BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Sáu, ngày 27, tháng 01, 2023

MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG
THẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)

Bài 37. Nhóm Thuộc Tánh Tịnh Hảo (sobhanacetasikā)- Sáu Cặp Thuộc Tánh: Tĩnh, Khinh, Nhu, Thích, Thuần, Trực

IV.(1) Saddhā, (2) sati, (3) hiri, (4) ottappaṁ, (5) alobho, (6) adoso, (7) tatramajjhattatā, (8) kāyapassaddhi, (9) cittapassaddhi, (10) kāyalahutā, (11) cittalahutā, (12) kāyamudutā, (13) cittamudutā, (14) kāyakammaññatā, (15) cittakammaññatā, (16) kāyapāguññatā, (17) cittapāguññatā, (18) kāyujjukatā, (19) cittujjukatā cā ti ekūnavīsat’ime cetasikā sobhanasādhāraṇā nāma.

19 thuộc tánh gọi là tịnh hảo biến hành gồm có: Tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, quân bình, tịnh tánh, tịnh tâm, khinh tánh, khinh tâm, nhu tánh, nhu tâm, thích tánh, thích tâm, thuần tánh, thuần tâm, chánh tâm, chánh tánh.

saddhā = tín
sati = niệm
hiri = tàm
ottappaṁ = quý
alobho = vô tham
adoso = vô sân
tatramajjhattatā = quân bình
kāyapassaddhi = tĩnh tánh
cittapassaddhi = tình tâm
kāyalahutā = khinh tánh
cittalahutā = khinh tâm
kāyamudutā = nhu tánh
cittamudutā =nhu tâm
kāyakammaññatā = thích tánh
cittakammaññatā = thích tâm
kāyapāguññatā = thuần tánh
cittapāguññatā = thuần tâm
kāyujjukatā = chánh tánh
cittujjukatā = chánh tâm
ekūnavīsati = 19
cetasikā sobhanasādhāraṇā = thuộc tánh tịnh hảo biến hành

Chú thích

TỔNG QUAN

Trong những nhóm thuộc tánh, nhóm thuộc tánh tịnh hảo biến hành dễ tạo nên nhiều ngộ nhận. Cần phân biệt rõ đây là những thuộc tánh chứ không phải là trạng thái tâm hay sở hành.

Tịnh hảo  - sobhana- trong Thắng Pháp nghĩa là tốt bao gồm tốt nhưng chưa hẳn đủ để gọi là thiện; mà tốt cũng có thể là vượt trên cả cái thiện. Nói cách khác cái tốt ở đây có thể là trạng thái của một người đang làm việc với sự khéo léo của tay nghề; hay một người hảo tâm giúp đở những kẻ đau khổ; cũng có thể là cái tốt trong tâm tư một vị A la hán đã vượt khỏi thiện ác của nhân sinh. Như vậy phải hiểu tịnh hảo là cái tốt phổ quát chứ không là cái thiện thường được hiểu theo lý giải thông thường.

Thuật ngữ sobhana được Ngài Tịnh Sự dịch là Tịnh hảo và Hoà thượng Thích Minh Châu dịch là tịnh quang. Chữ tịnh hảo lấy theo nghĩa; chữ tịnh quang lấy theo ngữ. Đẹp là vì tốt gọi là tịnh hảo. Đẹp vì sáng gọi là tịnh quang. Cả hai từ vựng nầy đều mới trong thuật ngữ Phật học Hán Việt.

Tịnh hảo biến hành có nghĩa là những thuộc tánh có mặt trong tất cả tâm tịnh hảo (tức là những trừ ra 12 tâm bất thiện và 18 tâm vô nhân).

Có bốn nhóm thuộc tánh tịnh hảo: nhóm tịnh hảo biến hành gồm 19 thuộc tánh, nhóm giới phần gồm 3 thuộc tánh, nhóm vô lượng phần gồm 2 thuộc tánh, “nhóm’ tuệ phần chỉ có 1 thuộc tánh.

Từ định nghĩa vĩ mô đến sự biểu hiện nổi trội

Một điểm được nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi đề cập đến ý nghĩa các thuộc tánh là cần hiểu theo cách nói vĩ mô. Những trạng thái như tín, niệm, tàm, quý … khi được định nghĩa thường là theo cách nói đại loại nhưng tín là đức tin ở Tam Bảo, nghiệp quả nhưng khi nói tín là thuộc tánh thì đơn thuần là niềm tin có thể ở mức độ phôi thai nhất. Thí dụ trong hạt cải nhỏ đã có những yếu tố quyết định về màu sắc, hương vị, dáng dấp của cây cải sau nầy. Giai đoạn phôi thai đó rất khó tưởng tượng như một công thức bí mật cho đến sau nầy mọi thành cây cải lớn theo thời gian mới phân định rõ. Nên hiểu là những thuộc tánh khi lớn mạnh có thể là những thiện pháp nhưng khi ở giai đoạn phôi thai thì chỉ là những tố chất vi tế.

Có những phối ngẩu vượt ngoài sự tưởng tượng thông thường

Trong cách hiểu bình thường thì tín và niệm, tàm và quý, vô tham và vô sân thường được hiểu rất riêng biệt. Thế nhưng khi là thuộc tánh thì những tố chất nầy lại hoà quyện nhau tạo thành một thứ tâm đẹp. Đây là thách thức lớn cho người quen học Phật qua Kinh Tạng. Cứ lấy thí dụ đã từng đề cập nhiều lần: Màu gốc chỉ có bốn là xanh, vàng, đỏ, trắng. Nhưng lấy những màu nầy pha lại sẽ tạo nên những màu tím, màu cam..v.v.. mà một người không học hội hoạ khó tưởng tượng được.

Cái tốt căn cội khác với cái tốt hành động

Một khía cạnh khác tương đối khó hiểu là sự khác biệt giữa hành động thiện và thuộc tánh tịnh hảo. Hành động là sự biểu lộ hay bộc phát vốn là sự kết hợp của nhiều nhân tố. Còn thuộc tánh chỉ là bản chất căn cội. Thí dụ trong hành động thì sự tu giới, tu định, tu tuệ riêng biệt nhưng khi nhìn từ gốc độ căn cội thì 8 chi đạo có thể pháp sanh cùng lúc trong tâm đạo (…). Không nên hiểu những pháp trong thuộc tánh như tín, niệm, tàm, quý … là những thiện pháp được thể hiện qua thân, khẩu, ý vốn được nói nhiều trong Kinh Tạng.

Nên hiểu với sự phân biệt giữa tâm và thuộc tánh.  Nói đến tâm là là tổng hợp của bốn danh uẩn: thọ, tưởng, hành, thức. Nói đến thuộc tánh thì nói riêng lẻ về thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Giống như nói nồi canh chua khác với me chua. Thuộc tánh tín nên hiểu khác với tín tâm. Không phân định tạo nên sự lầm lẫn mà ngay cả các vị giảng sư cũng thường mắc phải. Thắng pháp nếu hiểu “luông tuồng” dễ sanh ngộ nhận.

Những tố chất làm tốt nội vụ

Một khía cạnh thú vị khác về các thuộc tánh tịnh hảo là có những thuộc tánh đóng “vai trò nội vụ” tức là làm tốt cho các tâm và thuộc tánh đồng sanh. Đó là những thuộc tánh tịnh tánh, tịnh tâm, khinh tánh, khinh tâm, nhu tánh, nhu tâm, thích tánh, thích tâm, thuần tánh, thuần tâm, chánh tánh, chánh tâm. Những thuộc tánh nầy khi đào sâu sẽ cho thấy một khía cạnh rất lợi lạc về bài học của pháp tự nhiên mà ở đây được Thắng Pháp trình bày.

Lưu ý: Chánh văn của nguyên tác chỉ nêu 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành trong một bảng liệt kê rất ngắn gọn như mở đầu bài học. Phần chú thích sẽ đi sâu vào chi tiết nên tương đối dài và được giảng trong nhiều ngày.

Bài học ngày 9.12.2022

Thuộc Tánh Tín (Saddhācetasika)

Thuộc tánh tín (Saddhācetasika) là một trong 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành có nghĩa là có mặt trong tất cả tâm tịnh hảo. Khi nói về hai loại thuộc tánh tợ tha và bất thiện tương đối ít gây ngộ nhận như thuộc tánh tịnh hảo. Bởi vì khi đề cập đến những thuộc tánh nầy chúng ta thường hiểu theo góc nhìn Phật pháp hơn là bản chất tự nhiên và cũng hiểu theo cách nói đại loại hơn là vĩ mô. Để tránh ngộ nhận phần nầy sẽ được đào sâu theo từng một hoặc hai thuộc tánh.

Hiểu chính xác tín là gì

Chữ saddhā được dịch sang Hán Việt là tín. Tín được hiểu lả tin. Vấn đề chỗ nầy chữ “tin” trong tiếng Việt mang nhiều nghĩa và vài nghĩa trong số đó đi ngược với ý nghĩa của chữ saddhā.

Tin hay niềm tin đôi khi có nghĩa là được thuyết phục bởi điều gì đó mà không có lý tính như trong câu “chánh pháp đến để thấy chứ không phải đến để tin”. Saddhā ở đây không mang ý nghĩa như vậy. Trong tiếng Việt chữ “tin” thường được xài thông dụng ít khi rõ ràng như trong Anh ngữ với những chữ faith, belief, confidence, trust, fidelity…. Mặc dù có nhiều cách dịch như đức tin, niềm tin, lòng tin, tín tâm..nhưng tương đối mơ hồ. Phải rất cẩn trọng khi định nghĩa chữ tín theo thuộc tánh tín.

Trong cách nói gần nhất thì tín – Saddhā là “chọn”. Trong nhiều cái để lựa thì chọn cái tốt nhất. Ngài Silananda cũng nói là Saddhà giống như sự quyết đoán (adhimokkha) tịnh hảo nhưng khác với thuộc tánh thắng giải về phương diện công năng như được đề cập trong phần tiếp theo. Trong Kinh Milindapanda Ngài Nagasena dùng thí dụ như một người đứng trước dòng suối phân vân chưa biết có thể băng ngang được hay không chợt thấy có người băng qua. Từ sự quan sát nầy dẫn đến kết luận là mình có thể băng qua được. Quyết định đó là tín.

Tín theo cách hiểu vĩ mô

Trong cách nói vĩ mô thì khi đề cập đến mỗi thuộc tánh thường nói đến bốn phương diện: đặc tính, chức năng, biểu hiện, và điều kiện. Chức năng của thuộc tánh tín là xoá tan đi những mù mờ, chập chờn được thí dụ như ngày nay những người đi rừng mang theo các viên thuốc lọc nước (water purifier pill). Khi múc nước suối, nước hồ vào bình người ta cho một viên thuốc lọc vào. Viên thuốc khiến nước trong và an toàn để uống. Công năng của tín cũng như vậy. Sự chọn lấy một cái gì đó thì xua tan những lao xao.

Tín theo cách nói đại loại

Trong lúc tín theo cách nói vĩ mô không thể là đức tin mù quáng thì theo cách nói đại loại tín có thể là niềm tin dựa trên một cơ sở vững vàng hay thiếu cơ sở. Theo cách nói đại loại từ niềm tin đối với bản thân (tự tin) đến đạo giáo (tín ngưỡng) hay mơ hồ (mê tín) đều nằm trong tín. Sự khác biệt giữa hai cách nói là tín theo vĩ mô phải mang tính cách lựa chọn thí dụ như câu kinh “Phật là nơi nương nhờ tối thượng” trong lúc theo cách nói đại loại thì không hẳn như vậy thí dụ sự cả tin cũng là tin.

Vai trò của tín trong các tâm tịnh hảo

Một đặc tính của các tâm tịnh hảo là sự ổn định danh pháp. Nói theo ngôn ngữ thường thức là sự trật tự, ổn định. Vai trò của thuộc tánh tín là làm cho các danh pháp đồng sanh không bị lao xao bởi thiếu quyết đoán giống như kết quả sau cùng của cuộc bầu cử là chấm dứt tranh cử đưa xã hội trở về sự bình thường trước đó. Phải hiểu rõ điều nầy mới thấy tại sao ngay cả một người không có tín tâm ở Tam Bảo, nghiệp báo.. vẫn có thuộc tánh tín trong đời sống hằng ngày. (Đa số các giáo trình Thắng Pháp đều định nghĩa thuộc tánh tín trong cách nói đại loại có thể tạo ngộ nhận)

Lưu ý: Chánh văn của nguyên tác chỉ nêu 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành trong một bảng liệt kê rất ngắn gọn như mở đầu bài học. Phần chú thích sẽ đi sâu vào chi tiết nên tương đối dài và được giảng trong nhiều ngày.

Bài học ngày 16.12.2022

Thuộc Tánh Niệm (Saticetasika) 

Thuộc tánh Niệm (Saticetasika) là một trong 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành có nghĩa là có mặt trong tất cả tâm tịnh hảo. Đây là một thuật ngữ phổ thông trong Phật học cũng như thường thức. Và cũng là một trong những thuật ngữ được sử dụng với nhiều ý nghĩa đôi khi trái chống nhau. Niệm (sati) là một từ vựng được dùng rất nhiều trong kinh điển. Nên phân rõ cách hiểu khác biệt giữa thường thức và Phật học. Ngay trong Phật pháp cũng cần phân rõ ý nghĩa của niệm giữa pháp học và pháp hành. Trong bài học nầy thuộc tánh niệm cần hiểu theo cách nói vĩ mô chứ không phải là cách nói đại loại.

Hiểu chính xác niệm là gì?

Muốn hiểu chính xác ý nghĩa của chữ niệm trước nhất cần tạm thời bỏ đi tất cả những gì vốn thường được hiểu một cách quen thuộc về chữ nầy.

Niệm ở đây không phải là liên tục lẩm nhẩm một danh hiệu Phật hay câu thần chú nào đó.

Niệm ở đây không phải là sự ghi nhớ như tâm niệm hay “ghi nhớ biết mình’

Niệm ở đây không phải là sự theo dõi cái gì đó.

Mặc dù những điều vừa nói đều “có khả năng huân tập niệm lực, và niệm cũng là trọng điểm để tu tập những điều đó”.

Niệm theo cách hiểu vĩ mô

Mặc dù trong Phạn ngữ sati có nghĩa là ghi nhớ nhưng khi nói về thuộc tánh có nghĩa là “có mặt với hiện tại” (một cách thú vị, về ý nghĩa nầy lại gần với cách giải chiết tự của chữ Hán). Đó là trạng thái tỉnh táo, để tâm vào cảnh hiện tại để tâm không giao động. Nhờ chất liệu nầy tạo nên ấn tượng sâu đậm, rồi từ đó, sanh ra trí nhớ. Như vậy trong cách nói vĩ mô niệm là nhân tố tiên khởi của trí nhớ chứ không phải là trí nhớ.

Thuộc tánh niệm trong tâm tịnh hảo có thể hiểu như cái neo của thuyền được thả xuống để không bị trôi giạt. Thuộc tánh niệm có chức năng là khiến các danh pháp đồng sanh không bềnh bồng giao động mà có mặt với hiện tại. Hay cũng có thể thí dụ thuộc tánh niệm giống như vị chủ toạ trong phiên họp có bổn phận làm cho buổi hội thảo không đi lạc đề hay làm hỏng nghị trình đã quy định.

Niệm theo cách nói đại loại

Sự bám sát với thực tại khiến niệm trở nên quan trọng trong pháp tu tứ niệm  và các pháp tuỳ niệm (anusati). Nên lưu ý là trên phương diện thực hành niệm được hướng dẫn với nhiều cách khác nhau. Trong số những cách niệm đôi khi có cách tập trung bền bĩ trên một đề mục thì là cách tu tập định hơn là niệm. Trong phạm vi bài học về thuộc tánh niệm nên chú tâm vào cách hiểu vĩ mô hơn là cách nói đại loại. Một thí dụ là trong khi hành thiền nếu để tâm suy nghĩ về việc chuẩn bị cơm trưa cho các thiền sinh thì được xem là “thất niệm” nhưng nói theo Thắng Pháp thì thiện tâm nào cũng có thuộc tánh niệm.

Trong Kinh Tạng có nói về tà niệm đối lập với chánh niệm. Trong Thắng Pháp Tạng thuộc tánh niệm chỉ có mặt trong các tâm tịnh hảo. Chỉ riêng với điều nầy cho thấy ý nghĩa của niệm cần được hiểu rõ theo ngữ cảnh và cách dùng. Đây là điểm đặc biệt tế nhị mà người học không thể không lưu tâm.

Bài học ngày 22.12. 2022

Thuộc Tánh Tàm (hiricetasika) & Thuộc Tánh Quý (ottappa)

Thuộc tánh tàm (hiricetasika) và Thuộc tánh quý (ottappa) là hai trong số 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành có nghĩa là có mặt trong tất cả tâm tịnh hảo. Hai thuộc tánh nầy luôn đi chung với nhau như cặp bài trùng dù trong Kinh Tạng hay Thắng Pháp Tạng nên giảng chung trong một bài học. Hơn nữa, cần giảng chung hai pháp để có thể thấy rõ sự khác biệt giữa pháp nầy so với pháp kia.

Hiểu chính xác tàm và quý là gì?

Trong cách định nghĩa thường gặp ở kinh sách Phật giáo thì tàm là hổ thẹn tội lỗi và quý là ghê sợ tội lỗi. Định nghĩa như vậy thì tàm và quý là nhận thức rất cao rộng trên phương diện luân lý đạo đức khó có thể hiểu là hai pháp nầy hiện diện như là hai trong số nhiều thuộc tánh của một sát na tâm. Ngay cả  sanh khởi và hiện hữu đồng thời của ghê sợ và hỗ thẹn cũng khó tưởng tượng vì có vẻ như hai ý niệm khác nhau. Để hiểu rõ cần được nhận thức với nhiều phương diện.

 Tàm và quý hiểu theo cách hiểu vĩ mô

Hiểu tàm và quý là thuộc tánh của tâm có nghĩa là không chấp nhận tiêu cực và là thái độ sống có nguyên tắc, dù nguyên tắc đó có thể khác biệt giữa người nầy và người khác. Và thái độ độ nầy có thể tàng ẩn một cách rất tế nhị. Thí dụ một người được giáo dục từ nhỏ là không dùng ngôn ngữ thô tục nên khi lớn lên trong cuộc sống hằng ngày trong lời chào hỏi hay phát biểu thì ngôn phong tao nhã. Mặc dù không nói rõ nhưng mỗi lời nói đều có tiềm tàng nguyên tắc không nói những chữ bất nhã.

Tàm được hiểu là thái độ tự trọng của bản thân.

Quý được hiểu là sự tôn trọng sự khiển trách từ người khác.

Hai trạng thái nầy có thể tồn tại như hai thuộc tánh tế nhị khó nhận rõ vì có mặt ở trong tất cả tâm tịnh hảo. Thí dụ như một người vốn “sống đàng hoàng” thì dù sống một mình nên rừng sâu một mình thì cử chỉ và hành động vẫn đàng hoàng dù không nghĩ có ai chung quanh.

Nên lưu ý chữ quý ở đây là là sợ. Có hai từ mang ý nghĩa sợ trong chữ Hán mà cách phát âm gần giống nhau là quý 愧và úy 畏. Trong cách dùng phổ thông của Phật học thì quý chỉ cho sợ điều sai quấy (ottapa) trong lúc uý chỉ cho sự sợ hãi vì không đủ can đảm hay sức mạnh (bhaya) 

Tàm và quý hiểu theo cách nói đại loại

Tàm và quý trong cách nói đại loại được hiểu như lương tâm hay lương thức. Đức Phật dạy đây là hai pháp hộ trì thế gian. Thí dụ trong văn hoá loài người hoặc bản năng của một số loài vật thì không chấp nhận sự giao phối giữa mẹ và con.  Điều nào tạo nên một ranh giới tự nhiên trong sự quan hệ với giới tính. Chính những nguyên tắc về những gì có thể làm và không nên làm tạo thành văn hoá, trật tự, luân lý đạo đức. Không có tàm quý thì chúng sanh bất chấp và sống với bản năng vô luân. Trong khi với cách nói vĩ mô thì tàm và quý như nguyên tắc tàng ẩn thì trong cách nói đại loại hai thuộc tánh nầy là sự biểu hiện thí dụ thái độ không chấp nhận hành động sai quấy hay biết hối lỗi khi làm điều ác.

Nói về sự khác biệt giữa tàm và quý các vị giảng sư thường dùng thí dụ tàm như một người quen sống sạch sẽ mà bổng nhiên thấy áo mặc bị một vết bẩn thấy khó chịu. Còn quý như một người biết lửa nguy hiểm nên cẩn thận với lửa. Hai thí dụ nầy tạo nên hiểu làm là tàm là sự xấu hổ khi đã làm việc quấy còn quý là ý thức được nguy hiểm của điều sai quấy chưa làm nên quan ngại. Ở đây không có nghĩa như vậy. Một bậc đoạn tận lậu hoặc không làm việc ác quấy và cũng không lo sợ mình sẽ làm việc ác quấy nhưng vẫn có tàm quý. Hai pháp nầy nên được hiểu là thái độ sống có nguyên tắc đối với cái nên làm và nên tránh. Cũng có thể hiểu là lòng tự trọng đối với bản thân và sự tôn trọng đối với cái nhìn của người khác.

Vai trò của tàm và quý trong các tâm tịnh hảo

Hai thuộc tánh tàm và quý trong các tâm tịnh hảo là sự bảo đảm các pháp đồng sanh không vượt khỏi nguyên tắc tốt đẹp giống uỷ ban giám luật (ethics committee) trong quốc hội có trách nhiệm giám thị các nghị viên không vi phạm những luật định căn bản.

Bài học ngày 5.1.2023

Thuộc Tánh Vô Tham (alobhacetasika)

Vô tham ở đây không chỉ đơn giản là không có tham. Có những tâm không có thuộc tánh tham nhưng không gọi là tâm tịnh hảo vì thiếu thuộc tánh vô tham như các tâm vô nhân. Vô tham là một trong sáu căn cội tâm lý tạo nên hiện tượng bất thiện và tịnh hảo. Sáu căn cội nầy – hay gọi chính xác là 6 nhân – có ảnh hưởng lớn đối với tâm ý. Cách dùng từ vô tham – alobha - rất tốt để không nói quá nhưng lại nói thiếu. Không phải khi có tâm vô tham có nghĩa là không bám víu mà còn có nghĩa xa hơn là từ bỏ, xả ly. Cũng như những thuộc tánh tịnh hảo khác, thuộc tánh vô tham cần hiểu theo nhiều khía cạnh.

Trên phương diện vĩ mô vô tham là chất liệu khiến tâm không vướng mắc. Thử dùng hai thí dụ sau để hiểu về ý nghĩa của vô tham. Có lúc người ta chế tạo điện thoại cầm tay tuy mẫu mã đẹp nhưng lại bi lỗi là thường lưu lại vân tay hay các vết bẩn.  Giữ lại vết bẩn được thí dụ cho thuộc tánh tham. Có những kim loai không không lưu lại vết bẩn. Không vướng mắc chưa hẳn là vô tham . Thí dụ như lá sen gặp sương sớm hay mưa chiều không bị thấm ướt vì có lớp bao trơn láng (waxy coat). Lớp bao đó có thể thí dụ cho thuộc tánh vô tham. Như vậy vô tham ở đây không đơn thuần là không dính mắc mà là chất liệu khiến tâm không dính mắc.

Trong cách nói đại loại, nếu vô tham được tu tập hay biểu hiện rõ nét thì trở thành quảng đại, hào phóng, xả tài, bố thí. Một người không lấy của phi nghĩa cũng là vô tham. Chia sẻ những gì mình có cũng là vô tham. Một bậc quân vương từ bỏ ngai vàng đi xuất gia cũng là vô tham. Một thiền giả chứng sơ thiền rồi có thể tiếp tục bỏ trạng thái sơ thiền để tiến lên nhị thiền cũng là vô tham.  Một bậc tu chứng tuệ giác nhìn thấy thấy tất cả sở đắc, sở chứng “không phải là cûa ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta” cũng là vô tham. Với cuộc  đời sống hằng ngày, thuộc tánh vô tham trong những tâm tịnh hảo thường đơn giản là trạng thái không vướng mắc. Nếu có vướng mắc thì không thể đi tới một cách thanh thản, nhẹ nhàng. Có thể thể hiểu là trạng thái “không nặng lòng”.

Có thể hiểu thuộc tánh vô tham khiến cho tâm ý tiếp tục đi tới một cách trơn tru mà không bị vướng mắc. Thí dụ như một nhóm học sinh đi du ngoạn có một người đi theo chịu trách nhiệm nhắc cả nhóm đi đến nơi về tới chốn chứ không vì một vài nơi quá đẹp quá vui mà quên cả đường về.

Bài học ngày 13.1.2023

Thuộc Tánh Vô Sân (adosacetasika)

Cũng như thuộc tánh vô tham, vô sân là một trong ba căn cội của thiện – trên bình diện rộng hơn là của tất cả tâm tịnh hảo.  Chính vì thế cần hiểu rõ đặc tính và ảnh hưởng của thuộc tánh nầy đối với các danh pháp đồng sanh.

Chữ vô sân ở đây không chỉ đơn giản là không có sân mà là trạng thái hoà dịu mát mẽ đối lập với sân. Vô sân giống như cơ phận quạt lạnh (cooling fan) trong cái máy có chức năng làm mát máy. Nên hiểu thuộc tánh nầy không chỉ làm cho tâm không nóng nảy mà còn mang lại sự dễ chịu đối với cảnh.

Thuộc tánh sân khiến cho các pháp đồng sanh được an hoà. Sự thanh thản không nhiệt não của danh pháp là biểu hiện của thuộc tánh vô sân. Có thể thí dụ như gia tộc trên thuận dưới hoà nhờ có một người đức độ thu phục nhân tâm. Như đã đề cập trên, vô sân là một trong ba căn cội của thiện pháp. Nếu được phát triển mạnh trở thành đức từ mẫn, an nhẫn và nhiều đức tánh khác. Trong ý nghĩa của một thuộc tánh, vô sân tạo nên sự hoà dịu không những chỉ đối với trường hợp bình thường mà ngay cả khi có những nghịch cảnh hay chi phối bất ổn. Có thể hiểu thuộc tánh vô sân như lớp cách nhiệt (insulation) là sự ngăn chận  nhiệt độ quá nóng  chứ không phải là sự mát dịu do không gặp nghịch cảnh hay bản chất không nhiệt não. Vai trò nầy cần thiết cho các tâm tịnh hảo được tồn tại không bị nóng bức.

Có thể nói trên phương diện rộng thì vô sân được đề cập với rất nhiều hình thái trong kinh điển. Phước do thiện nghiệp quá khứ cũng tạo nên cảnh khả ái, khả ý vì thế tâm vô sân. Người sanh ra với tâm tục sinh có thuộc tánh vô sân hoặc thọ hỷ thì ảnh hưởng đời sống hằng ngày được thanh thản, vui vẻ  do vậy giấc ngủ với tiềm thức có thuộc tánh vô sân khiến người ta lấy lại sự thanh thản. Vô sân cũng có thể phát triển thành tâm từ khi lấy chúng sanh làm đối tượng như là sự biểu lộ của từ mẫn, nhân ái. Vô sân cũng có thể là biểu hiện an nhẫn trước nghịch cảnh nhờ khéo tác ý (yoniso manasikāra).

Đối diện với nghịch cảnh là điều tự nhiên phải có trong cuộc sống. Trong Phật học sự khó chịu của tâm được gọi là thọ ưu. Sự khó chịu của thân gọi là thọ khổ. Tho ưu là sân trong Thắng pháp nhưng không nhất thiết là sân trong cách nói đại loại. Thí dụ một người bị người khác công kích dù khó chịu nhưng tự chế không phản ứng sân hận thì được xem là nhẫn nại bên ngoài nhưng trong lòng vẫn còn bị sân chi phối vì có thọ ưu. Và cũng nên hiểu điều nầy: chịu khó khác với khó chịu.

Có nhiều trường hợp vô sân và từ mẫn được hiểu là đồng nghĩa. Từ mẫn luôn là vô sân. Nhưng tâm từ lấy chúng sanh làm đối tượng do vậy dù tâm từ là vô sân nhưng vô sân không hẳn là tâm từ. (Điều nầy khác với vô si là sự không mê mờ lại đồng nghĩa với trí tuệ sáng suốt)

Bài học ngày 27.1.2023

Thuộc Tánh Quân Bình (tatramajjhattatā)

Thuật ngữ tatramajjhattatā có nghĩa là “ở đó ngay chính giữa” chỉ cho sự cân bằng, trung lập, trung hoà, khách quan. Những bản kinh xưa thường dùng thí dụ người điều khiển xe song mã khéo léo khiến cho hai con ngựa luôn chạy song song không trước không sau. Đây là thuộc tánh dễ gây nhiều ngộ nhận trên cả hai phương diện ngữ và nghĩa. Hầu hết các các giáo trình Thắng Pháp tiếng Việt thường được gọi là hành xả. Người học cần nắm rõ ngữ cảnh khi muốn định nghĩa đích xác từ vựng nầy.

Tương tự nhưng những người biểu diễn xiếc đi từ điểm A sang điểm B trên sợi dây treo cần sự quân bình không thiên lệch. Nếu sức nặng nghiêng một bên sẽ bị rơi xuống. Sự tồn tại tốt đẹp của các tâm tịnh hảo luôn cần sự cân bằng. Thiếu đặc tính nầy tâm thức rơi vào tình trạng xáo trộn.

Sự quân bình luôn là yếu tố cần thiết để đi tới. Trong một tổ chức, một gia đình có sự thiên vị thì thường tạo nên xáo trộn. Một chiếc xe bốn bánh nếu không cân bằng sẽ nhanh chóng hỏng hóc. Khách quan, vô tư, không thiên vị là đặc tánh của thuộc tánh quân bình.

Trong cách nói đại loại tatramajjhattatā được biết đến với tên gọi upekkhā thường được dịch là hành xả như xả trong bốn vô lượng hay hành xả trong các pháp ba la mật. Sự quân bình nếu tu tập tinh luyện tạo nên đức tánh khách quan trong cái nhìn, sự công bằng trong cách hành xử, sự an nhiên không cảm xúc của tâm.

Nếu nhận dạng trong đời sống hằng ngày thì sự quân bình chính là tánh cách chừng mực; ở mức độ sâu kín và tinh luyện nội tâm chính là những trạng thái xả niệm thanh tịnh của thiền định

Như đã đề cập tatramajjhattatā (quân bình, trung lập) là cách nói vĩ mô của upekkhā (hành xả). Đa số các bản dịch đều dùng chữ “hành xả” để dịch cả hai từ. Có rất nhiều trường hợp tâm tịnh hảo có sự quân bình nhưng không nhất thiết là an nhiên. Ba trạng thái từ, bi và hỷ đều có tatramajjhattatā  nhưng không phải là upekkhā.

Người học Phật cần hết sức cẩn thận giữa thọ xả và hành xả . Thọ là trạng thái không vui không buồn của cảm xúc có khi tạo nên sự lãnh đạm. Hành xả là sự quân bình khách quan, không thiên vị.   Chử xả trong “từ, bi , hỷ, xả” chỉ cho hành xả. Và xả vô lượng tâm lấy chúng sanh làm đối tượng.

Bài học ngày 10.2.2023

Sáu Cặp Thuộc Tánh: Tĩnh, Khinh, Nhu, Thích, Thuần, Trực

Sáu cặp thuộc tánh tịnh hảo biến hành tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm cần được nhìn thuần Thắng Pháp hơn là hiểu theo cách nói đại loại. 

Trước khi đi vào chi tiết của sáu cặp thuộc tánh kể trên cần lưu ý một vài điểm sau:

Danh pháp là sự hỗn hợp của tâm và các thuộc tánh

Trong ngôn ngữ của Thắng Pháp Tạng tâm thức và vật chất được đề cập đến với tên gọi danh (nāma) và sắc (rūpa). Danh hay nàma – đôi khi cũng gọi là danh pháp – bao gồm tâm và các thuộc tánh. Tất cả tâm đều đi chung với thuộc tánh. Sự kết hợp giữa tâm và các thuộc tánh tạo nên nhiều biến thể từ một cho tới 121 thứ tâm. Người học Thắng Pháp cần thường xuyên lưu ý về sự có mặt của các thuộc tánh trong mỗi thứ tâm. 6 cặp thuộc tánh tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm nằm trong nhóm thuộc tánh tịnh hảo biến hành (tổng cộng có 19 thuộc tánh) có nghĩa là đã gọi là tâm tịnh hảo thì không thể thiếu 6 cặp thuộc tánh nầy.

Một sát na tâm thức - gồm tâm và thuộc tánh - vận hành như bộ máy

Cái khó khi học Thắng Pháp Tạng với nhiều người là tánh cách hỗn hợp trong tâm pháp. Ở Kinh Tạng, thường nói theo cách đại loại, thì những pháp như tín, niệm, tàm, quý … được hiểu như những trạng thái riêng biệt trong lúc Thắng Pháp Tạng dạy tâm thức, dù là một sát na, cũng bao gồm thọ, tưởng, hành, thức. Do vậy luôn luôn cần nhớ rằng các cetasika là những thuộc tánh (attribute hay factor) chứ không phải là những đơn vị (unit). Thí dụ như nói đến sự vận hành của máy bay người ta nói đến động khí học không phải chỉ có máy phản lực hay chong chóng mà là một sự kết hợp đầy đủ của thân, cánh, đuôi, máy….6 cặp thuộc tánh tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm không thể hiểu theo cách riêng lẻ mà phải hiểu theo cách tổng hợp.

Có những ảnh hưởng riêng biệt đối với tâm và các thuộc tánh

Nói về danh pháp hay tâm thức thì Thắng Pháp thường đề cập tâm (citta) và các thuộc tánh (cetasika). Theo cách nói ngũ uẩn thì tâm thuộc thức uẩn và các thuộc tánh là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Dù bốn danh uẩn đồng sanh, đồng diệt, đồng nương một căn, đồng biết một cảnh nhưng có những trường hợp chịu ảnh hưởng khác nhau. Trước đây trong phần nói về những thuộc tánh bất thiện có hai thuộc tánh được nói tới là hôn trầm (thina) và thuỵ miên (middha). Cả hai đều là trạng thái trì trệ, dã dượi nhưng hôn trầm chi phối tâm (thức uẩn) còn thuỵ miên chi phối các thuộc tánh (thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn). Khái niệm nầy không tìm thấy trong Kinh Tạng. 6 cặp thuộc tánh tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm cũng tương tự như vậy. Trong từng cặp có một thuộc tánh chi phối thức uẩn và một chi phối ba uẩn còn lại.

Đừng để từ ngữ làm rối trí

Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma) có cả rừng ngôn từ và ý niệm xa lạ. Người học cần có thái độ “chính danh”: từ ngữ đó xài ở đâu, đi với pháp gì.. để không bị lẫn lộn. Trong trường hợp 6 cặp thuộc tánh tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm thì chữ thân và tâm không được hiểu theo cách thường được hiểu.

Thân – kāya - ở đây chỉ cho các thuộc tánh (cetasika) hay ba uẩn thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Tâm – citta - chỉ cho thức uẩn. (ngay cả khi học Thắng Pháp, chữ tâm có khi được nói riêng lẻ nhưng thường là tổng hợp của cả bốn danh uẩn. Thí dụ nói tâm tham thì gồm tâm (sự biết cảnh của thức uẩn) và một số các thuộc tánh tợ tha, bất thiện cộng chung lại).

Trong tất cả ngôn ngữ liên hệ tới môn học nầy dùng Việt ngữ, Hán ngữ, hay Phạm ngữ dù xưa cũng như nay, những thuật ngữ Thắng Pháp Tạng đều được định chế để diễn đạt ý nghĩa đặt biệt nào đó vốn không có trong Kinh Tạng hay thường thức. Chính vì vậy người học nếu không nhận rõ dễ dàng bối rối và hiểu lầm.

Thuộc Tánh Tĩnh Tánh (Kāyapassaddhi cetasika)

& Thuộc Tánh Tĩnh Tâm (Cittapassaddhicetasika)

Tĩnh – passadhi - là trạng thái lắng đọng, không giao động. Tĩnh tánh và tĩnh tâm là hai chất liệu khiến danh pháp xua tan những quấy nhiễu. Đây là trạng thái đối lập với phóng dật (giao động hay trạo cữ) và hối quá. Tĩnh ở đây không có nghĩa là không lao xao mà là khả năng xua tan những quấy động.

Trên phương diện vĩ mô, hai thuộc tánh tĩnh tánh và tĩnh tâm có vai trò khiến cho bốn danh pháp thọ, tưởng, hành, thức không bị chi phối bỡi những quấy động. Thí dụ như trong một ngôi nhà có đông người trong đó có một người điềm đạm tạo nên ảnh hưởng giúp cả nhà xua tan những lao xao, xáo trộn nhờ vậy được an bình.

Trong Hán ngữ chữ 静 có thể đọc cả với hai âm “tịnh” và “tĩnh”.  Ngài Tịnh Sự chọn chữ tịnh nên hai thuộc tánh  kāyapassaddhi và cittapassaddhi được dịch là tịnh thân và tịnh tâm. Trong giáo trình nầy chọn chữ “tĩnh tánh và tĩnh tâm” vì chữ tịnh có thể hiểu là thanh tịnh, trong sạch (visuddhi) trong lúc ở đây chữ passaddhi có nghĩa là yên tĩnh.

Thuộc Tánh Khinh Tánh (Kāyalahutā cetasika) & Thuộc Tánh Khinh Tâm (Cittalahutā cetasika)

Trong tất cả những gì thuộc danh pháp thì hai thuộc tánh khinh tánh (kāyalahutā cetasika) và khinh tâm (cittalahutā cetasika) tương đối khó hiểu. Khinh nghĩa là nhẹ. Nói tới nhẹ, nặng là nói tới trọng lượng - một ý niệm thuộc vật lý hơn là tâm lý. Sự nhẹ nhàng ở đây cũng là pháp thực tính chứ không phải là cách nói ví von do vậy cần được suy nghiệm để hiểu chính xác đặc tánh và vai trò của thuộc tánh nầy.

Khinh tánh (kāyalahutā cetasika) và khinh tâm (cittalahutā cetasika) là hai thuộc tánh có chức năng làm nhẹ nhàng các danh pháp đồng sanh. Sự nhẹ nhàng ở đây có thể hiểu như sự rỗng rang, nhẹ tênh của tâm thức. Chính sự nhẹ nhàng nầy tạo nên tác dụng linh hoạt, không trì trệ của tâm.

Để hiểu khinh tánh, khinh tâm trên phương diện vĩ mô cần hiểu trạng thái đối lập của thuộc tánh nầy là hôn trầm và thuỵ miên. Đó là hai trạng trái khiến tâm ý nặng nề, mất đi khả năng hoạt dụng. Sự trĩu nặng hay trì trệ của thân hoặc tâm có thể cảm nhận với sự thiếu linh hoạt, nhạy bén, hân hoan. Trái lại khi tâm nhẹ nhàng cảm giác thư thới thì tạo thành sự khinh khoái giống như một người trả hết nợ hay tâm không còn bị vướng vấp những phiền luỵ vì lý do gì đó.

Thuộc Tánh Nhu Tánh (Kāyamudutā) & Thuộc Tánh Nhu Tâm (Cittamudutā) 

Nhu có nghĩa là mềm dẻo. Đây là trạng thái đối lập với cứng nhắc, thiếu linh động, thiếu uyển chuyển. Sự mềm dẻo nầy giống như ý nghĩa của câu ngạn ngữ “răng cứng thì gãy, lưỡi mềm thì còn” hoặc như câu “nhu thắng cương, nhược thắng cường”. Trong đạo học của Trung Hoa thì chữ nhu được xem là đặc tánh của người quân tử có hiểu biết.

Trạng thái đối lập của nhu tánh, nhu tâm là tà kiến và ngã mạn. Cả hai pháp đối lập đều mang đặc tính cứng nhắc, cố chấp, cực đoan. Nhu tánh nhu tâm trái lại là sự mềm mỏng, cởi mở. Điều nầy khiến cho các pháp đồng sanh trở nên linh hoạt. Hai thuộc tánh nầy giúp cho những tâm pháp đồng sanh không rơi vào sự cang ngạnh, cực đoan giống nhưng trong một gia đình có người luôn biết dùng lời từ tốn, phải chăng để hoá giải các cực đoan của những thành viên.

Thuộc Tánh Thích Tánh (Kāyakammaññatā) & Thích Tâm (Cittakammaññatā) 

Sự thích nghi ở đây không phải là một thái độ mà là chất liệu khiến tâm pháp hoà quyện với thực tại. Nên lưu ý thuộc tánh vô sân là sự hoà dịu mát mẻ đối với nghịch cảnh còn nhu tánh, nhu tâm là sự mềm dẻo trong lúc thích tánh, thích tâm là tố chất khiến bốn danh uẩn thích nghi trong mọi trường hợp nghịch cũng như thuận ở nhiều mức độ khác nhau.

Thích nghi là khả năng tồn tại trước những khác biệt như câu “khi ở La Mã thì làm như người La Mã”. Sự thích nghi không có nghĩa là chỉ đối với nghịch cảnh mà còn đối với thuận cảnh. Hoá thân không có nghĩa là vong thân. Sự sống còn luôn đòi hỏi khả năng thích ứng trong mọi tình huống. Có thể thí dụ như một người tạo lập một cửa hàng buôn bán không phải chỉ buôn bán những thứ mình thích mà còn tìm cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng vốn thay đổi thường xuyên. Khả năng thích nghi nầy giống như trình bày về sự biến dạng để tồn tại theo môi trường theo thuyết tiến hoá của Charles Darwin. Chính khía cạnh thích nghi nầy tạo nên sự hoà quyện của tất cả tâm tịnh hảo.

Thuộc Tánh Thuần Tánh (kāyapāguññatā) & Thuần Tâm (cittapāguññatā)

Thuần – pāguññatā - chỉ cho sự trưởng thành, tinh luyện, chính chắn. Sự chín chắn ở đây được tạo nên bởi chất liệu xua tan những phân vân, thiếu tin tưởng, thiếu ổn định vì non nớt. Có thể lấy một thí dụ là một người có bản lãnh thật sự thì dù trong một hoàn cảnh xa lạ hay giải quyến một vấn đề mới lạ vẫn có phong độ chững chạc của người có nội hàm.

Thuật ngữ pāguññatā  từ paguṇā cũng có nghĩa là sự thông thạo hay học hiểu thấu đáo có thể khiến người học lầm tưởng là một thứ trí tuệ. Trong ý nghĩa của hai thuộc tánh nầy chỉ đơn thuần là thuần thục, thành thạo, quen thuộc. Thí dụ một người giữ vai trò gì đó trong công ty có thể thấy thoải mái, lanh lẹ trong công việc chỉ vì quá quen thuộc chứ không nhất thiết là do quá giỏi hay quá thông thái.

Cũng như vật lý, tâm lý có mức độ khoẻ khoắn, lành mạnh đôi khi rất khó nhận diện nhưng có thể hình dung là tất cả tâm tịnh hảo đều sự sự vững chãi nhất định. Thí dụ như một người xuất hiện trước đám đông nếu đó là người có khả năng, trình độ thì dù là hội chúng xa lạ thì vẫn có thần thái của một người tự tin. Tâm tịnh hảo không thể hiện hữu trong sự non nớt, giao động, nghi hoặc.

Thuộc Tánh Trực Tánh (kāyujukatā) & Trực Tâm (cittujukatā)

Hai thuộc tánh nầy được Ngài Tịnh Sự dịch là chánh thân và chánh tâm. Ý nghĩa thì không khó hiểu nhưng về cách dùng từ thì cần nhiều cân nhắc. Đối với những người đã quen với chữ dịch trước kia thì ngay cả âm đọc cũng khó thoải mái.

Từ ngữ ujukatā có nghĩa là thẳng thắn, chánh trực, không quanh co. Theo cách nói theo bình diện rộng thì không cần bàn cãi nhiều nhưng khi nói đây là một thuộc tánh tịnh hảo biến hành thì có vẻ như khó hiểu. Ngay cả khi dùng chữ “chánh” được hiểu như chơn chánh thì lại càng khó hiểu. Người học cần có gắng phân biệt giữa trạng thái vĩ mô và cách nói theo bình diện rộng.  Ở đây nên hiểu là sự trực nhận, đi thẳng vào vấn đề, xữ lý trực tiếp hơn là quan niệm chánh tà.

Trực tánh, trực tâm  là hai tố chất khiến tâm pháp mang tánh trực tiếp, thẳng thắn, không quanh co. Có thể thí dụ như trong thời đại người ta rất bận rộn mà thì giờ lại hạn chế thì trong cách nói hay biểu đạt không dài dòng, lung khởi mà thường đi thẳng vào cái gì muốn nói một cách chính xác, trực tiếp, thẳng thừng. Tâm pháp thiếu tố chất nầy thì quanh co, lấp lửng, không đối diện trực tiếp được. Có thể nói giống như vai trò của một người có trách nhiệm điều hành một công ty cần dám nhìn thẳng vào những vấn đề cần cải thiện chứ không phải là che dấu cái xấu hay chỉ biết ca ngợi cái tốt.

Tỳ kheo Giác Đẳng

@@@@@
I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE

-   Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)

-      Hi-Fi là từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm thanh gốc.

-      Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm thanh cùng lúc’

     Minh hoạ về Multichannel

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Multichannel.png

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:

-   TT Giác Đẳng với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước. (Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc tính năng nầy).

-   Các MC có thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.

-   Ví dụ: TT Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ động bật micro mà không cần chờ MC ‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không or phải cho biết tín hiệu’.

-   Các MC là “admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm micro thì dùng chức năng (hạn chế or bỏ qua thành viên).