|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, 11 tháng 02, 2022
MÔN HỌC PHẠN NGỮ PÀLÌ
Văn phạm:
1.
Biến cách danh từ nam tánh vĩ ngữ -U / -AR
Một vài danh từ
nam tánh có hai từ gốc với vĩ ngữ -U và -AR. Những từ
nầy nói lên tác nhân hay sự liên hệ.
Satthu / satthar
– đạo sư, bậc thầy (mang ý nghĩa người răn dạy)
Số ít
Số nhiều
Chủ cách satthā satthāro
2. Vài
danh từ có biến cách tương tự:
kattu – người thực hiện, người làm
Lưu ý: Mặc dù
bhattu và nattu là những danh từ chỉ cho quan hệ nhưng
mang ý nghĩ tác nhân (người mang thân phận làm cháu)
giống như satthā trong ngôn ngữ Sanskrit.
3. Một số danh tư nam tánh có vĩ ngữ U như pitu (cha) và bhātu (anh)
lại có biết cách khác hơn một chút như sau:
Pitu / pitar = cha
Số ít
Số nhiều
Chủ cách pitā pitaro
Bhātu / bhātar = anh
Số ít Số nhiều
Chủ cách bhātā bhātaro
4.
Cũng biểu thị quan hệ, danh từ nữ tánh có biến thể như
sau:
Mātu / Mātar = mẹ
Số ít Số nhiều
PĀLI VUI ĐỂ HỌC
ĐỨC PHẬT DẠY VỀ CÁCH SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
Người đời có
câu: cách nói cũng quan trọng như điều được nói. Đức
Phật trong cương vị bậc đạo sư đã có những chỉ dẫn cụ
thể cho hàng đệ tử về cách nói năng. Đặc biệt là ngôn
ngữ cần phù hợp với giáo lý trung đạo; với chánh kiến;
tránh những rắc rối không cần thiết; và đặc biệt tinh
thần dung hoà đối với ngôn ngữ địa phương. Tất cả cho
thấy Đức Phật dạy sự quan trọng của truyền thông là thế
nào và tinh thần ứng hợp với văn hoá địa phương đã khiến
Đạo Phật đi sâu vào các nền văn hoá dị biệt suốt 25 thế
kỷ qua.
Một thời, Thế
Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại
tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Tại đấy, Thế Tôn
gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Bạch Thế Tôn".
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các
Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về Vô tránh phân biệt.
Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng,
bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy
vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Chớ có hành
trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc
Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành
trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không
liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường
Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác
thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ,
Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau
khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán
thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp. Nên biết
phán xét về lạc. Sau khi biết phán xét về lạc, nên chú
tâm vào nội lạc. Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối
mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng. Nên nói thật
từ từ, không có vội vàng. Chớ có chấp trước địa phương
ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Như vậy là
tổng thuyết về Vô tránh phân biệt.
1.
Khi được nói đến: "Chớ có
hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng
bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên
hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh,
không liên hệ mục đích", do duyên gì được nói đến như
vậy?
Phàm lạc gì liên
hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm
phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp
như vậy là có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt
não, thuộc tà đạo. Phàm lạc gì liên kết với dục, nhưng
không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy
không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não,
không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.
Phàm hành trì tự
kỷ khổ hạnh nào, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không
liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao,
có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm không hành
trì khổ hạnh nào, đau khổ không xứng bậc Thánh, không
liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không
có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc
chánh đạo.
Khi được nói
đến: "Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không
nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc
Thánh, không liên hệ mục đích", chính do duyên này, được
nói đến như vậy.
Khi được nói
đến: "Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã
được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa
đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn", do duyên
gì được nói đến như vậy? Ðây là con đường Thánh tám
ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định. Khi được nói đến: "Từ bỏ hai cực đoan ấy, có
con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành
mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác
ngộ, Niết-bàn", chính do duyên này, được nói đến như
vậy.
2.
Khi được nói đến: "Nên biết
tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và
sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích,
chỉ nên thuyết pháp", do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo,
thế nào là tán thán, thế nào là chỉ trích, nhưng không
thuyết pháp? Vị ấy chỉ trích một số người và nói như
sau: "Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục nhưng đam mê
loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc
Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những người ấy có
đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà
đạo". Vị ấy tán thán một số người và nói như sau: "Những
ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại
hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh,
không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy không có đau
khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt
não, thuộc chánh đạo".
Ở đây, vị ấy chỉ
trích một số người và nói như sau: "Những ai đam mê hành
trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không
liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có
phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc về tà đạo". Ở
đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: "Những
ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh; đau khổ, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị
ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu
não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo".
Ở đây, vị ấy chỉ
trích một số người và nói như sau: "Những ai chưa đoạn
tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có
phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo". Ở
đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: "Những
ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có
đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có
nhiệt não, thuộc chánh đạo". Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là có tán thán và có chỉ trích nhưng không thuyết pháp.
Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là không có tán thán và không có chỉ
trích, nhưng có thuyết pháp? Vị ấy không nói như sau:
"Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng đam mê
loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc
Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau
khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà
đạo". Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: "Sự đam mê
là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có
nhiệt não, thuộc tà đạo". Vị ấy không nói: "Những ai tìm
thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ
liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, tất cả
những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không
có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo". Vị ấy
chỉ thuyết pháp và nói như sau: "Không đam mê là một
pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não,
không có nhiệt não, thuộc chánh đạo".
Vị ấy không nói:
"Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị
ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não,
thuộc tà đạo. "Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: "Sự
đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não,
có nhiệt não, thuộc tà đạo". Vị ấy không nói: "Những ai
không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, tất cả những
vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có
ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo". Vị ấy chỉ
thuyết pháp và nói như sau: "Sự không đam mê là không
đau khổ, pháp này không có phiền lao, không có ưu não,
không có nhiệt não, thuộc về chánh đạo".
Vị ấy không có
nói: "Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những
vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt
não". Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: "Khi hữu
kiết sử chưa đoạn tận, hữu chưa đoạn tận". Vị ấy không
nói như sau: "Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả
những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không
có ưu não, không có nhiệt não". Vị ấy chỉ thuyết pháp và
nói như sau: "Và khi hữu kiết sử được đoạn tận, hữu được
đoạn tận". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không tán thán,
không chỉ trích, nhưng chỉ thuyết pháp.
3.
Khi được nói đến: "Nên biết
tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và
sau khi biết chỉ trích, chớ có tán thán, chớ có chỉ
trích, chỉ nên thuyết pháp", chính do duyên này được nói
đến như vậy.
Khi được nói
đến: "Nên biết phán xét về lạc; sau khi biết phán xét về
lạc, nên chú tâm vào nội lạc", do duyên gì được nói đến
như vậy?
Này các Tỷ-kheo,
có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc
pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ,
liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức,...
; các hương do mũi nhận thức,... ; các vị do lưỡi nhận
thức... ; các xúc do thân cảm giác, khả ái, khả lạc, khả
ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo,
như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỷ-kheo, do
duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như
vậy gọi là dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc.
Ta nói loại lạc này không nên thực hành, không nên tu
tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi.
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và
an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục
sanh, có tầm, có tứ. Ðình chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an
trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh,
không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm... Thiền thứ
ba... chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Như vậy gọi là
xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc. Ta
nói loại lạc này nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho
sung mãn, không nên sợ hãi.
Khi được nói
đến: "Nên biết phán xét về lạc; sau khi phán xét về lạc,
hãy chú tâm vào nội lạc", do chính duyên này được nói
đến như vậy.
4.
Khi được nói đến: "Không nên
nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói
lời mất lòng", do duyên gì được nói đến như vậy?
Tại đây, này các
Tỷ-kheo, biết được một lời bí mật là không thực, hư
vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, chớ nói
lên lời bí mật ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là
thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy
tự tập đừng nói lời ấy. Và nếu biết được một lời bí mật
là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên
biết thời nói lên lời bí mật ấy.
Nếu biết một lời
mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là không thực, hư vọng,
không liên hệ mục đích, nếu có thể được, mặt đối mặt;
chớ có nói lên lời nói mất lòng ấy. Nếu biết một lời mất
lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, nhưng
không liên hệ mục đích, hãy tập chớ nói lên lời ấy. Và
nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực,
không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời
nói lên lời mất lòng ấy.
Khi được nói
đến: "Không nên nói lên lời bí mật, mặt đối mặt (với
ai), không nên nói lên lời mất lòng", do chính duyên này
được nói đến như vậy.
5.
Khi được nói đến: "Nên nói
thật từ từ, chớ có vội vàng", do duyên gì được nói đến
như vậy?
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, nếu nói vội vàng, thời thân mệt mỏi, tâm bị tổn
hại, tiếng bị tổn hại và cổ họng bị đau. Lời nói một
người vội vàng không được rõ ràng và không được nhận
hiểu.
Tại đây, này các
Tỷ-kheo, nói lời từ từ, thân không mệt mỏi, tâm không
tổn hại, tiếng không tổn hại và cổ họng không bị đau.
Lời nói một người nói từ từ được rõ ràng và được nhận
hiểu. Khi được nói đến: "Nên nói thật từ từ, chớ có nói
vội vàng ", chính do duyên này được nói đến như vậy.
6.
Khi được nói đến: "Chớ có
chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ
thường dùng," do duyên gì được nói đến như vậy? Và này
các Tỷ-kheo, thế nào là chấp trước địa phương ngữ và đi
quá xa ngôn ngữ thường dùng?
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết (những chữ)
Pati... Patta... Vittha.. Sarava.. Dharopa.. Pona...
Pisila. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy những
chữ là như vậy, như vậy, có người lại làm như vậy, kiên
trì chấp thủ, chấp trước và nói: "Chỉ như vậy là sự
thật, ngoài ra là hư vọng". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
chấp trước địa phương ngữ, là đi quá xa ngôn ngữ thường
dùng.
Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là không chấp trước địa phương ngữ,
không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết những chữ
Pati.. Patta... Vittha.. Sarava... Dharopa... Pona..
Pisila.. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy,
những chữ là như vậy, như vậy, một người không chấp thủ
mà giải thích: "Các vị ấy y cứ như thế này, giải thích
như vậy". Như vậy, này các Tỷ-kheo là không chấp trước
địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.
Khi được nói
đến: "Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa
ngôn ngữ thường dùng", do chính duyên này được nói đến
như vậy.
Trích Trung Bộ,
Kinh số 139. Kinh Vô tránh phân biệt (Aranavibhanga
sutta)
Hòa thượng Thích
Minh Châu dịch Việt
PĀLI NGHI THỨC NHẬT HÀNH
Từ bi nguyện
Bài Tập
Bài tập 28
1. Satthā bhikkhūnaṃ dhammaṃ desento rukkhassa chāyāya nisinno hoti. 1.Cha và mẹ đã đi với người anh để gặp em gái. 2. Người làm ác sẽ không sống hạnh phúc lâu dài 3. Ước mong nhà vua và đoàn tuỳ tùng trở thành những người chiến thắng. 4. Anh của mẹ là người cậu 5. Những kẻ thù của anh em tôi treo biểu ngữ trên những thân cây và các cây tre 6. Người xây nhà cho các cháu nội những cây tre Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |