|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 08 tháng 02, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Dưỡng Tố (S. ii, 18)
Bài 17. Kinh Đạo sĩ Lõa Thể Kassapa (Acelakassapasuttaṃ)
-KHÔNG LÀ MỘT CŨNG CHẲNG PHẢI HAI.
Quan điểm “mình làm mình chịu” hay “người ta gây khổ cho
mình” hoặc “ngẫu nhiên bị hoạ khổ” là những cái nhìn rất phổ
thông của người thế gian. Từ những ý nghĩ đó tạo nên kiến
chấp. Người học Phật phải rất cẩn thận để hiểu rõ tại sao
giáo lý duyên khởi nằm ngoài những phạm trù đó. Tất cả kiến
chấp như bẫy lưới mà hầu hết chúng sanh bị rơi vào. Hiểu lý
duyên khởi đúng nghĩa sẽ không rơi vào những kiến chấp sai
lạc dù thường kiến hay đoạn kiến.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati
veḷuvane kalandakanivāpe. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṃ piṇḍāya pāvisi. Addasā
kho acelo kassapo bhagavantaṃ dūratova āgacchantaṃ. Disvāna
yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ
sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho acelo kassapo bhagavantaṃ
etadavoca – ‘‘puccheyyāma mayaṃ bhavantaṃ gotamaṃ kañcideva
desaṃ, sace no bhavaṃ gotamo okāsaṃ karoti pañhassa
veyyākaraṇāyā’’ti.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veluvana
(Trúc Lâm),
trong khu vực kalandakanivāpe (chỗ cho sóc ăn).
Bấy giờ vào buổi sáng Thế Tôn đắp y, cầm bát và y (kép) , đi
vào Rājagaha để trì bình. Đạo sĩ lõa thể Kassapa thấy Thế
Tôn từ xa liền đi đến gần Thế Tôn. Sau những lời xã giao
thân thiện đứng một bên và bạch rằng:
-- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một điều. Nếu Tôn
giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ nêu câu hỏi.
‘‘Akālo kho tāva, kassapa, pañhassa; antaragharaṃ
paviṭṭhamhā’’ti. Dutiyampi kho acelo kassapo bhagavantaṃ
etadavoca ‘‘puccheyyāma mayaṃ bhavantaṃ gotamaṃ kañcideva
desaṃ, sace no bhavaṃ gotamo okāsaṃ karoti pañhassa
veyyākaraṇāyā’’ti. ‘‘Akālo kho tāva, kassapa, pañhassa;
antaragharaṃ paviṭṭhamhā’’ti. Tatiyampi kho acelo
kassapo...pe... antaragharaṃ paviṭṭhamhāti. Evaṃ vutte,
acelo kassapo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘na kho pana mayaṃ
bhavantaṃ gotamaṃ bahudeva pucchitukāmā’’ti. ‘‘Puccha,
kassapa, yadākaṅkhasī’’ti. Lần thứ hai, đạo sĩ lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn: -- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một điều. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ nêu câu hỏi. -- Này Kassapa, nay không phải thời thích hợp để hỏi. Chúng ta đã đi vào làng. Lần thứ hai, đạo sĩ lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn: -- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một điều. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ nêu câu hỏi. -- Này Kassapa, nay không phải thời thích hợp để hỏi. Chúng ta đã đi vào làng. Khi được nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn: -- Chúng tôi chỉ muốn hỏi Tôn giả Gotama một câu ngắn thôi. -- Vậy hãy hỏi đi, như Ông muốn. Này Kassapa, .
‘‘Kiṃ nu kho, bho gotama, ‘sayaṃkataṃ dukkha’nti? ‘Mā hevaṃ,
kassapā’ti bhagavā avoca. ‘Kiṃ pana, bho gotama, paraṃkataṃ
dukkha’nti? ‘Mā hevaṃ, kassapā’ti bhagavā avoca. ‘Kiṃ nu
kho, bho gotama, sayaṃkatañca paraṃkatañca dukkha’nti? ‘Mā
hevaṃ, kassapā’ti bhagavā avoca. ‘Kiṃ pana bho gotama,
asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ dukkha’nti? ‘Mā
hevaṃ, kassapā’ti bhagavā avoca. ‘Kiṃ nu kho, bho gotama,
natthi dukkha’nti? ‘Na kho, kassapa, natthi dukkhaṃ. Atthi
kho, kassapa, dukkha’nti. ‘Tena hi bhavaṃ gotamo dukkhaṃ na
jānāti, na passatī’ti. ‘Na khvāhaṃ, kassapa, dukkhaṃ na
jānāmi, na passāmi. Jānāmi khvāhaṃ, kassapa, dukkhaṃ;
passāmi khvāhaṃ, kassapa, dukkha’’’nti. Đức Thế Tôn trả lời: -- Không phải vậy, này Kassapa. -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do người khác tạo ra? Đức Thế Tôn trả lời: -- Không phải vậy, này Kassapa. -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do mình làm ra và do người khác tạo ra? Thế Tôn đáp: -- Không phải vậy, này Kassapa. -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do ngẫu nhiên sanh, không do tự mình cũng không do người khác tạo ra ? ĐứcThế Tôn đáp: -- Không phải vậy, này Kassapa. -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không có? -- Này Kassapa, không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa. -- Như vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy khổ. -- Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, Ta thấy khổ.
‘‘Ki nu kho, bho gotama, ‘sayaṃkataṃ dukkha’nti iti puṭṭho
samāno ‘mā hevaṃ, kassapā’ti vadesi. ‘Kiṃ pana, bho gotama,
paraṃkataṃ dukkha’nti iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṃ,
kassapā’ti vadesi. ‘Kiṃ nu kho, bho gotama, sayaṃkatañca
paraṃkatañca dukkha’nti iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṃ,
kassapā’ti vadesi. ‘Kiṃ pana, bho gotama, asayaṃkāraṃ
aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ dukkha’nti iti puṭṭho samāno
‘mā hevaṃ, kassapā’ti vadesi. ‘Kiṃ nu kho, bho gotama,
natthi dukkha’nti iti puṭṭho samāno ‘na kho, kassapa, natthi
dukkhaṃ, atthi kho, kassapa, dukkha’nti vadesi. ‘Tena hi
bhavaṃ gotamo dukkhaṃ na jānāti na passatī’ti iti puṭṭho
samāno ‘na khvāhaṃ, kassapa, dukkhaṃ na jānāmi na passāmi.
Jānāmi khvāhaṃ, kassapa, dukkhaṃ; passāmi khvāhaṃ, kassapa,
dukkha’nti vadesi. Ācikkhatu ca me, bhante, bhagavā dukkhaṃ.
Desetu ca me, bhante, bhagavā dukkha’’nti.
-- Ðược hỏi: "Tôn giả Gotama, khổ có phải tự mình làm ra",
Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Ðược hỏi: "Tôn
giả Gotama, khổ có phải do người khác làm ra?", Ngài trả
lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Ðược hỏi: "Tôn giả
Gotama, khổ có phải do tự mình làm ra và do người khác làm
ra?", Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Ðược hỏi:
"Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra và
không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?", Ngài trả
lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Ðược hỏi: "Tôn giả
Gotama, có phải khổ không có?", Ngài trả lời: "Không phải
khổ không có. Khổ có, này Kassapa". Ðược hỏi: "Như vậy Tôn
giả Gotama, không biết, không thấy khổ?", Ngài trả lời: "Này
Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này
Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ". Bạch Thế
Tôn, Thế Tôn hãy nói lên cho con về khổ, bạch Thế Tôn, Thế
Tôn hãy thuyết cho con về khổ.
‘‘‘So karoti so paṭisaṃvedayatī’ti [paṭisaṃvediyatīti (sī.
pī. ka.)] kho, kassapa, ādito sato ‘sayaṃkataṃ dukkha’nti
iti vadaṃ sassataṃ etaṃ pareti. ‘Añño karoti añño
paṭisaṃvedayatī’ti kho, kassapa, vedanābhitunnassa sato
‘paraṃkataṃ dukkha’nti iti vadaṃ ucchedaṃ etaṃ pareti. Ete
te, kassapa, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṃ
deseti – ‘avijjāpaccayā saṅkhārā; saṅkhārapaccayā
viññāṇaṃ...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā
saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho...pe...
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’’ti.
-- Này Kassapa, (nếu một người nghĩ rằng) "khổ do tự mình
làm ra", (từ đó) tạo nên chấp thủ “ người tạo tác cũng là
người cảm thọ (kết quả)”. Đây là cái nhìn thường kiến.
-- Này Kassapa, (nếu một người nghĩ rằng) "khổ do người khác
tạo nên", (từ đó) tạo nên chấp thủ “ người tạo tác khác với
người cảm thọ (kết quả)”. Đây là cái nhìn đoạn kiến.
Này Kassapa, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo
trung đạo: Với vô
minh là duyên, hành sanh khởi; hành là duyên, thức sanh
khởi; thức là duyên, danh sắc sanh khởi; danh sắc là duyên,
lục nhập sanh khởi; lục nhập là duyên, xúc sanh khởi; xúc là
duyên, tho sanh khởi; thọ là duyên, ái sanh khởi; ái là
duyên, thủ sanh khởi; thủ là duyên, hữu sanh khởi; hữu là
duyên, sinh sanh khởi; sinh là duyên, già, chết, khổ, ưu, ai
sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.
Do vô minh diệt hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên
thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt
nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt
nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ
diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sinh diệt.
Do sinh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như
vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt tận.
Evaṃ vutte, acelo kassapo bhagavantaṃ etadavoca –
‘‘abhikkantaṃ, bhante, abhikkantaṃ, bhante! Seyyathāpi,
bhante, nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya...pe... cakkhumanto rūpāni
dakkhantīti; evamevaṃ bhagavatā anekapariyāyena dhammo
pakāsito. Esāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi
dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṃ, bhante, bhagavato
santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampada’’nti.
Khi được nghe vậy, đạo sĩ lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người
dựng đứng những gì bị ngã xuống, phơi bày những gì bị che
kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm
tối để những ai có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế
Tôn Gotama, xin nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng.
Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia với Đức Thế Tôn,
và được thọ đại giới.
‘‘Yo kho, kassapa, aññatitthiyapubbo imasmiṃ dhammavinaye
ākaṅkhati pabbajjaṃ, ākaṅkhati upasampadaṃ, so cattāro māse
parivasati. Catunnaṃ māsānaṃ accayena pabbājenti
upasampādenti bhikkhubhāvāya. Api ca mayā puggalavemattatā
viditā’’ti.
-- Này Kassapa, ai trước kia thuộc ngoại giáo mà muốn xuất
gia và thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn
tháng biệt trú. Sau bốn tháng biệt trú, nếu chúng Tăng đồng
thuận sẽ cho xuất gia và thọ đại giới tỳ khưu. Nhưng có
những biệt lệ do chính Ta chuẩn thuận.
‘‘Sace, bhante, aññatitthiyapubbo imasmiṃ dhammavinaye
ākaṅkhati pabbajjaṃ, ākaṅkhati upasampadaṃ, cattāro māse
parivasati. Catunnaṃ māsānaṃ accayena pabbājenti
upasampādenti bhikkhubhāvāya. Ahaṃ cattāri vassāni
parivasissāmi, catunnaṃ vassānaṃ accayena āraddhacittā
bhikkhū pabbājentu upasampādentu bhikkhubhāvāyā’’ti.
-- Bạch Đức Thế Tôn, ai trước kia thuộc ngoại giáo mà muốn
xuất gia và thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống
bốn tháng biệt trú. Sau bốn tháng biệt trú, nếu chúng Tăng
đồng thuận sẽ cho xuất gia và thọ đại giới tỳ khưu thời con
sẽ xin biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm nếu
chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng cho con xuất gia, thọ đại
giới tỳ khưu.
Alattha kho acelo kassapo bhagavato santike pabbajjaṃ,
alattha upasampadaṃ. Acirūpasampanno ca panāyasmā kassapo
eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto
nacirasseva – yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā
anagāriyaṃ pabbajanti tadanuttaraṃ – brahmacariyapariyosānaṃ
diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja
vihāsi. ‘‘Khīṇā jāti vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’’ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā
kassapo arahataṃ ahosīti. Sattamaṃ.
Đạo sĩ lõa thể Kassapa được xuất gia từ Đức ThếTôn và thọ
đại giới . Thọ giới không lâu, Tôn giả Bhāradvāja sống độc
cư, viễn ly, cần mẫn, không xao lãng, quyết tâm và tự thân
chứng ngộ chánh trí ngay trong kiếp hiện tại. Đây chính là
cứu cánh mà những thiện gia nam tử đi tu sống không gia đình
hướng tới. Vị ấy chính mình biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái
này nữa”. Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.
Chú Thích
Kassapa – âm Hán Việt là Ca Diếp – là một tên gọi rất phổ
thông trong Phạn ngữ. Rất nhiều đệ tử Phật tên Kassapa, ngay
cả những đạo sĩ loã thể tên Kassapa (acelakassapa) sau nầy
xuất gia theo Phật cũng có nhiều. Phải rất cẩn thận để tránh
nhầm lẫn vị nầy với vị kia.
Sớ giải ghi rằng: trong một số trường hợp Đức Phật từ chối
giảng pháp ba lần trước khi huấn thị có dụng ý khiến người
cầu pháp khởi tâm cung kính Pháp bảo. Nhanh chóng đáp ứng
đôi khi khiến người thiếu lòng tin xem nhẹ giá trị. Cũng
trong phần chú giải nói thêm rằng có lúc Đức Phật chậm trả
lời để người hỏi có thì giờ cho tuệ giác chín muồi.
Trong bốn câu hỏi nên được hiểu:
a.
“Người tạo khổ và người thọ khổ” thuộc thường kiến (sassata)
vì tin rằng có tự ngã hằng hữu không thay đổi.
b.
“Người tạo khổ và người thọ khổ là khác biệt” thuộc đoạn
kiến (uccheda) vì không thấy được sự tiếp nối của dòng hiện
hữu
c.
“Khổ do cả hai tự thân và người khác tạo” có một phần thường
kiến (ekaccasassatavāda; xem Kinh Phạm Võng
DN I 17-21)
d.
“Khổ không do cả hai tự thân hay người khác tạo” đây là quan
điểm của thuyết ngẫu nhiên (adhiccasamuppannavāda;
xem Kinh Phạm Võng
DN I 28-29).
Sớ giải lưu ý ở phần đầu của đối thoại, Kassapa gọi Đức Phật
là “Bho Gotama” là cách gọi đối với tu sĩ bình thường; khi
Kassapa tha thiết cầu pháp thì từ đó về sau bạch Phật với
cụm từ “bhante
bhagavā” là cách nói cung kính.
Cụm từ “ādito sato - tự ban đầu” hàm ý từ cái nhìn nầy tạo
nên kiến chấp (thường hay đoạn)
Đức Phật giảng dạy theo cách nằm ngoài cả bốn cực đoan được
nêu ra. Cuộc sống là giòng hiện hữu của sanh diệt kết nối
bằng cái nầy tác động cái kia theo lý duyên khởi. Có hành
động chứ không có người hành động, có cảm thọ chứ không có
người cảm thọ.
Theo Sớ giải thì xin xuất gia
(pabbajjā) có nghĩa
là được thọ sa di (sāmaṇera); thọ đại giới hay thọ cụ túc
(upasampadā) là trở thành một tỳ khưu làm thành viên chính
thức của Tăng chúng. Một người ngoại giáo muốn tu theo Phật giáo phải có bốn tháng biệt trú làm sa di hay sa di ni. Sau đó với sự đồng thuận của của Tăng chúng sẽ được thọ đại giới. Trường hợp của Kassap trong bài kinh nầy theo Sớ giải thì Đức Phật cho tho sa di rồi ngay sau đó triệu tập Tăng hội đủ túc số trao truyền cụ túc giới không qua bốn tháng biệt trú.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |