BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 26 tháng 02, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,107)

@@@

  Bài 9 & 10. Kinh Thọ Mạng, 1 (Paṭhamaāyusuttaṃ)-Kinh Thọ Mạng, 2 (Dutiyaāyusuttaṃ) -Túy Sanh Mộng Tử

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

Quan niệm đời sống ngắn hay dài không đơn giản là triết lý lúc trà dư tửu lậu mà có ảnh hưởng lớn tới nhân sinh quan con người, và từ đó, tạo nên thái độ sống trong thực tế. Người ta sống huởn đãi, không tích cực vì nghĩ rằng mình có quá nhiều thời gian để hoàn tất điều muốn làm. Kỳ thực cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Ngay cả một người sống đến tuổi “cổ lai hy” nếu không tích cực thì cuộc sống cũng phí phạm vô ích. Rất nhiều lời khuyên “nên sống như chỉ còn một ngày để sống. Trong Kinh Pháp Cú có Phật ngôn “người sống giãi đãi thì sống mà cũng như chết” vì đang sống trong giấc mộng chứ không phải sống với hiện thực.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ

Tôi được nghe như vầy:

Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.

Thuở ấy Đức Thế Tôn ở Rājagaha, ở Trúc Lâm, tại khu Kalandakanivāpa (chỗ cho sóc ăn).

ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ.

Tại đấy Thế Tôn lên tiếng với các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" Chư tỳ kheo trả lời: “Dạ, bạch Thế Tôn".

Bhagavā etadavoca –

Thế Tôn nói như sau:

‘‘Appamidaṃ, bhikkhave, manussānaṃ āyu. Gamanīyo samparāyo, kattabbaṃ kusalaṃ, caritabbaṃ brahmacariyaṃ. Natthi jātassa amaraṇaṃ. Yo, bhikkhave, ciraṃ jīvati, so vassasataṃ appaṃ vā bhiyyo’’ti.

Này chư tỳ kheo, tuổi thọ kiếp nhân sinh quả là ngắn ngủi. Ai rồi cũng phải ra đi tới kiếp tương lai. Hãy làm thiện sự, hãy sống phạm hạnh. Người sanh ra rồi phải đến lúc tử vong. Người sống lâu lắm được trọng kiếp trăm năm hay dài hơn một chút.

Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn nói với Ngài kệ ngôn:

‘‘Dīghamāyu manussānaṃ, na naṃ hīḷe suporiso;
Careyya khīramattova, natthi maccussa āgamo’’ti.

Nhân loại vốn sống lâu
Người thiện chớ u sầu
Hồn nhiên như trẻ nhỏ
Chết đâu mà lo âu

‘‘Appamāyu manussānaṃ, hīḷeyya naṃ suporiso;
Careyyādittasīsova, natthi maccussa nāgamo’’ti.

(Thế Tôn):

Nhân sinh thọ mạng ngắn
Người thiện biết nghĩ xa
Như lửa cháy trên đầu
Không tránh khỏi tử vong

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta" nên buồn thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Dīghamāyu manussānaṃ = Kiếp người quả là dài
na naṃ hīḷe suporiso = Người tốt bất tất phải âu lo
Careyya khīramattova = hãy sống (hồn nhiên) như trẻ thơ bú sữa
natthi maccussa āgamo’’ti = cái chết có đến đâu mà!
‘‘Appamāyu manussānaṃ = nhân sinh tuổi thọ ngắn
hīḷeyya naṃ suporiso = người thiện biết liệu toan
Careyyādittasīsova = họ nên hành động kíp thời như lửa cháy trên đầu
natthi maccussa nāgamo’’ti = Cái chết đến không sao tránh khỏi

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo Sớ giải thì câu nói của Ác ma “careyya khīramattova - sống như đứa trẻ thơ bú sữa” hàm ý là sống hồn nhiên sau khí bú xong lăn ra ngủ chẳng cần biết cuộc sóng ngắn dài.

Kinh Thọ Mạng, 2 (Dutiyaāyusuttaṃ)

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ

Tôi được nghe như vầy:

Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.

Thuở ấy Đức Thế Tôn ở Rājagaha, ở Trúc Lâm, tại khu Kalandakanivāpa (chỗ cho sóc ăn).

ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ.

Tại đấy Thế Tôn lên tiếng với các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" Chư tỳ kheo trả lời: “Dạ, bạch Thế Tôn".

Bhagavā etadavoca –

Thế Tôn nói như sau:

‘‘Appamidaṃ, bhikkhave, manussānaṃ āyu. Gamanīyo samparāyo, kattabbaṃ kusalaṃ, caritabbaṃ brahmacariyaṃ. Natthi jātassa amaraṇaṃ. Yo, bhikkhave, ciraṃ jīvati, so vassasataṃ appaṃ vā bhiyyo’’ti.

Này chư tỳ kheo, tuổi thọ kiếp nhân sinh quả là ngắn ngủi. Ai rồi cũng phải ra đi tới kiếp tương lai. Hãy làm thiện sự, hãy sống phạm hạnh. Người sanh ra rồi phải đến lúc tử vong. Người sống lâu lắm được trọng kiếp trăm năm hay dài hơn một chút.

Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn nói với Ngài kệ ngôn:

‘‘Nāccayanti ahorattā, jīvitaṃ nūparujjhati;
Āyu anupariyāyati, maccānaṃ nemīva rathakubbara’’nti.

Ngày đêm chẳng trôi nhanh
Thọ mạng đâu chấm dứt
Cuộc sống cứ xoay vần
Như bánh xoay quanh trục

‘‘Accayanti ahorattā, jīvitaṃ uparujjhati;
Āyu khīyati maccānaṃ, kunnadīnaṃva odaka’’nti.

3) (Thế Tôn):

Đêm ngày trôi qua nhanh
Cuộc sống thật chóng vánh
Thọ mạng sẽ khô cạn
Như sơn khê cạn dần

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

4) Rồi Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Nāccayanti ahorattā = đêm và ngày không qua nhanh
jīvitaṃ nūparujjhati = cuộc sống chẳng bị cắt ngắn
Āyu anupariyāyati = tuổi thọ cứ xoay vần
maccānaṃ nemīva rathakubbara’’nti = Như bánh xe quay quanh trục
‘‘Accayanti ahorattā = ngày và đêm trôi nhanh
jīvitaṃ uparujjhati = cuộc sống thật ngắn ngủi
Āyu khīyati maccānaṃ = tuổi thọ của con người cứ cạn dần
kunnadīnaṃva odaka’’nti = như nước của khe suối nhỏ

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Thành ngữ maccānaṃ nemīva rathakubbara’’ti ( Như bánh xe quay quanh trục) giống câu thánh thi trong Áo Nghĩa Thư (Upanishad) mang ý nghĩa cuộc sống luôn xoay quanh tự ngã.


Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình

-ooOoo-