|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 19 tháng 02, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,106)
@@@
Bài 6. Kinh Mãng Xà (Sappasuttaṃ) -TÂM ĐÃ LÀ KHÔNG, CẢNH XÁ GÌ.
Sợ hãi xẩy ra
khi cảm thấy bị đe doạ. Bị đe doạ gây giao động có liên hệ
mật thiết tới ngã chấp. Bậc Mâu Ni đã đạt tới cảnh giới
không chấp thủ thì tự bản chất vô sở uý. Các Ngài trú trong
am không tịch với cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Chư Phật
đối trước mọi khủng bố đều không đi tìm chỗ nương náu bình
an.
Evaṃ me sutaṃ –
Tôi được nghe
như vầy:
ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe.
Thuở ấy Đức Thế
Tôn ở Rājagaha, ở Trúc Lâm, tại khu Kalandakanivāpa (chỗ cho
sóc ăn).
Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṃ
abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṃ phusāyati.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi trong bóng đêm ngoài trời
và
mưa đang
rơi
từng
hạt nhỏ.
Atha kho māro pāpimā bhagavato bhayaṃ chambhitattaṃ
lomahaṃsaṃ uppādetukāmo mahantaṃ sapparājavaṇṇaṃ
abhinimminitvā yena bhagavā tenupasaṅkami.
Lúc đó Ác ma
muốn khiến Đức Thế Tôn sợ hãi, hoảng hốt, kinh khiếp nên hoá
thành mãng xà to lớn tiến gần đến Ngài.
Seyyathāpi nāma mahatī ekarukkhikā nāvā, evamassa kāyo hoti.
Seyyathāpi nāma mahantaṃ soṇḍikākiḷañjaṃ, evamassa phaṇo
hoti. Seyyathāpi nāma mahatī kosalikā kaṃsapāti, evamassa
akkhīni bhavanti. Seyyathāpi nāma deve gaḷagaḷāyante
vijjullatā niccharanti, evamassa mukhato jivhā niccharati.
Seyyathāpi nāma kammāragaggariyā dhamamānāya saddo hoti,
evamassa assāsapassāsānaṃ saddo hoti.
Thân mãng xà như chiếc thuyền độc mộc dài. Phùng mang lớn
như cái nia của người nấu rượu. Mắt lấp lánh như cái đĩa
bằng đồng xứ Kosala. Lưỡi rắn le ra tạo hình ảnh như sấm
chớp trong mưa giông. Hơi thở phì phào như âm thanh bễ thổi
của thợ rèn.
Atha kho bhagavā ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti
viditvā māraṃ pāpimantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Bấy giờ Đức Thế Tôn nhận biết “Đây là Ác ma”, Ngài nói lên
kệ ngôn:
‘‘Yo suññagehāni sevati,
Trú trong am
không tịch
‘‘Carakā bahū bheravā bahū,
Nhiều quái thú
bò quanh
‘‘Nabhaṃ phaleyya pathavī caleyya,
Dù trời long, đất lở
Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti
maṃ bhagavā, jānāti maṃ
sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết
ta" nên buồn và thất vọng
liền biến mất tại chỗ ấy.
‘‘Yo suññagehāni sevati = bậc sống trong am không tịch
Theo Sớ giải thì câu vossajja careyya tattha so hàm nghĩa
“Ngài sống tương thích với tâm tư đã xả ly tất cả không tầm
cầu nghiệp hữu và sanh hữu”.
Upadhi thường được dịch là sanh y là một thuật ngữ khó tìm
chữ tương đương. Đây là động lực đi tìm cái “tôi là, sẽ là”
đời nầy hay đời sau vì không bằng lòng với cái hiện tại.
Trong ngữ cảnh nầy nên hiểu là một bậc trú trong không tịch
đối trước tất cả khủng bố không đi tìm chỗ nương (…) Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |