|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 17, tháng 02, 2022 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMAChương CHƯƠNG VII. TOÁT YẾU TÂM NGOẠI LỘ (Vīthimuttacittasaṅgaha) Bài 60. Giải Về 16 Loại Nghiệp (Kammabheda)
Nghiệp – Kamma, nghĩa là tạo tác, hành động; Nghiệp
là nhân tố tạo quả dị thục. Nghiệp thiện tạo quả vui và
nghiệp bất thiện tạo quả khổ. Trong phạm vi này chỉ đề cập
đến nghiệp luân hồi (Kammavaṭṭa) tạo quả luân hồi
(vipākavaṭṭa) chứ không giải rộng các khía cạnh của
nghiệp duyên (Kammapaccaya) vì liên quan đến tâm
ngoại lộ (tâm tục sinh, tâm hữu phần, và tâm tử của kiếp
sống).
Nghiệp là hành động có thể được thực hiện bằng thân
(gọi là thân nghiệp kāyakamma), thực hiện bằng khẩu
(gọi là khẩu nghiệp vacīkamma), thực hiện bằng ý (gọi
là ý nghiệp, manokamma). Nhưng thân và khẩu không thể
tự hành động mà phải do tâm điều khiển qua sắc tâm
(cittajarūpa).
Lại nữa, tâm (citta) chỉ là trạng thái biết
cảnh. Tâm không ra lệnh hay chỉ đạo hành động mà chính do
một hành uẩn thuộc tánh của tâm là “Tư” (cetanā) có
chức năng dẫn dắt chỉ đạo tâm và các pháp đồng sanh với nó
thực hiện hành động hay tạo thành nghiệp.
Do đó, nói một cách chính xác thì nghiệp (Kamma)
là Tư (cetanā). Như Phật ngôn rằng: Cetanā’
haṃ bhikkhave kammaṃ vadāmi (Tư, này các tỳ kheo, ta nói
là nghiệp).
Tư (cetanā)
đồng sanh với căn tham (lobhamūla), căn sân
(dosamūla) và căn si (mohamūla), gọi là Tư bất
thiện (akusalacetanā). Còn Tư (cetanā) đồng
sanh với căn vô tham (alobhamūla), căn vô sân
(adosamūla) và căn vô si (amohamūla) tức trí tuệ
(paññā), gọi là Tư thiện (kusalacetanā).
Nói cách khác, Tư (cetanā) hiện diện trong 12
tâm bất thiệt là nghiệp bất thiện (akusalakamma). Còn
Tư (cetanā) hiện diện trong 8 tâm đại thiện, 5 tâm
thiện sắc giới và 4 tâm thiện vô sắc giới là nghiệp thiện
(kusalakamma).
Tâm bất thiện và tâm thiện do Tư chủ trương hành động
bằng thân khẩu ý, sau khi hành động, tâm ấy diệt, mặc dầu
vậy, Tư trong các tâm ấy có tánh chất là nghiệp dị thời
(nānakkhaṇikakamma) sẽ tạo ra quả dị thục (vipāka)
khi hợp duyên.
Vấn đề nghiệp trổ quả, như có sự chắt lọc. Vì trong
thời gian một nháy mắt có hàng tỷ tâm sanh khởi, hàng triệu
đổng lực thiện và bất thiện hành động, không thể tất cả Tư
thiện và tư bất thiện ấy đều có hiệu ứng tạo quả, nên chỉ có
một vài nghiệp thành tựu thôi.
Nghiệp báo là một định luật chi phối đời sống, dù Đức
Phật có xuất hiện hay không có xuất hiện để tuyên bố , thì
nhân quả vẫn xảy ra. Nghiệp báo nhân quả không phải là một
lập thuyết của đạo Phật.
Và mặc dù chúng ta không thể biết nghiệp riêng của
mỗi chúng sanh. Nghiệp quả bất khả tư nghì. Nhưng có thể
phân lọai nghiệp dựa theo những gì Đức Phật đã trình bày mô
tả trong kinh.
A.
BỐN LOẠI NGHIỆP
PHÂN THEO CHỨC NĂNG
(Kiccavasena
Kammacatukkaṃ)
Janakaṃ upatthambhakaṃ upapīḷakaṃ upaghātakañc’eti
kiccavasena cattāri kammāni
nāma.
Sanh nghiệp, trì nghiệp, chướng nghiệp và đoạn
nghiệp. Gọi là bốn loại nghiệp theo chức năng.
Giải thích:
1.Janakakamma
– Sanh nghiệp. Nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện mà sản sinh
ra quả thức tục sinh và sắc nghiệp nghiệp tục sinh cho một
kiếp sống mới, gọi là sanh nghiệp hay nghiệp sản sinh. Chính
sanh nghiệp tạo ra tâm tục sinh hữu phần và tử cho chúng
sinh.
Nếu là nghiệp bất thiện sẽ sản sinh tâm quả bất thiện ý thức
giới và sắc nghiệp tục sinh thành chúng sinh cõi bất hạnh:
địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, Atula.
Nếu là nghiệp thiện sẽ sản sinh tâm quả thiện vô nhân ý thức
giới và tâm quả dục giới hữu nhân, cùng sắc nghiệp tục sinh
thành người lạc ở cõi vui dục giới.
Nếu là thiện nghiệp sắc giới sẽ sản sinh tâm quả sắc giới
cùng sắc nghiệp tục sinh thành người lạc ở cõi sắc giới hữu
tưởng; Lại nữa, nghiệp sắc giới ngũ thiền sản sinh sắc
nghiệp mạng quyền tục sinh thành người lạc cõi vô tưởng.
Nếu là thiện nghiệp vô sắc giới sẽ sản sinh tâm quả vô sắc
tục sinh thành phạm thiên cõi vô sắc.
2.Upatthambhakakamma
– Trì nghiệp. Là mãnh lực thiện nghiệp hay bất thiện nghệp
có chức năng ủng hộ duy trì quả do nghiệp sản sinh được kéo
dài.
Sanh nghiệp thiện thì trợ cho chúng sanh được tái sanh các
cõi vui như cõi người, cõi thiên tiên, cõi phạm thiên, rồi
nhờ trì nghiệp thiện giữ gìn thọ mạng và đảm bảo đời sống
chúng sanh ấy được khỏe mạnh, đầy đủ nhu cầu hạnh phúc
..vv…
Sanh nghiệp bất thiện thì trợ cho chúng sanh tục sinh vào
các cõi bất hạnh như địa ngục, bàng sanh, ngạ quỉ, Atula,
rồi do trì nghiệp bất thiện duy trì cảm thọ khổ mãi không
dứt được.
Ở cõi người cũng có trường hợp, mặc dù do sanh nghiệp thiện
mới sanh làm thân nhân loại, nhưng sống bị quả xấu của ác
nghiệp, bệnh tật, nghèo khổ, tai ương… và trì nghiệp bất
thiện kéo dài sự sống để chịu khổ.
3. Upapīḷakakamma –
Chướng nghiệp. Là thứ nghiệp khắc chế, làm trở ngại, làm yếu
đi hiệu năng của nghiệp khác. Tất nhiên, cả hai loại nghiệp
thiện và nghiệp bất thiện đều là chướng nghiệp, khắc chế lẫn
nhau.
Trường hợp một người đã làm thiện nghiệp lẽ ra quả trổ họ sẽ
được hoàn toàn hạnh phúc nhưng vì cũng đã từng tạo nghiệp
bất thiện nên bất thiện nghiệp ấy cản trở, làm yếu thiện
nghiệp, khiến người ấy không hạnh phúc trọn vẹn. Đây gọi là
bất thiện chướng nghiệp.
Trường hợp ngược lại, một người đã tạo ác nghiệp lẻ ra quả
trổ họ sẽ bị đau khổ cùng cực nhưng vì cũng có tạo thiện
nghiệp nên thiện nghiệp ấy làm lực cản, khiến ác nghiệp trổ
quả yếu đi, người ấy bớt đau khổ. Đây gọi là thiện chướng
nghiệp.
4. Upaghātakakamma
– Đoạn nghiệp. Là nghiệp có mãnh lực phá vỡ, làm vô hiệu hóa
khả năng trổ quả của nghiệp khác, chẳng những thế, nghiệp
này còn tạo quả ngược lại và thay thế nghiệp khác nữa. Cả
hai loại thiện nghiệp và bất thiện nghiệp đều có chức năng
phá trừ nghiệp đối nghịch.
Trường hợp một người lẽ ra bị chết yểu vì ác nghiệp đã làm,
nhưng người này nhờ hiện tại tạo được nghiệp lành cực mạnh
nên đã chuyển đổi ác nghiệp, họ được sống thọ; hoặc trường
hợp có người làm ác nghiệp lẽ ra mệnh chung sẽ sanh vào địa
ngục, nhưng giờ phút cuối người ấy gặp Đức Phật và khởi lên
niềm tin mãnh liệt với Ngài, nên người ấy mệnh chung sanh
vào cõi trời… Đây gọi là thiện đoạn nghiệp.
Ngược lại, trường hợp một người làm thiện phước lẽ ra sau
khi mệnh chung sẽ sanh vào cõi trời nhưng vì cận tử nghiệp
khởi lên là bất thiện nên người ấy sanh vào địa ngục khổ
cảnh. Đay gọi là bất thiện đoạn nghiệp.
B.
BỐN LOẠI NGHIỆP PHÂN THEO CÁCH TRÌNH TỰ TRỔ QUẢ
(Pākadānapariyānena kammacatukkaṃ)
Garukaṃ āsannaṃ āciṇṇaṃ kaṭattākammañc’eti
pākadānapariyāyena cattāri kammāni nāma.
Trọng nghiệp, cận tử nghiệp, thường nghiệp, và dĩ tác
nghiệp, gọi là bốn loại nghiệp theo cách trình tự trổ quả.
Giải thích:
1.Garukakamma
– Trọng nghiệp
Là nghiệp nặng, nghiệp có
công suất mạnh, có mảnh lực tạo quả tái tục kiếp kế tiếp
không có mảnh lực nào khác có thể ngăn chận được.
Trọng nghiệp bất thiện chính là năm nghiệp vô gián
(pañcānantariyakamma); giết cha, giết mẹ, giết thánh A
La Hán, gây thương tích vị Phật toàn giác, tạo chia rẽ tăng
chúng, làm bằng tâm tà kiến và sân hận.
Trọng nghiệp thiện chính là nghiệp thiện sắc giới
(rūpāvacarakusalakamma) và nghiệp thiện vô sắc giới
(ārūpāvacarakusalakamma); Người chứng thiền và không bị
hoại thiền, sau khi chết chắc chắn sanh vào cõi phạm thiên.
Nghiệp thiện siêu thế (lokuttarakusalakamma) hay
Đạo siêu thế
(lokuttaramagga) cũng là một trọng nghiệp vì có mãnh lực
đóng cửa bốn cõi khổ vĩnh viễn.
Tuy nhiên, một người phàm đã chứng thiền hiệp thế nhưng lại
phạm những nghiệp vô gián, thì trọng nghiệp ấy sẽ làm hư
hoại trọng nghiệp thiện tức là thiền chứng của người ấy, và
trọng nghiệp vô gián này sẽ dẫn tái sanh cõi địa ngục. Như
trường hợp của Devadatta bị hoại thiền mất thần thông do tạo
trọng nghiệp ác gây thương tích cho Đức Phật và chia rẽ tăng
chúng.
Lại nữa, trọng nghiệp bất thiện còn có trọng lực ngăn
chận sự chứng đạt pháp siêu thế, dù một người kiếp ấy có đủ
phước ba la mật để chứng đạo quả. Như trường hợp vua
Ajātasattu nghe Đức Phật giảng kinh Sa Môn Quả, vua
Ajātasattu đủ duyên để chứng quả thánh Nhập lưu, nhưng không
đắc chứng được bởi vua ấy đã giết cha soái ngôi.
Nhưng, với người đã đắc đạo quả siêu thế dù chỉ là
bậc sơ đạo sơ quả cũng vĩnh viễn không tạo trọng nghiệp vô
gián, cũng như không còn tà kiến.
1.
Āsannakamma –
Cận tử nghiệp
Cận tử nghiệp là nghiệp được thực hiện trước khi chết. Một
người trước lúc lâm chung khởi lên tâm thiện hay bất thiện
do nhớ lại việc làm tốt hay việc làm xấu mà mình đã làm
trong bình nhật, tâm thiện nhớ lại việc tốt ấy hay tâm bất
thiện nhớ lại việc xấu ấy, gọi là cận tử nghiệp. Nếu người
đó không có làm trọng nghiệp nào trong đời sống thì chính
cận tử nghiệp này sẽ đóng vai trò sanh nghiệp
(janakakamma) cho người đó sau khi chết.
Một người tốt nhưng
trước lúc lâm chung khởi lên tâm bất thiện do ám ảnh nhớ lại
việc bất thiện đã làm, thì cận tử nghiệp bất thiện ấy sẽ chi
phối người ấy tái sanh vào khổ cảnh. Ngược lại, một người
xấu nhưng lúc gần lâm chung chợt khởi lên tâm niệm thiện do
một cảnh thiện trợ duyên thì cận tử nghiệp ấy có thể khiến
người này tái sanh vào nhàn cảnh. Chính điều này nên cần có
sự trợ niệm cho người thân sắp chết để khơi dậy tâm thiện
cho họ.
Tuy rằng một người xấu có thể đạt một cõi vui do cận
tử nghiệp thiện nhưng không có nghĩa là người ấy sẽ thoát
khỏi quả của bất thiện nghiệp mà người ấy đã làm trong lúc
bình sinh, khi tái sanh ở những kiếp sống sau họ vẫn phải
thọ lãnh quả xấu tương ứng với nghiệp bất thiện. Ngược lại,
một người tốt bị tái sanh khổ cảnh do cận tử nghiệp bất
thiện, nhưng không phải thiện pháp họ đã làm không có quả
báo, sẽ có cơ hội khác thiện nghiệp kia trổ quả cho họ hạnh
phúc.
2.Āciṇṇakamma
– Thường nghiệp
Thường nghiệp là nghiệp được thực hiện thường xuyên,
lập đi lập lại thành tập quán hay thói quen. Thường nghiệp
có thể là thiện hay bất thiện.
Thường nghiệp thiện là
những hành động tốt như bố thí, trì giới, tu thiền, cung
kính, phục vụ,..vv.. mà người thường xuyên làm, đã
thành thói quen.
Thường nghiệp bất thiện là những hành vi xấu được lập
đi lập lại trong đời sống, như thói quen sát sanh, trộm
cướp, tà dâm, nói dối,...vv...
Nếu không có trọng nghiệp hay cận tử nghiệp thì chính
thường nghiệp này sẽ có vai trò trợ tái tục kiếp sống mới
sau khi chết.
3. Kaṭattākamma
–
Dĩ tác nghiệp
Dĩ tác nghiệp là
nghiệp đã làm tình cờ ở thời điểm nào đó rồi quên, nhưng
cũng đủ mạnh để đảm nhận vai trò trợ tái tục kiếp sống mới;
Nếu không có trọng nghiệp, cận tử nghiệp, thường nghiệp thì
dĩ tác nghiệp này mới có tác dụng dẫn tái sanh.
Dĩ tác nghiệp cũng có
thể là thiện, cũng có thể là bất thiện.
Trường hợp một
người thỉnh thoảng có cho người ăn xin một đồng bạc hay
thỉnh thoảng có lời nói chân thật...vv... chỉ là một
điều tốt thoáng qua, không nhớ được, đây gọi là thiện dĩ tác
nghiệp.
Còn trường hợp một người
thỉnh thoảng làm chết côn trùng, hoặc đôi khi nói đùa không
thật...v.v.. chỉ là một điều xấu thoáng qua không nhớ
được, đây gọi là bất thiện dĩ tác nghiệp.
Bốn loại nghiệp
thứ hai (B) này là trọng nghiệp, cận tử nghiệp, thường
nghiệp và dĩ tác nghiệp là những thư nghiệp có vai trò tạo
quả dẫn đi tái sanh, nói cách khác là tạo ra sanh nghiệp
(janakakamma). Bởi thế, không thể nói khẳng định là làm
người thiện chắc chắn kiếp sau sẽ sanh nhàn cảnh, hay người
làm ác chắc chắn kiếp sau sẽ sanh khổ cảnh... Cũng ví như
chuồng bò nhốt nhiều con bò qua đêm, buổi sáng của chuồng
được mở để thả bò ra đồng cỏ, có thể có con bò mạnh khỏe
nhất nó sẽ chen ra trước (như trọng nghiệp); cũng có thể con
bò đứng gần cửa sẽ ra trước (như cận tử nghiệp); cũng có thể
có con bò theo thói quen giành đường ra cửa trước (như
thường nghiệp); Khi trong chuồng không còn con bò nào thì
con bò sót lại sẽ ra cửa (như dĩ tác nghiệp).
C.
BỐN LOẠI NGHIỆP TRỔ QUẢ THEO THỜI GIAN
(pākakālavasena kammacatukkaṃ)
Diṭṭhadhammavedanīyaṃ upapajjavedanīyaṃ
aparāpariyavedanīyaṃ ahosikammañc’eti pākakālavasena cattāri
kammāni nāma.
Hiện báo nghiệp, sanh báo nghiệp, hậu báo nghiệp, và
vô hiệu nghiệp, gọi là bốn loại nghiệp theo thời gian trổ
quả.
Giải thích:
1.Diṭṭhadhammavedanīyakamma
– Hiện báo nghiệp
Hiện báo nghiệp là loại nghiệp trổ quả, có cảm thọ vui hay
khổ liền trong kiếp hiện tại sau khi làm một hành động thiện
hay ác.
Trong lộ trình tâm thực
hiện hành vi thiện hoặc bất thiện, có bảy sát na đổng lực
thiện (kusalajavana) hay bảy sát na đổng lực bất
thiện (akusalajavana). Tư – cetanā của tâm
đổng lực thứ nhất có vai trò hiện báo nghiệp.
Nhưng hiện báo nghiệp
cũng hiếm khi thành tựu quả, bởi do yếu không có mãnh lực
trùng dụng duyên (āsevanapaccaya) trợ từ tâm đổng lực
trước. Hiện báo nghiệp thiện thành tựu quả trong trường hợp
làm việc phước đặc biệt như phát tâm hoan hỷ cúng dường đến
một vị Phật, hoặc một bậc lậu tận vừa xuất thiền diệt; Hiện
báo nghiệp ác thành tựu quả trong trường hợp trực tiếp tạo
năm đại nghịch tội, hay tạo ác nghiệp một cách nghiêm trọng,
tán tận lương tâm.
2.
Upapajjavedanīyakamma
– Sanh báo nghiệp
Sanh báo nghiệp là nghiệp có mãnh lực tạo quả đời khác sau
đời sống này. Nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện tạo ở đời
này mà trổ quả ở kiếp kế, sau khi chết, gọi là sanh báo
nghiệp.
Chính Tư thiện hay Tư
bất thiện của đổng lực thứ bảy trong lộ tâm thể hiện hành
vi, có vai trò sanh báo nghiệp.
Sanh báo nghiệp cũng
không phải chắc chắn thành tựu vì có rất nhiều sanh báo
nghiệp khác trong đời sống xen vào.
Có người làm ác nhưng
cận tử nghiệp thiện mạnh nên họ tái sanh nhàn cảnh sau khi
mạng chung. Cũng có người làm thiện nhưng khởi lên cận tử
nghiệp bất thiện mạnh khiến họ tái sanh khổ cảnh sau khi
chết.
3.
Aparāpariyavedanīyakamma
– Hậu báo nghiệp
Hậu báo nghiệp là thứ nghiệp trổ quả đời sau sau nữa, tức
là từ kiếp thứ ba trở đi cho đến khi đắc đạo quả và níp bàn
chấm dứt tái sanh.
Tư thiện hay Tư bất
thiện hợp với năm tâm đổng lực giữa (đổng lực thứ hai đến
đổng lực thứ sáu) là vai trò hậu báo nghiệp. Năm đổng lực
giữa có vai mãnh lực trùng dụng duyên (āsevanapaccaya)
mạnh hơn đổng lực đầu và cuối, vì những đổng lực giữa vừa là
năng vừa là sở trong trùng dụng duyên nên thành hậu báo
nghiệp có mãnh lực trổ quả ở những kiếp luân hồi bất định
cho đến khi níp bàn mới hết...
Do đó, nên biết rằng đời này được hạnh phúc hay bị tai ương có thể là
do hậu báo nghiệp quá khứ xa xưa, ngay cả Đức Phật và các đệ
tử A La Hán của Ngài cũng bị hậu báo nghiệp quá khứ trổ quả
khi các Ngài còn thân cuối cùng chưa vô dư y níp bàn.
4. Ahosikamma
– Vô hiệu nghiệp
a.
Vô hiệu nghiệp đối với hiện
báo nghiệp: Tâm đổng lực thứ nhất trong mỗi lộ trình tâm là
hiện báo nghiệp có hiệu lực trổ quả thời gian một đời sống
hiện tại, vừa khi mệnh chung thì hiện báo nghiệp này hết
hiệu lực, gọi là vô hiệu nghiệp.
b.
Vô hiệu nghiệp đối với sanh
báo nghiệp: Tâm đổng lực thứ bảy trong mỗi lộ trình tâm là
sanh báo nghiệp có hiệu lực trổ quả trong thời gian kiếp
sống kế tiếp đây. Hết kiếp sống đó thì sanh báo nghiệp không
còn hiệu lực nữa, gọi là vô hiệu nghiệp.
c.
Vô hiệu nghiệp đối với hậu
báo nghiệp: Năm đổng lực giữa trongmỗi lộ trình tâm là hậu
báo nghiệp có hiệu lực trổ quả suốt các kiếp sống luân hồi,
kéo dài và bất định thời gian, cho đến khi viên tịch níp bàn
mới hết hiệu lực. Hậu báo nghiệp hết hiệu lực khi chúng sanh
ấy vô dư y níp bàn gọi là vô hiệu nghiệp.
d.
Vô hiệu nghiệp đối với đổng
lực tố: Diễn trình tâm của bậc A La Hán, bảy đổng lực trong
lộ tâm là tâm vô ký tố (abyākatakiriyā). Tư-Cetanā
hợp tâm đổng lực tố không thành nghiệp dị thời bất cứ trường
hợp nào (hiện báo nghiệp, hay sanh báo nghiệp, hay hậu báo
nghiệp) vì bậc A la hán đã đoạn tận ái (taṇhā) – điều
kiện tích lũy quả dị thục. Nên gọi đổng lực tố của vị A la
Hán là vô hiệu nghiệp.
D.
BỐN LOẠI NGHIỆP THEO NƠI TRỔ QUẢ
(Pākaṭṭhānavasena kammacatukkaṃ)
Tathā akusalaṃ kāmāvacarakusalaṃ rūpāvacarakusalaṃ
arūpāvacarakusalañc’eti pākaṭṭhānavasena cattāri kammāni
nāma.
Nghiệp bất thiện, nghiệp thiện dục giới, nghiệp thiện
sắc giới, nghiệp thiện vô sắc giới. Gọi là bốn loại nghiệp
theo nơi trổ quả.
Giải thích
1. Akusalakamma
– Nghiệp bất thiện
Nghiệp bất thiện là nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp
ý do Tư (cetana) hợp với 12 tâm bất thiện tạo thành.
Thân nghiệp bất thiện như là sát sanh, trộm cắp, tà
dâm được thực hiện qua thân biểu tri (kāyaviññatti).
Khẩu nghiệp bất thiện như là nói dối, nói ly gián,
nói thô ác, nói nhảm nhí được thực hiện qua khẩu biểu tri
(vacīviññatti).
Ý nghiệp bất thiện như tham lam, sân nộ, tà kiến được
thể hiện qua ý nghĩ (mana).
Nghiệp bất thiện trổ sanh danh uẩn quả
(vipākanāmakkhandha) và sắc nghiệp (kammajarūpa)
trong bốn cõi bất hạnh là địa ngục, bàng sanh, ngạ quỉ, A tu
la.
Danh uẩn quả do nghiệp bất thiện tạo đây là bảy quả
bất thiện như nhãn thức quả bất thiện, nhĩ thức quả bất
thiện,
...vv… và tâm quan sát quả bất
thiện làm việc tục sinh, hữu phần, tử cho hạng người khổ
trong cõi bất hạnh (apāyabhūmi).
Sắc nghiệp do nghiệp bất thiện tạo đây là năm sắc
thần kinh, hai sắc tính, sắc ý vật, sắc mạng quyền hình
thành thân thể của người bốn cõi bất hạnh.
2. Kāmāvacarakusalakamma – Nghiệp thiện dục giới
Nghiệp thiện dục giới là tư (cetanā) hợp với 8
tâm đại thiện, tạo thành
thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện và ý nghiệp thiện.
Thân nghiệp thiện như là thân hành kiêng tránh sát
sanh, kiêng tránh trộm cắp, kiêng tránh tà dâm.
Khẩu nghiệp thiện như là khẩu hành kiêng tránh nói
dối, kiêng tránh nói ly gián, kiêng tránh nói thô ác, kiêng
tránh nói nhảm nhí.
Ý nghiệp thiện như là tâm suy nghĩ vô tham, suy nghĩ
vô sân, suy nghĩ chánh kiến.
Ngoài thập thiện nghiệp đạo (kusalakammapatha)
này ra, thiện nghiệp dục giới còn thể hiện thập phước nghiệp
sự hay phúc hành tông (puññakiriyavatthu) nữa, đó là:
xả thí (Dāna), trì giới (Sīla), tu tiến (Bhāvanā;
tu chỉ: Samathabhāvanā; tu quán: vipassanābhāvanā),
cung kính (apacāyana), phục vụ (veyyāvacca),
hồi hướng phước (pattidāna), tùy hỷ phước
(pattānumodana), thính pháp (dhammasavana),
thuyết pháp (dhammadesanā), cải chánh tri kiến
(diṭṭhujukamma). Như vậy có hai mươi pháp hành thiện
nghiệp dục giới.
Nghiệp thiện dục giới trổ sanh danh uẩn quả
(vipākanāmakkhandha) và sắc nghiệp (kammajarūpa)
trong bảy cõi vui dục giới là cõi nhơn loại và sáu cõi thiên
tiên dục giới.
Danh uẩn quả do nghiệp thiện dục giới
tạo đây, là 16 tâm quả, gồm 8 quả thiện vô nhân và 8 đại
quả; Trong đó tâm ý thức giới quả thiện vô nhân thọ xã và 8
tâm đại quả làm việc tục sinh, hữu phần và tử cho người trời
cõi vui dục giới.
Sắc nghiệp do nghiệp thiện dục giới tạo đây, là sắc
thần kinh, sắc tính, sắc ý vật, sắc mạng quyền hình thành
thân thể của nhân loại và chư thiên cõi vui dục giới.
3.
Rūpāvacarakusalakamma – Nghiệp thiện sắc giới
Nghiệp thiện sắc giới là Tư (cetanā) hợp trong
năm tâm thiền thiện sắc giới; thiện sắc giới chỉ là ý
nghiệp, không phải là thân nghiệp hay khẩu nghiệp.
Ý nghiệp thiện sắc giới là những tâm thiền chứng,
thành tựu do tu chỉ (samathabhāvanāmaya) với đề mục
sắc.
Nghiệp thiện sắc giới tạo ra danh uẩn quả và sắc
nghiệp tục sinh cõi phạm thiên sắc giới.
Danh uẩn quả do nghiệp thiện sắc giới tạo đây, là năm
tâm quả sắc giới cùng tâm sở phối hợp, năm tâm quả này làm
việc tục sinh, hữu phần và tử cho các phạm thiên cõi sắc
giới hữu tưởng.
Sắc nghiệp do thiện nghiệp thiện sắc giới tạo đây, là
hai sắc thần kinh nhãn – nhĩ, sắc ý vật và sắc mạng quyền
hình thành thân phạm thiên cõi sắc hữu tưởng.
Nghiệp thiện sắc giới ngũ thiền còn tạo ra sắc nghiệp
mạng quyền cho phạm thiên cõi vô tưởng nữa.
4.Arūpāvacarakusalakamma
– Nghiệp thiện vô sắc giới
Nghiệp thiện vô sắc giới là Tư (cetanā) hợp
với bốn tâm thiền thiện vô
sắc giới; thiện vô sắc giới cũng chỉ là ý nghiệp, không phải
là thân nghiệp hay khẩu nghiệp.
Ý nghiệp thiện vô sắc giới là những tâm thiền chứng,
được thành tựu do tu chỉ (samathabhāvanāmaya) với đề
mục vô sắc.
Nghiệp thiện vô sắc giới tạo ra danh uẩn quả tức bốn
uẩn quả vô sắc làm việc tục sinh, hữu phần và tử cho phạm
thiên cõi vô sắc. Nghiệp thiện vô sắc giới không tạo sắc
nghiệp.
Phụ giải về quả tái tục và quả bình nhật của bốn loại
nghiệp: Nghiệp bất thiện, nghiệp thiện dục giới, nghiệp
thiện sắc giới, và nghiệp thiện vô sắc giới.
1.
Quả của nghiệp bất thiện
Nghiệp bất thiện tạo ra 1 tâm quả tái tục và 7 tâm
quả bình nhật.
Nhưng, Tư (Cetanā)
trong 11 tâm bất thiện trừ tâm si phóng dật, mới tạo ra tâm
quả tái tục (patisandhi) trong cõi bất hạnh. Tư trong
tâm si phóng dật thì không tạo ra quả thức tục sinh vì quá
yếu.
Tư (cetanā) hợp 12 tâm bất thiện đều tạo quả
thời bình nhật (pavattikāle) được cả; và tâm quả bất
thiện thời bình nhật hiện khởi trong 11 cõi dục (đủ 7 thứ
tâm quả bất thiện), hiện khởi trong 15 cõi sắc giới hữu
tưởng (nhưng chỉ có 4 thứ tâm quả bất thiện là nhãn thức,
nhĩ thức, tâm tiếp thâu, và tâm quan sát).
2.
Quả của nghiệp thiện dục giới
Nghiệp thiện dục giới tạo ra 9 tâm quả tái tục, và 16
tâm quả bình nhật. Phân tích chi tiết như sau:
-
Nghiệp thiện dục giới hợp
trí có tam tư, tạo 4 quả tái tục hợp trí sanh 7 cõi vui dục
giới. Tạo 16 quả bình nhật (trong đó bảy cõi vui dục giới
được 16 quả, bốn cõi bất hạnh được 8 quả thiện vô nhân, mười
lăm cõi sắc giới hữu tưởng được 5 quả thiện vô nhân trừ tỷ
thức, thiệt thức và thân thức).
-
Nghiệp thiện dục giới hợp
trí không tam tư và nghiệp thiện dục giới ly trí có tam tư,
tạo 4 quả tái tục ly trí sanh 7 cõi vui dục giới; Tạo 12 quả
bình nhật (trong đó bảy cõi vui dục giới được 12 quả, bốn
cõi bất hạnh được 8 quả thiện vô nhân, mười lăm cõi sắc giới
hữu tưởng được 5 quả thiện vô nhân trừ tỷ thức, thiệt thức
và thân thức).
-
Nghiệp thiện dục giới ly trí
không tam tư tạo 1quả tái tục vô nhân
sanh cõi nhân loại và Tứ đại thiên vương;
Tạo
8 quả bình nhật là 8 quả thiện vô nhân trong 11 cõi dục
giới, và 5 quả thiện vô nhân trong 15 cõi sắc giới hữu tưởng
trừ tỷ thức, thiệt thức và thân thức.
4.Quả
của nghiệp thiện sắc giới
-
Nghiệp thiện sơ thiền sắc giới tạo 1 quả sơ thiền, là tâm
tái tục, hữuphần và tử cho phạm thiên cõi phạm chúng thiên,
phạm phụ thiên, đại phạm thiên (tùy theo pháp trưởng trợ
lực).
-
Nghiệp thiện nhị thiền sắc giới tạo 1 quả nhị thiền và
nghiệp thiện tam thiền sắc giới tạo 1 quả tam thiền, hai tâm
quả này làm việc tái tục, hữu phần và tử cho phạm thiên cõi
Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Biến quang thiên
(tùy theo pháp trưởng trợ lực).
-
Nghiệp thiện tứ thiền sắc giới tạo 1 quả tứ thiền làm việc
tục sinh, hữu phần và tử cho phạm thiên cõi Thiểu tịnh
thiên, Vô lượng tịnh thiên và Biến tịnh thiên (tùy theo pháp
trưởng trợ lực).
-
Nghiệp thiện ngũ thiền sắc giới tạo 1 quả ngũ thiền, nếu là
phàm tam nhân và hai bậc thánh Nhập lưu – Nhất lai chứng ngũ
thiền này sẽ có quả ngũ thiền làm tâm tái tục, hữu phần và
tử trong cõi Quãng quả thiên; Nếu là bậc thánh Bất lai chứng
thiện ngũ thiền này sẽ có quả ngũ thiền làm tâm tái tục, hữu
phần và tử trong cõi ngũ tịnh cư; Nếu người phàm tam nhân
chứng ngũ thiền có sự chán ghét về tưởng, người ấy sẽ sanh
vào cõi vô tưởng nhờ mãnh lực ngũ thiền tạo ra sắc nghiệp
mạng quyền tái tục.
Lại nữa, ngũ thiền thiện của bậc thánh Bất lai có
quyền nào mạnh sẽ tùy đó mà bậc thánh Bất lai ấy sanh một
trong năm cõi Tịnh cư (Suddhāvāsa):
Ngũ thiền có tín quyền mạnh sẽ tục sinh cõi tịnh cư
vô phiền thiên (Avihā).
Ngũ thiền có tấn quyền mạnh sẽ tục sinh cõi tịnh cư
vô nhiệt thiên (Atappā).
Ngũ thiền có niệm quyền mạnh sẽ tục sinh cõi tịnh cư
thiện kiến thiên (Sudassā).
Ngũ thiền có định quyền mạnh sẽ tục sinh cõi tịnh cư
thiện hiện thiên (Sudassī).
Ngũ thiền có tuệ quyền mạnh sẽ tục sinh cõi tịnh cư
Sắc cứu cánh thiên (Akaniṭṭhā).
3.
Quả của nghiệp thiện vô sắc giới
Nghiệp thiện vô sắc giới tạo
4 quả vô sắc tương ứng:
-
Nghiệp thiện Không vô biên
xứ tạo 1 tâm quả Không vô biên xứ làm việc tục sinh, hữu
phần và tử cho phạm thiên cõi Không vô biên xứ.
-
Nghiệp thiện Thức vô biên xứ
tạo 1 tâm quả Thức vô biên xứ làm việc tục sinh, hữu phần và
tử cho phạm thiên cõi Thức vô biên xứ.
-
Nghiệp thiện Vô sở hữu xứ
tạo 1 tâm quả Vô sở hữu xứ làm việc tục sinh, hữu phần và tử
cho phạm thiên cõi Vô sở hữu xứ.
-
Nghiệp thiện Phi tưởng phi
phi tưởng xứ tạo 1 tâm quả Phi tưởng
phi phi tưởng xứ làm việc tục sinh, hữu phần và tử cho phạm
thiên cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Điều đã nói và điều sắp
nói:
Bài đã học:
Bài 59. Chương VII. TOÁT YẾU TÂM NGOẠI LỘ (Vīthimuttacittasaṅgaha)
Giải Về 31
Cõi (Bhūmibheda)
Bài học tiếp theo:
Bài 61.
Chương VII. TOÁT YẾU TÂM NGOẠI LỘ (Vīthimuttacittasaṅgaha)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |