|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 16 tháng 02, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,105)
@@@
Bài 5. Kinh Kinh Cạm Bẫy Ma, 2 (Dutiyamārapāsasuttaṃ) -ĐỨC PHẬT KÊU GỌI HOẰNG PHÁP ĐỘ SANH.
Lời kêu gọi hoằng truyền giáo pháp được Đức
Thế Tôn đưa ra trước sáu mươi thánh đệ tử A la hán đầu tiên
tại Lộc Uyển. Chính Đức Thế Tôn sau đó cũng đi một mình đến
Uruvelā để hoằng pháp với sự giáo hoá hơn một ngàn đạo sĩ
thờ lửa.
Đức Phật và các bậc A lá hán hoàn toàn giải
thoát. Các Ngài không có gì mong cầu giữa cuộc đời nầy. Tất
cả hành trạng hoằng hoá giáo pháp đều vì lòng từ bi vô lượng
đối với thế gian. Hoằng dương chánh pháp là đại sự nhân
duyên. Một người con Phật đúng nghĩa không thể không quan
tâm đến trách nhiệm gìn giữ và chia sẻ giáo pháp. Muốn làm
việc nầy thì việc học hỏi chuẩn xác lời Phật dạy là điều
tiên quyết phải có.
Evaṃ me sutaṃ –
Tôi được nghe như vầy:
ekaṃ samayaṃ bhagavā bārāṇasiyaṃ viharati isipatane
migadāye. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi –
‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato
paccassosuṃ.
Thuở ấy Đức Thế Tôn trú ở Lộc Uyển, Isipatana, gần Bārānasi.
Thế Tôn lên tiếng với chư tỳ kheo: Này các Tỳ kheo. Các tỳ
kheo trả lời: Dạ, bạch Thế Tôn.
Bhagavā etadavoca –
Đức Thế Tôn nói như sau:
“muttāhaṃ, bhikkhave, sabbapāsehi ye
dibbā ye ca mānusā. tumhepi, bhikkhave, muttā sabbapāsehi ye
dibbā ye ca mānusā. caratha, bhikkhave, cārikaṃ
bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya
sukhāya devamanussānaṃ. mā ekena dve agamittha. desetha,
bhikkhave, dhammaṃ ādikalyāṇaṃ
majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ
kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāsetha. santi
sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti.
bhavissanti dhammassa aññātāro. ahampi, bhikkhave, yena
uruvelā senānigamo tenupasaṅkamissāmi dhammadesanāyā”ti.
--
Này các Tỷ-kheo, Ta đã được giải
thoát khỏi tất cả cạm bẫy nhân giới và thiên giới.
Này các Tỷ-kheo, các Thầy cũng vậy,
đã được giải thoát khỏi tất cả cạm bẫy nhân giới và thiên
giới.Này các Tỷ-kheo, hãy hành
hoá vì lợi lạc cho đại chúng, vì hạnh phúc cho đại chúng với
tâm lân mẫn vì sự tốt lành, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên
và nhân loại. Đừng đi hai người
chung một đường.
Hãy truyền dạy giáo pháp sơ
thiện, trung thiện, hậu thiện với văn, nghĩa tinh tường. Hãy
tuyên thuyết phạm hạnh viên mãn và thanh tịnh.
Có những chúng sanh với ít bụi trần
trong mắt có thể sa đoạ nếu không được nghe pháp.
Sẽ có những người lãnh hội được Pháp.
Này các Tỳ kheo, riêng Ta sẽ đi đến
Senānigama ở Uruvelā để giáo hoá.
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi Ác ma đi đến
Thế Tôn và nói với Ngài kệ ngôn:
‘‘Baddhosi mārapāsena, ye dibbā ye ca mānusā;
Mārabandhanabaddhosi, na me samaṇa mokkhasī’’ti.
Người vẫn trong
bẫy Ma
‘‘Muttāhaṃ [muttohaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)] mārapāsena, ye
dibbā ye ca mānusā; Mārabandhanamuttomhi, nihato tvamasi
antakā’’ti.
4) (Thế Tôn):
Ta đã thoát bẫy Ma
Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ
bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano
tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết
ta" nên buồn và thất vọng
liền biến mất tại chỗ ấy.
“Muttāhaṁ, bhikkhave, sabbapāsehi ye dibbā ye ca mānusā
=
Này các Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả cạm bẫy
nhân giới và thiên giới.
Tumhepi, bhikkhave, muttā sabbapāsehi ye dibbā ye ca mānusā
=
Này các Tỷ-kheo, các Thầy cũng vậy, đã được giải thoát khỏi
tất cả cạm bẫy nhân giới và thiên giới.
Caratha, bhikkhave, cārikaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya
atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ =
Này các
Tỷ-kheo, hãy hành hoá vì lợi lạc cho đại chúng, vì hạnh phúc
cho đại chúng với tâm lân mẫn vì sự tốt lành, lợi ích, hạnh
phúc cho chư thiên và nhân loại.
Mā ekena dve agamittha =
Đừng đi hai
người chung một đường.
Desetha, bhikkhave, dhammaṁ ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ
sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ
brahmacariyaṁ pakāsetha.
=
Hãy truyền dạy giáo pháp sơ thiện,
trung thiện, hậu thiện với văn, nghĩa tinh tường. Hãy hướng tuyên thuyết phạm hạnh viên
mãn và thanh tịnh. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti = Có những chúng sanh với ít bụi trần trong mắt có thể sa đoạ nếu không được nghe pháp.
Bhavissanti
dhammassa aññātāro =
Sẽ có những người lãnh hội được pháp
Ahampi,
bhikkhave, yena uruvelā senānigamo tenupasaṅkamissāmi
dhammadesanāyā”ti =
Này các Tỳ
kheo, riêng Ta sẽ đi đến Senānigama ở Uruvelā để giáo hoá.
Theo Sớ giải “giáo pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện (ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ) được hiểu theo cả hai cách: pháp học và pháp hành. Trên phương diện pháp hành, tu tập giới là sơ thiện; tu tập định và tuệ là trung thiện; chứng ngộ đạo quả, niết bàn là hậu thiện. Trên phương diện pháp học sự trình bày của pháp thoại, kinh văn có mở đầu, nội dung chính, kết luận. Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |