ mất hết nề nếp đoan trang phong nhã.
Các vị bà la môn lấy làm hoan hỷ được nghe những lời
cao đẹp ấy và nghĩ rằng cô Visākhā sẽ là người vợ lý tưởng
cho thầy mình. Sau đó mọi việc thích nghi được sắp xếp để vị
thầy bà la môn Punnavaddhana, con của nhà triệu phú Migara,
vốn không phải là Phật tử, đi cưới cô Visākhā.
Lễ cưới cử hành rất trọng thể. Ngoài những của hồi
môn rất quan trọng và những món đồ trang sức quý giá
(mahālatapilandhana), người cha sáng suốt còn dạy con gái
những điều sau đây:
1. Không đem lửa trong nhà ra ngoài ngõ.
Các điều ấy có nghĩa là:
1. Không nên nói xấu chồng và cha mẹ chồng với người ngoài.
Cũng không nên đem chuyện xấu bên nhà chồng thuật lại cho người ngoài.
9. Phải xem
chồng và cha mẹ chồng như lửa. Mỗi khi có việc với cha mẹ
chồng và chồng phải hết sức thận trọng cũng như phải thận
trọng khi làm việc với lửa.
10. Cha mẹ
chồng và chồng phải được tôn kính như những vị Trời trong
nhà. Nên ghi nhận rằng Đức Phật thường nhắc đến cha mẹ chồng
như những vị Trời trong nhà (Sassudeva).
Ngày cô
Punnavaddhana về nhà chồng tại Sāvatthi, rất đông người
trong thành phố tới tấp gởi đến nàng đủ loại tặng phẩm.
Nhưng vốn giàu lòng quảng đại cô gởi quà, tặng lại mỗi người
với vài lời ân cần và đối xử với mọi người như chính thân
bằng quyến thuộc mình. Do thái độ cao quý ấy, ngay trong
những ngày đầu tiên, tất cả mọi người bên nhà chồng đều quý
chuộng cô.
Một việc
tình cở chỉ rõ rằng tình thương của cô bao trùm cả loài thú.
Hôm nọ, được biết con ngựa cái ở sau nhà sắp đẻ, cô tức khắc
cùng các nô tỳ đốt đuốc ra tận chuồng và hết lòng chăm sóc
ngựa cho đến khi đẻ xong xuôi mới đi ngủ.
Cha chồng cô
là đệ tử trung kiên của Nigantha Nātaputta. Ngày nọ ông
thỉnh về nhà rất đông các tu sĩ lõa thể. Khi các vị đến,
Visākhā được mời ra để đảnh lễ những vị mà người ta gọi là A
La Hán. Thoạt nghe đến danh từ A La Hán, cô lấy làm hoan hỷ
và vội vã bước ra. Nàng chỉ thấy những tu sĩ lõa lồ ngã mạn.
Đối với người phụ nữ phong lưu thanh nhã như cô Visākhā,
thật không thể chịu được. Cô phiền trách cha chồng và quày
quả trở vào. Những đạo sĩ lấy làm tức giận, bắt lỗi nhà
triệu phú tại sao đem vào nhà mình một tín nữ của Đức Phật.
Họ yêu cầu ông đuổi cô ra khỏi nhà tức khắc. Ông triệu phú
khuyên giải hết lời mới nguôi giận.
Ngày nọ, ông
cha chồng ngồi trên ghế và bắt đầu ăn một món cháo nóng rất
ngon trong cái chén bằng vàng. Ngay lúc ấy có một vị tỳ khưu
bước vào nhà khất thực. Cô Visākhā liền đứng qua một bên để
cha chồng trông thấy nhà sư. Tuy đã thấy nhưng ông cha chồng
vẫn làm lơ, tiếp tục ăn như thường. Cô thấy vậy cung kính
bạch sư: "Bạch sư, xin thỉnh sư hoan hỷ bước sang nhà khác.
Cha chồng tôi đang dùng những món ăn đã hư cũ (puranam)."
Nhà triệu
phú kém thông minh, hiểu lầm ý nghĩa của lời nói nên lấy làm
tức giận, truyền gia đình đuổi cô Visākhā ra khỏi nhà.
Nhưng tất cả
tôi tớ trong nhà đều hết lòng quý chuộng cô nên không ai dám
động đến.
Cô Visākhā
luôn luôn biết tôn trọng kỷ luật gia đình nhưng không thể
chấp nhận cách đối xử như thế mà không phản đối, dầu là cha
chồng. Cô lễ phép trình bày: "Thưa cha, quả thật không có đủ
lý do để buộc con phải rời khỏi nhà. Không phải cha đem con
về đây như người mua nô lệ. Trong lúc cha mẹ còn sanh tiền,
con gái không thể bỏ nhà ra đi như vậy. Vì lẽ ấy khi con rời
nhà để sang đây, cha con có mời tám người trong thân tộc và
gởi gắm con cho các vị ấy. Cha con nói: 'Nếu con gái tôi có
phạm điều gì lỗi lầm, xin các vị hãy dò xét cặn kẽ.' Vậy xin
cha hãy mời các vị ấy đến để xét xử, xem con có lỗi hay
không."
Nhà triệu
phú chấp thuận lời đề nghị hữu lý ấy, mời tám vị thân nhân
kia lại và phân trần:
"Nhân một
ngày lễ, tôi đang ngồi ăn cháo nấu với sữa trong một cái
chén bằng vàng, thì con dâu tôi nói rằng tôi ăn những vật
thực đã hư cũ. Xin quý vị hãy vạch ra cho nó thấy lỗi và
đuổi nó ra khỏi nhà này."
Cô Visākhā
giải thích:
"Thật ra
không hẳn tôi nói đúng như vậy. Lúc cha chồng tôi đang dùng
cháo thì có một vị tỳ khưu vào nhà khất thực. Cha chồng tôi
thấy mà làm ngơ.
Nghĩ bụng
rằng cha chồng tôi không làm được điều thiện nào trong hiện
tại mà chỉ thọ hưởng phước báu đã tạo trong quá khứ, nên tôi
bạch với vị tỳ khưu: "Bạch sư, xin thỉnh sư hoan hỷ bước
sang nhà khác. Cha chồng tôi đang dùng những thức ăn đã hư
cũ", tôi nói như vậy thì có điều chi là sai quấy?"
Mọi người
nhìn nhận rằng cô Visākhā không có lỗi. Ông cha chồng cũng
đồng ý. Nhưng chưa hết giận, ông bắt qua tội cô dâu tại sao
giữa đêm khuya mà thắp đuốc cùng với nô tỳ đi ra sau vườn.
Một lần nữa
cô giải thích tại sao cô làm vậy. Tám vị thân nhân ghi nhận
rằng vì tình thương một con thú đang chịu đau đớn, cô dâu
cao quý đã làm một việc cực nhọc mà cho đến các nô tỳ chưa
chắc đã làm. Như vậy là rất được tán dương, hẳn là không có
lỗi.
Nhưng ông
cha chồng triệu phú đầy lòng thù hận chưa chịu ngừng.
Tìm không ra
lỗi gì nữa của cô, ông bắt qua chuyện khác và nói rằng trước
khi về nhà chồng, nàng có học mười điều, thí dụ như: "Lửa
trong nhà không nên đem ra ngoài ngõ." Vậy, thật sự có thể
sống đặng chăng nếu đôi khi không đem lửa cho hàng xóm láng
giềng mồi?
Cô Visākhā
nhân cơ hội giải thích rành rẽ mười điểm. Ông cha chồng
không còn gì nữa để buộc tội, ngồi lặng thinh.
Cô là người
biết tự trọng. Sau khi chứng minh rằng mình không có lỗi thì
cô tỏ ý muốn ra đi, theo lời cha chồng đuổi.
Nhà triệu
phú đổi hẳn thái độ. Ông xin lỗi cô vì hiểu lầm.
Đúng theo
tinh thần quảng đại khoan dung của người Phật tử, cô Visākhā
không phiền trách cha chồng nữa nhưng xin một điều là về sau
cô được tự do sinh hoạt trong truyền thống tôn giáo của cô.
Ông cha
chồng đồng ý.
Cô Visākhā
không để mất thì giờ, nhân cơ hội cung thỉnh Đức Phật về nhà
thọ trai. Đức Phật đến, và sau khi thọ thực, Ngài thuyết một
thời Pháp. Ông cha chồng triệu phú tọc mạch, ngồi sau bức
rèm nghe trộm. Khi Đức Phật giảng xong thì ông đắc Quả Tu Đà
Hườn và biểu lộ lòng tri ân vô hạn đối với cô dâu quý đã dẫn
dắt ông vào Con Đường Giải Thoát thật sự. Ông cũng ghi nhận
một cách vô cùng cảm động và kể từ ngày ấy ông sẽ xem cô dâu
như một bà mẹ.
Về sau Bà
Visākhā sanh được một trai tên là Migara, Đức Phật đến viếng
và nhân cơ hội này bà mẹ chồng được nghe Pháp và đắc Quả Tu
Đà Hườn.
Nhờ khôn
khéo, trí tuệ, và nhẫn nại, bà dần dần cảm hóa mọi người và
đổi nhà bên chồng trở thành một gia đình Phật tử đầy an vui
hạnh phúc.
Bà Visākhā
để bát chư Tăng hàng ngày tại nhà. Trưa, chiều bà thường đến
chùa nghe Pháp và xem các sư có cần dùng vật chi không.
Suppiya, một tín nữ khác cũng có tâm đạo nhiệt thành, thường
cùng đi với bà.
Bà Visākhā
thật giàu lòng bố thí và tận tình hộ trì chư Tăng. Một lần
nọ, bà đến hầu Phật và thỉnh nguyện tám điều:
1. Dâng y đến chư Tăng trong mùa nhập Hạ cho đến khi bà chết.
Đức Phật
chấp thuận.
Ngày nọ, sửa
soạn đến chùa lễ Phật và nghe Pháp, bà mặc bộ đồ đẹp nhất
của cha cho lúc đưa bà về nhà chồng. Nhưng nghĩ lại rằng ăn
mặc rực rỡ như thế trước mặt Đức Thế Tôn ắt không thích
nghi. Bà liền thay vào một bộ y phục khác do cha chồng cho,
và gói đồ kia lại giao cho người nữ tỳ cầm giữ. Sau khi nghe
Pháp, bà ra về cùng với người tỳ nữ. Người này lại bỏ quên
gói đồ. Đại Đức Ananda nhìn thấy mà không biết của ai. Theo
lời dạy của Đức Phật, Ngài tạm giữ một nơi để chờ trao lại
chủ.
Khi bà
Visākhā hay biết rằng người tỳ nữ mình bỏ quên gói đồ trong
chùa thì sai trở lại lấy đem về, nếu chưa có ai động đến.
Nếu có người đã chạm đến gói đồ thì thôi, không đem về.
Người tỳ nữ
trở về thuật lại tự sự. bà liền đến hầu Đức Phật và tỏ ý
muốn làm một việc thiện với số tiền bán bộ y phục ấy. Đức
Phật khuyên nên cất một tịnh xá nằm tại phía Đông cổng vào.
Vì không ai có đủ tiền để mua bộ y phục quý giá như vậy nên
chính bà mua lại và dùng số tiền ấy kiến tạo một ngôi tịnh
xá đẹp đẽ tên là Pubbarama.
Theo lời
cung thỉnh của bà, mùa mưa năm ấy Đức Phật nhập Hạ tại tịnh
xá rộng rãi này.
Bà rất hân
hoan được Đức Phật chấp thuận nhập Hạ sáu lần nơi ấy.
Kinh sách
ghi rằng bà Visākhā hết sức rộng lượng. Thay vì la rầy người
tỳ nữ vô ý bỏ quên gói đồ, bà còn chia phần công đức kiến
tạo tịnh xá đến cô nữ tỳ đã tạo cho bà cơ hội quý báu ấy.
Trong nhiều
trường hợp khác nhau, Bà Visākhā được nghe nhiều bài Pháp
của Đức Phật. Giới "bát quan" [11] mà người cư sĩ Phật tử ở
hầu hết các quốc gia Á Đông thường nghiêm trì, cũng được
giảng dạy rành rẽ cho bà.
Đề cập đến
những đức tánh khả dĩ đưa người phụ nữ lên các cảnh Trời,
Đức Phật dạy:
"Tích cực
hoạt động, luôn dịu dàng chiều chuộng chồng
Dầu chồng
không đem lại tất cả hạnh phúc.
Không khi
nào dùng lời bất cẩn, nghịch ý, thiếu lễ độ,
Làm chồng
nổi giận.
Tôn trọng
tất cả những người được chồng kính nể,
Vì nàng là
người sáng suốt khôn ngoan,
Khéo léo.
lanh lẹ, thức khuya dậy sớm,
Tận tâm săn
sóc sức khỏe của chồng
Trong khi
chồng làm việc cực nhọc.
Và nhã nhặn
hiền hòa.
Một người vợ
như vậy,
Muốn những
điều chồng muốn và cố làm cho được,
Sẽ tái sanh
vào
Cảnh giới
của những vị Trời dễ mến." [12]
Và trong một
trường hợp khác, Đức Phật đề cập đến đức tánh của người đàn
bà muốn tạo an vui hạnh phúc trong thế gian hiện tại và
trong cảnh giới tương lai như sau:
"Này
Visākhā, đó là hạnh phúc của người phụ nữ có khả năng làm
việc, điều khiển người làm, có lối đối xử làm cho chồng quý
mến và gìn giữ của cải trong nhà.
"Này
Visākhā, đó là hạnh phúc của người phụ nữ đã thành công
trong niềm tin (saddha), trong giới luật (sīla), trong lòng
quảng đại (cāga) và trí tuệ (paññā)" [13]
Bà Visākhā
đóng góp một phần quan trọng trong nhiều lãnh vực khác nhau
có liên quan đến Phật sự. Đôi khi Đức Phật dạy bà đi giải
hòa những mối bất đồng giữa các tỳ khưu ni. Cũng có lúc bà
thỉnh cầu Đức Phật ban hành một vài giới cho chư vị tỳ khưu
ni.
Do đức độ
đại lượng, bà được xem là người tín nữ có công đức nhiều
nhất trong các Phật sự và cũng là vị thí chủ quan trọng nhất
của phái nữ thời Đức Phật. Do phẩm hạnh trang nghiêm, tư
cách thanh nhã, thái độ phong lưu tế nhị, ngôn ngữ lễ độ
khôn khéo, do sự biết vâng lời và tôn kính bậc trưởng
thượng, quảng đại, bác ái đối với người kém may mắn, tánh
tình lịch duyệt, hiếu khách và tâm đạo nhiệt thành, bà ở
được lòng tất cả những ai đã gặp bà.
Sách ghi
rằng bà được diễm phúc làm mẹ của mười người con trai và
mười người con gái, tất cả đều hiếu thảo. Bà từ trần lúc
được một trăm hai mươi tuổi thọ.
Trích “Đức
Phật và Phật Pháp” của Ngài Narada Bản dịch Việt của Phạm Kim
Khánh.
Sống Với Sự Hiểu Biết
Nghe nhiều hiểu rộng mà không ứng dụng được trong
cuộc sống thực thế thì chỉ là con mọt sách.
Một kẻ sĩ hay một người trí thức đúng nghĩa không phải chỉ
có kiến văn quảng bác mà còn sống lợi lạc cho bản thân và
nhân quần. Một người có tài trí mà đủ khả năng sống ung dung
giữa đảo điên của thời thế quả là hiếm có mà sống nhiêu ích
cả hai phương diện đời lẫn đạo thật khó tìm ở đời.
Bác sĩ y khoa Jīvaka
là một y sĩ thiên tài lưu danh vạn đại lại là một đệ tử Phật
thâm tín Tam Bảo. Là con nuôi
của vua và được đào tạo thành một đệ nhất thần y. Là thái y
cả hai đời vua Bimbisāra và vua Ajāsattu ông có thường giải
quyết những trường hợp rất tế nhị. Giai thoại về sự hướng
dẫn vua Ajāsattu trở thành một Phật tử để lại những ý nghĩa
rất đẹp vai trò của một cư sĩ thời Phật trụ thế.
Hình 95
Đoạn kinh sau đây ghi lại một sự kiện thay đổi một con người, một
khúc quanh lịch sử:
Lúc bấy giờ
Ajātasattu (A-xà-thế) con bà Vihehi (Vi-đề-hi) vua xứ
Magadha (Ma-kiệt-đà) nhân lễ Bố Tát vào ngày rằm tháng tư
Komudi (cây súng) đang ngồi trên lầu cao trang nghiêm, chung
quanh có nhiều đại thần hầu hạ. Lúc bấy giờ Ajātasattu con
bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố Tát cảm hứng nói
rằng: "Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng!
Thật diễm lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật
mỹ miều thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu
thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành
thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên
đến chiêm bái vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, nhờ sự chiêm bái
này tâm chúng ta được tịnh tín?". Khi nghe nói vậy, một đại
thần tâu với Ajātasattu, con bà Videhi vua nước Magadha:
"Tâu Ðại vương, có Pūrana Kassapa (Phú-la Ca-diếp) là vị hội
chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có
danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi
dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi
trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa
này. Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Ðại vương
được tịnh tín". Khi nghe nói vậy Ajātasattu, con bà Videhi,
vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
3. Lại một
đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha: "Tâu Ðại vương, có Makkhali Gosāla (Mặc-già-lê
Cù-xá-lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo
hội, có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần
chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã
lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương chiêm bái
Makkhali Gosāla này. Chiêm bái vị Makkhali Gosāla có thể
khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy.
Ajātasattu, con bà Videhi vua nước Magadha yên lặng không
nói gì.
4. Lại một
đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha: "Tâu Ðại vương, có Ajita Kesakambāli (A-kỳ-đa
Kỳ-xá-khâm-bà-la) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư
trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo
phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu
ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong
Ðại vương đến chiêm bái Ajita Kesakambāli này. Chiêm bái
Ajita Kesakambāli có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín".
Khi nghe nói vậy, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha yên lặng không nói gì.
5. Lại một
đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi vua nước
Magadha: "Tâu Ðại vương, có Pakudha Kaccāyana (Bà-phù-đà
Ca-chiên-nê) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng
giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái,
được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất
gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương
đến chiêm bái Pakudha Kaccāyana này. Chiêm bái Pakudha
Kaccayāna này có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi
nghe nói vậy. Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha
yên lặng không nói gì.
6. Lại một
đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha: "Tâu Ðại vương, có Sañjaya Belaṭṭhiputta
(Tán-nhã-di Tỳ-la-phê-phất) là vị hội chủ, vị giáo trưởng,
vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ
giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu
ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong
Ðại vương đến chiêm bái Sañjaya Belaṭṭhiputta này. Chiêm bái
Sañjaya Belaṭṭhiputta này có thể khiến tâm Ðại vương tịnh
tín". Khi nghe nói vậy, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha yên lặng không nói gì.
7. Lại một
đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha: "Tâu Ðại vương, có Nigantha Nātaputta (Ni-kiền-tử)
là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có
tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng
tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm,
đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái
Nigantha Nātaputta này. Chiêm bái Nigantha Nātaputta có thể
khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy,
Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không
nói gì.
8. Lúc bấy
giờ Jīvaka Komārabhacca ngồi yên lặng cách Ajātasattu, con
bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy
Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với Jīvaka
Komārabhacca:
- Này khanh
Jīvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?
- Tâu Ðại
vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn,
bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với
đại chúng Tỷ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn
Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: "Ðây là Thế
Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Ðại vương hãy đến chiêm bái
Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại
vương được tịnh tín.
- Vậy khanh
Jīvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
- Vâng, tâu
Ðại vương.
9. Jīvaka
Komārabhacca vâng theo lời dạy của Ajātasattu, con bà
Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi
cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với
Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Ðại vương,
các kiệu voi đã sẵn sàng. Ngài hãy làm những gì Ngài xem là
phải thời". Khi bấy giờ Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi
người một con, còn mình thì leo lên vương tượng vua thường
cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới ánh sáng của các ngọn
đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng
tiến đến vườn xoài của Jīvaka Komārabhacca.
10. Khi
Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa
vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc
bấy giờ Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi,
kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jīvaka Komārabhacca:
- Này khanh
Jīvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jīvaka, người lường
gạt ta chăng? Này khanh Jīvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù
chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một
nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng,
không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại
vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài,
tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại
Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại
chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp
sáng.
11. Lúc bấy
giờ, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến
chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà
tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh
Jīvaka, Thế Tôn ở tại đâu?
- Tâu Ðại
vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào
cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng
Tỷ-kheo.
12.
Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến
chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một
bên, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp
chúng Tỷ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong,
cảm hứng nói rằng: "Mong hoàng tử Udāyibhadda
(Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng
của các vị Tỷ-kheo này vậy".
- Ðại vương,
hình như tâm trí của Ðại vương nặng nhiều về tình thương thì
phải?
- Bạch Thế
Tôn, con thương hoàng tử Udàyibhadda rất nhiều. Mong rằng
hoàng tử Udāyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng
của chúng Tỷ-kheo này vậy.
13. Lúc bấy
giờ Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ Thế
Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỷ-kheo, và ngồi xuống một bên. Trích Trường Bộ, Kinh Sa Môn
Quả, bản dịch của HT Thích Minh Châu
Sống Tích Cực
Bản chất tự nhiên của cuộc sống là vui ít khổ nhiều
thế nhưng với người có cái nhìn tích cực thì nghịch cảnh hoá
thuận duyên. Ngoại cảnh buồn vui là một lẽ mà thái độ phản
ứng riêng của mỗi người khiến sự việc xoay chiều. Đức Phật
dạy nhiều về thái độ tích cực qua thuật ngữ “khéo tác ý –
yoniso manasikāra”.
Tôn giả Punna – Phú Lâu Na – là một đệ tử xuất gia
của Đức Thế Tôn được biết nhiều qua thái độ tích cực trong
hạnh nguyện hoằng pháp lợi sinh.
Vị tôn giả nầy xin phép Đức Phật sang Miến Điện để hoằng
hoá. Những gì được nhắc lại trong cuộc diện kiến nầy của tôn
giả để lại một
hình ảnh cho nhiều thế hệ mai hậu về tinh thần tích cực
trong cuộc sống cũng như sự phụng sự.
Hình 80
Câu chuyện một đệ tử Phật dấn thân hoằng hoá với
tinh thần tích cực:
145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na (Punnovāda sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-Lâm),
tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi Tôn giả Punna (Phú-lâu-na), vào buổi chiều, từ Thiền
tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả
Punna bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn giáo giới với lời
giáo giới vắn tắt cho con, để con có thể, sau khi nghe Thế
Tôn, sống một mình, nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm,
tinh cần.
-- Vậy này Punna, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Punna vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ,
khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan
hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ
tán thưởng, chấp thủ và an trú, dục hỷ sanh; và này Punna,
Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của
khổ. Này Punna, có những tiếng do tai nhận thức; có những
hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có
những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận
thức; khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến dục, hấp
dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú
trong ấy, thời do hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú
tham đắm, dục hỷ sanh; và này Punna. Ta nói rằng, từ sự tập
khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ.
Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc,
khả hỷ, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không
hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời
dục hỷ diệt. Này Punna, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ
là sự diệt tận đau khổ. Này Punna, có những tiếng do tai
nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do
lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những
pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ
đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán
thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này
Punna, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau
khổ.
Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta
giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời
giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây
Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna,
người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước
Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại
đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con,
nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: "Thật là
hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện,
người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh
đập ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch
Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay
đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế
nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh
đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: ""Thật là thiện,
người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước
Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh
ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện
Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các
cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ
thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất
ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: "Thật là
hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện,
các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh
đập ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch
Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy
đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh
đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: "Thật là hiền
thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các
người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập
ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện
Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao
đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh
đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: "Thật là hiền
thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các
người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén
đoạt hại mạng ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như
vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao
sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ
thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao
sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau:
"Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể
và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi
tìm đã được con dao ấy". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ
như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể
sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp
phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông
nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về
Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước
Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước
Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước
Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa
ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an
cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong
mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời
gian, Tôn giả Punna mệnh chung.
Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các
Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thiện nam tử Punna ấy, sau khi được Thế Tôn
giáo giới với bài giáo giới vắn tắt đã mệnh chung. Sanh thú
của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy là thế nào?
-- Này các Tỷ-kheo, Thiện nam tử Punna là bậc Hiền trí. Vị
ấy thực hành pháp và tùy pháp. Vị ấy không phiền nhiễu Ta
với những câu hỏi về pháp. Này các Tỷ-kheo, Thiện nam tử
Punna đã nhập Niết-bàn.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy. Trích
Trung Bộ, Kinh Phú Lâu Na, bản dịch của HT Thích Minh
Châu (Còn tiếp)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |