|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 01 tháng 02, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Dưỡng Tố (S. ii, 16)
Bài 15. Kinh Kaccānagotta (Kaccānagottasuttaṃ)
-CHẤP CÓ, CHẤP KHÔNG ĐỀU LÀ CỰC ĐOAN.
Người ta thường
nghĩ câu “tất cả đều là hư huyễn” là yếu nghĩa của Phật
Pháp. Thật ra thì câu nói chính xác là “tất cả pháp hữu vi
có sanh phải diệt”. Chấp có là không thấy sự hoại diệt. Chấp
không là không thấy sự tập khởi. Ngoài sanh diệt còn có sự
tiếp nối tạo nên giòng sinh diệt. Trong tiến trình ấy gọi
sát na trước và những sát na sau là một người cũng không
đúng là mà là hai người của không phải. Không cần phải nói
đến sự hiện hữu thật có hay hay không khi mà tất cả là giòng
sinh diệt tiếp nối.
Sāvatthiyaṃ viharati. Atha kho āyasmā kaccānagotto yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā kaccānagotto
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘sammādiṭṭhi sammādiṭṭhī’ti,
bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, sammādiṭṭhi
hotī’’ti?
Ngự tại Sāvatthi (Xá-vệ)...
Bấy giờ Tôn giả Kaccāyanagotta đi đến Đức Thế Tôn
đảnh lễ Thế Tôn rồi
ngồi xuống một bên. Tôn giả Kaccānagotta bạch Đức Thế Tôn:
-- "Chánh kiến, chánh kiến", bạch Thế Tôn được nói đến như
vậy. Bạch Thế Tôn, nói chính xác thế nào là chánh kiến?
‘‘Dvayanissito khvāyaṃ, kaccāna, loko yebhuyyena –
atthitañceva natthitañca. Lokasamudayaṃ kho, kaccāna,
yathābhūtaṃ sammappaññāya passato yā loke natthitā sā na
hoti. Lokanirodhaṃ kho, kaccāna, yathābhūtaṃ sammappaññāya
passato yā loke atthitā sā na hoti.
Upayupādānābhinivesavinibandho khvāyaṃ, kaccāna, loko
yebhuyyena. Tañcāyaṃ upayupādānaṃ cetaso adhiṭṭhānaṃ
abhinivesānusayaṃ na upeti na upādiyati nādhiṭṭhāti – ‘attā
me’ti. ‘Dukkhameva uppajjamānaṃ uppajjati, dukkhaṃ
nirujjhamānaṃ nirujjhatī’ti na kaṅkhati na vicikicchati
aparapaccayā ñāṇamevassa ettha hoti. Ettāvatā kho, kaccāna,
sammādiṭṭhi hoti.
-- Này Kaccāna, thế gian này phần đông thiên về lưỡng biên:
chấp hữu hoặc chấp vô.
Này Kaccāna, ai với chánh trí thấy sự tập khởi của thế giới,
vị ấy chẳng chấp thủ thế giới là không. Này Kaccàna, ai với
chánh trí thấy sự hoại diệt của thế giới, vị ấy chẳng chấp
thủ thế giới là có.
Này Kaccāna, thế gian nầy phần đông bị cột trói bằng cái
nhìn một chiều, chấp thủ, định kiến.
Đối với ai không bám víu vào
chấp thủ, không cột trói bởi định kiến vị ấy không có ý
nghĩ: “tự ngã của tôi”. Vì ấy không phân vân, nghi hoặc
đối cái gì sanh là khổ sanh, cái gì diệt là khổ diệt. Tự
thân nhận biết. Đó là chánh kiến.
‘‘‘Sabbaṃ atthī’ti kho, kaccāna, ayameko anto. ‘Sabbaṃ
natthī’ti ayaṃ dutiyo anto. Ete te, kaccāna, ubho ante
anupagamma majjhena tathāgato dhammaṃ deseti –
‘avijjāpaccayā saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ...pe...
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho;
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’’ti. Pañcamaṃ.
Này Kaccāna, "tất cả là có",
là một cực đoan. "tất cả là không" là cực đoan thứ
hai.
Này Kaccāna, không rơi vào hai cực đoan ấy,
Như Lai tuyên thuyết trung đạo:
Với vô minh là duyên, hành sanh khởi; hành là duyên, thức
sanh khởi; thức là duyên, danh sắc sanh khởi; danh sắc là
duyên, lục nhập sanh khởi; lục nhập là duyên, xúc sanh khởi;
xúc là duyên, tho sanh khởi; thọ là duyên, ái sanh khởi; ái
là duyên, thủ sanh khởi; thủ là duyên, hữu sanh khởi; hữu là
duyên, sinh sanh khởi; sinh là duyên, già, chết, khổ, ưu, ai
sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.
Do vô minh
diệt hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt
nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu
xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ
diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sinh diệt. Do sinh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu,
ai diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt
tận.
Kaccāna cũng được viết là Kaccāyana.
Tỳ khưu Kaccānagotta tạm là tỳ khưu dòng họ Kaccāna
không được biết nhiều trong kinh điển. Nội dung bài kinh nầy
về sau được Tôn giả Ananda dùng để khai thị trưởng lão
Channa (nguyên là người tín bộc đánh xe cho Đức Bồ Tát) Bài
kinh ngắn nầy có nội dung đặc biệt quan trọng về giáo nghĩa
phân biệt giữa cái nhìn thế gian và Phật Pháp, giữa tự thân
và cái nhìn tự ngã, giữa Phật giáo nguyên thuỷ và Đại Thừa. Cái có
và không của thế gian dựa trên tư kiến, định kiến. Một người
thích văn hoá Tây phương thì khó thấy cái đẹp của văn hoá
Đông phương. Hay ngược lại. Đó là những giá trị sản sinh từ
thiên chấp, bản năng. Trên
phương diện cá nhân, phần đông muốn có sự tồn tại của bản
ngã. Chính điều nầy tạo nên cái nhin “đám mây không bao giờ
chết” vì mây sẽ trở thành mưa; rồi thành giòng chảy sông
nước về với biển cả; từ biển cả bốc hơn thành mây. Tất cả
chỉ là sự biến hoá nhưng luôn có thực thể tồn tại gọi là tự
ngã. Đó là quan niệm chấp hữu. Phật
giáo Đại Thừa có câu”ngũ uẩn giai không” (câu “tứ đại giai
không” cũng hàm nghĩa tương tự dù chỉ nói về vật chất). Đó
là cái nhìn mang
tánh triết lý đối với hiện tượng vô thường. Đức Phật dạy bởi
vì các pháp hoại diệt nên chấp hữu là cực đoan; các pháp có
sự tập khởi nên chấp không là cực đoan. (giáo nghĩa của
“tánh không – suññatā có mặt trong tất cả tông phái của Đạo
Phật nhưng trong Tam tạng Pāli có những khác biệt tế nhị so
với không tánh trong giáo lý Bát nhã (…) của Phật giáo Đại
Thừa) Tánh
không – suññatā là một thuật ngữ mang ý nghĩa hoàn toàn khác
với chấp vô hay quan niệm “tất cả là không – natthitā”.
Tánh không – suññatā, trong sự giải thích tương đối
mà nói, là tất cả pháp có riêng tự tánh do vậy không khổ vui
vì ý niệm “của ta, là ta, là tự ngã của ta”.
Trong lúc quan niệm
“tất cả là không – natthitā” là một quan niệm khi đối mặt
với hiện tượng hoại diệt của các pháp mà bản thân không nắm
giữ được nên phủ nhận tất cả. Sớ
giải chú thích “chấp hữu (atthitā)” là thường kiến (sassata)
và “chấp vô
(natthitā) là đoạn kiến. Thường kiến là quan niệm sự tồn tại
của tự ngã là vĩnh hằng như nước trong mây, trong mưa, trong
sông nước, trong biển là bất biến dù với nhiều hình thái
khác nhau. Đoạn kiến là quan niệm mọi thứ hoại diệt là hết
như mây biến thành mưa là hoàn toàn tan biến. Tiếp vĩ ngữ
-tā trong atthitā và natthitā được hiểu là quan niệm hay
quan điểm. Chữ
dvayanissito có thể dịch theo triết học là lưỡng biên hay
đối đãi. Nên lưu ý là Phật giáo Đại Thừa và Ấn giáo dùng chữ
bất nhị (non-dualism) hay nhất thể có nghĩa rất khác với Tam
Pāli khi nói về “trung đạo” đối trọng với lưỡng biên. Trung
đạo là không rơi vào hai cực đoạn không có nghĩa là gom
chung thành nhất thể. Cụm từ
upayupādānābhinivesavinibaddho chỉ cho sự cột trói
(vinibandho) bởi ba
thứ: upāya, upādāna, abhinivesa.
Upāya là “quan niệm cần có” (thường được dịch là trong Hán
tạng là phương tiện). Upādāna là “quan niệm phải có” (thường
được dịch là trong Hán tạng là chấp thủ). Abhinivesa là
“quan niệm muốn có” do bản năng cố hữu hay tiềm miên chỉ cho
định kiến. Đây là ba lý do tạo nên chấp thủ cực đoan của thế
gian. Sớ giải chú thích cả ba đều dựa trên kiến chấp và ái
chấp (taṇhā, diṭṭhi) Câu “Tañ cāyaṃ upayupādānaṃ cetaso adhiṭṭhānaṃ
abhinivesānusayaṃna upeti na upādiyati nādhiṭṭhāti “attā
me”ti” (Đối với ai không bám víu vào chấp thủ, không cột
trói bời định kiến vị ấy không có ý nghĩ: “tự ngã của tôi”).
rất khó chuyển ngữ đầy đủ. Bản sớ giải chú thích:
Đối với bậc thánh đệ
tử (ayaṃ ariyasāvako) không mang quyết đoán (adhiṭṭhāna) là
tự ngã vì bản năng tiềm ẩn (abhinivesānusaya). Phải cẩn thận với câu “Dukkhameva uppajjamānaṃ
uppajjati, dukkhaṃ nirujjhamānaṃ nirujjhatī’ti) (đối cái gì
sanh là khổ sanh, cái gì diệt là khổ diệt) mang ý nghĩa rất
khác với câu “Khi khổ
sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt” trong
một số bản dịch. Câu sau mang ý nghĩa rất hẹp về khổ.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |