|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 08 tháng 02, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,103)
@@@
Bài 1. Kinh Khổ Hạnh (Tapokammasuttaṃ) -KHI ÁC MA KHUYẾN TU.
Ác ma thường chi
phối chúng sanh với những cám dỗ. Trong trường hợp đặc biệt
của bài kinh nầy lại khuyến tu khổ hạnh vì biết đó là điều
mà Đức Phật trước khi giác ngộ đã chuyên trì một thời gian
dài. Điều nầy cho thấy “bản chất bá đạo” của Ác ma chỉ muốn
đưa chúng sanh vào đường sai lạc bằng mọi phương cách. Mặc
dù đối với phần đông con đường khổ tu ép xác thường được hâm
mộ sự tự chế cao độ nhưng Đức Phật dạy rõ đó là sự hành trì
vô ích. Con đường giới, định, tuệ chính là con đường trung
đạo không rơi vào hai cực đoan lợi dưỡng và khổ hạnh. Đức
Phật biết rõ hai cực đoan mà Ngài cũng hiểu rõ giá trị trung
đạo. Liễu tri phiền não thì phiền não tan biến. Khi Phật
nhận rõ ma thì ma cũng biến mất.
Evaṃ me sutaṃ –
Tôi được nghe như vầy:
ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ
viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhamūle
paṭhamābhisambuddho.
Thuở ấy Đức Thế
Tôn, sau khi vừa giác ngộ, ở gần Uruvelā, dưới cội cây
ajapālanigrodha bên dòng sông Nerañjara.
Atha kho
bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko
udapādi – ‘‘mutto vatamhi tāya dukkarakārikāya. Sādhu mutto
vatamhi tāya anatthasaṃhitāya dukkarakārikāya. Sādhu vatamhi
mutto bodhiṃ samajjhaga’’nti [sādhu ṭhito sato bodhiṃ
samajjheganti (sī. pī.), sādhu vatamhi satto
bodhisamajjhagūti (syā. kaṃ.)].
Bấy giờ Thế Tôn
trong khi độc cư thiền
tịnh, ý nghĩ sau đây khởi lên: "Ta thật sự thoát
khỏi khổ hạnh. Thật tốt thay, ta thoát khỏi khổ hạnh vô ích
ấy. Thật tốt thay, với kiên trì chánh niệm ta thành tựu tuệ
giác”.
Atha kho māro
pāpimā bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi
–
Bấy giờ Ác ma biết được suy nghĩ của Đức Thế Tôn liền đi đến
và nói lên kệ ngôn:
‘‘Tapokammā
apakkamma,
Từ bỏ pháp khổ hạnh
Atha kho
bhagavā ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti viditvā māraṃ pāpimantaṃ
gāthāhi ajjhabhāsi –
Lúc ấy Đức Thế Tôn nhận biết “Đây là Ác ma”, Ngài nói lên kệ
ngôn:
‘‘Anatthasaṃhitaṃ ñatvā,
Biết khổ hạnh vô ích
‘‘Sīlaṃ
samādhi paññañca,
Ta tu giới, định, tuệ
Atha kho māro
pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti, dukkhī
dummano tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết
ta" nên buồn và thất vọng
liền biến mất tại chỗ ấy.
‘‘Anatthasaṃhitaṃ ñatvā yaṃ kiñci amaraṃ tapaṃ =
sau khi biết khổ hạnh không dẫn tới đâu đối với sự tầm cầu đạo bất tử
Ác ma - māro
pāpimā - là tên gọi chúng sanh có uy lực do phúc nghiệp quá
khứ nhưng mang tham vọng lôi kéo cuộc đời vào vòng cương toả
của mình. Ma – māra – trong Phật pháp bao gồm cả thiên ma,
phiền não ma, ngũ uẩn ma, sở hành ma, và tử thần ma. Như vậy
là một khái niệm rất rộng cần hiểu đúng theo ngữ cảnh.
Từ ngữ māṇavā có
nghĩa là là người trẻ là cách gọi “dạy đời” của Ác ma
Sớ giải có đề
cập sự việc nầy xẩy ra trong tuần lễ đầu tiên sau khi Đức
Phật thành đạo. Điều nầy không tương ưng với ghi nhận trong
Luật tạng (….) Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |