|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 27, tháng 01, 2023 MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNGTHẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)
IV.(1) Saddhā, (2) sati, (3) hiri, (4) ottappaṁ, (5) alobho, (6) adoso, (7) tatramajjhattatā, (8) kāyapassaddhi, (9) cittapassaddhi, (10) kāyalahutā, (11) cittalahutā, (12) kāyamudutā, (13) cittamudutā, (14) kāyakammaññatā, (15) cittakammaññatā, (16) kāyapāguññatā, (17) cittapāguññatā, (18) kāyujjukatā, (19) cittujjukatā cā ti ekūnavīsat’ime cetasikā sobhanasādhāraṇā nāma.
19 thuộc tánh gọi là tịnh hảo
biến hành gồm có: Tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, quân
bình, tịnh tánh, tịnh tâm, khinh tánh, khinh tâm, nhu tánh,
nhu tâm, thích tánh, thích tâm, thuần tánh, thuần tâm, chánh
tâm, chánh tánh. sati = niệm hiri = tàm ottappaṁ = quý alobho = vô tham adoso = vô sân tatramajjhattatā = quân bình kāyapassaddhi = tĩnh tánh cittapassaddhi = tình tâm kāyalahutā = khinh tánh cittalahutā = khinh tâm kāyamudutā = nhu tánh cittamudutā =nhu tâm kāyakammaññatā = thích tánh cittakammaññatā = thích tâm kāyapāguññatā = thuần tánh cittapāguññatā = thuần tâm kāyujjukatā = chánh tánh cittujjukatā = chánh tâm ekūnavīsati = 19 cetasikā sobhanasādhāraṇā = thuộc tánh tịnh hảo biến hành
Chú thích
TỔNG QUAN
Trong những nhóm thuộc tánh, nhóm
thuộc tánh tịnh hảo biến hành dễ tạo nên nhiều ngộ nhận. Cần
phân biệt rõ đây là những thuộc tánh chứ không phải là trạng
thái tâm hay sở hành.
Tịnh hảo
- sobhana- trong Thắng Pháp nghĩa là tốt bao gồm tốt
nhưng chưa hẳn đủ để gọi là thiện; mà tốt cũng có thể là
vượt trên cả cái thiện. Nói cách khác cái tốt ở đây có thể
là trạng thái của một người đang làm việc với sự khéo léo
của tay nghề; hay một người hảo tâm giúp đở những kẻ đau
khổ; cũng có thể là cái tốt trong tâm tư một vị A la hán đã
vượt khỏi thiện ác của nhân sinh. Như vậy phải hiểu tịnh hảo
là cái tốt phổ quát chứ không là cái thiện thường được hiểu
theo lý giải thông thường.
Thuật ngữ sobhana được Ngài Tịnh Sự
dịch là Tịnh hảo và Hoà thượng Thích Minh Châu dịch là tịnh
quang. Chữ tịnh hảo lấy theo nghĩa; chữ tịnh quang lấy theo
ngữ. Đẹp là vì tốt gọi là tịnh hảo. Đẹp vì sáng gọi là tịnh
quang. Cả hai từ vựng nầy đều mới trong thuật ngữ Phật học
Hán Việt.
Tịnh hảo biến hành có nghĩa là
những thuộc tánh có mặt trong tất cả tâm tịnh hảo (tức là
những trừ ra 12 tâm bất thiện và 18 tâm vô nhân).
Có bốn nhóm thuộc tánh tịnh hảo:
nhóm tịnh hảo biến hành gồm 19 thuộc tánh, nhóm giới phần
gồm 3 thuộc tánh, nhóm vô lượng phần gồm 2 thuộc tánh,
“nhóm’ tuệ phần chỉ có 1 thuộc tánh.
Từ định nghĩa vĩ mô đến sự biểu
hiện nổi trội
Một điểm được nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi đề
cập đến ý nghĩa các thuộc tánh là cần hiểu theo cách nói vĩ
mô. Những trạng thái như tín, niệm, tàm, quý … khi được định
nghĩa thường là theo cách nói đại loại nhưng tín là đức tin
ở Tam Bảo, nghiệp quả nhưng khi nói tín là thuộc tánh thì
đơn thuần là niềm tin có thể ở mức độ phôi thai nhất. Thí dụ
trong hạt cải nhỏ đã có những yếu tố quyết định về màu sắc,
hương vị, dáng dấp của cây cải sau nầy. Giai đoạn phôi thai
đó rất khó tưởng tượng như một công thức bí mật cho đến sau
nầy mọi thành cây cải lớn theo thời gian mới phân định rõ.
Nên hiểu là những thuộc tánh khi lớn mạnh có thể là những
thiện pháp nhưng khi ở giai đoạn phôi thai thì chỉ là những
tố chất vi tế.
Có những phối ngẩu vượt ngoài sự
tưởng tượng thông thường
Trong cách hiểu bình thường thì tín
và niệm, tàm và quý, vô tham và vô sân thường được hiểu rất
riêng biệt. Thế nhưng khi là thuộc tánh thì những tố chất
nầy lại hoà quyện nhau tạo thành một thứ tâm đẹp. Đây là
thách thức lớn cho người quen học Phật qua Kinh Tạng. Cứ lấy
thí dụ đã từng đề cập nhiều lần: Màu gốc chỉ có bốn là xanh,
vàng, đỏ, trắng. Nhưng lấy những màu nầy pha lại sẽ tạo nên
những màu tím, màu cam..v.v.. mà một người không học hội hoạ
khó tưởng tượng được.
Cái tốt căn cội khác với cái tốt
hành động
Một khía cạnh khác tương đối khó
hiểu là sự khác biệt giữa hành động thiện và thuộc tánh tịnh
hảo. Hành động là sự biểu lộ hay bộc phát vốn là sự kết hợp
của nhiều nhân tố. Còn thuộc tánh chỉ là bản chất căn cội.
Thí dụ trong hành động thì sự tu giới, tu định, tu tuệ riêng
biệt nhưng khi nhìn từ gốc độ căn cội thì 8 chi đạo có thể
pháp sanh cùng lúc trong tâm đạo (…). Không nên hiểu những
pháp trong thuộc tánh như tín, niệm, tàm, quý … là những
thiện pháp được thể hiện qua thân, khẩu, ý vốn được nói
nhiều trong Kinh Tạng.
Nên hiểu với sự phân biệt giữa tâm
và thuộc tánh.
Nói đến tâm là là tổng hợp của bốn danh uẩn: thọ, tưởng,
hành, thức. Nói đến thuộc tánh thì nói riêng lẻ về thọ uẩn,
tưởng uẩn, hành uẩn. Giống như nói nồi canh chua khác với me
chua. Thuộc tánh tín nên hiểu khác với tín tâm. Không phân
định tạo nên sự lầm lẫn mà ngay cả các vị giảng sư cũng
thường mắc phải. Thắng pháp nếu hiểu “luông tuồng” dễ sanh
ngộ nhận.
Những tố chất làm tốt nội vụ
Một khía cạnh thú vị khác về các
thuộc tánh tịnh hảo là có những thuộc tánh đóng “vai trò nội
vụ” tức là làm tốt cho các tâm và thuộc tánh đồng sanh. Đó
là những thuộc tánh tịnh tánh, tịnh tâm, khinh tánh, khinh
tâm, nhu tánh, nhu tâm, thích tánh, thích tâm, thuần tánh,
thuần tâm, chánh tánh, chánh tâm. Những thuộc tánh nầy khi
đào sâu sẽ cho thấy một khía cạnh rất lợi lạc về bài học của
pháp tự nhiên mà ở đây được Thắng Pháp trình bày.
Lưu ý: Chánh văn của nguyên tác chỉ
nêu 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành trong một bảng liệt kê
rất ngắn gọn như mở đầu bài học. Phần chú thích sẽ đi sâu
vào chi tiết nên tương đối dài và được giảng trong nhiều
ngày.
Bài học ngày 9.12.2022
Thuộc Tánh Tín (Saddhācetasika)
Thuộc tánh tín (Saddhācetasika) là một trong 19 thuộc tánh
tịnh hảo biến hành có nghĩa là có mặt trong tất cả tâm tịnh
hảo. Khi nói về hai loại thuộc tánh tợ tha và bất thiện
tương đối ít gây ngộ nhận như thuộc tánh tịnh hảo. Bởi vì
khi đề cập đến những thuộc tánh nầy chúng ta thường hiểu
theo góc nhìn Phật pháp hơn là bản chất tự nhiên và cũng
hiểu theo cách nói đại loại hơn là vĩ mô. Để tránh ngộ nhận
phần nầy sẽ được đào sâu theo từng một hoặc hai thuộc tánh.
Hiểu chính xác tín là gì
Chữ saddhā được dịch sang Hán Việt là tín. Tín được hiểu lả tin. Vấn đề
chỗ nầy chữ “tin” trong tiếng Việt mang nhiều nghĩa và vài
nghĩa trong số đó đi ngược với ý nghĩa của chữ saddhā.
Tin hay niềm tin đôi khi có nghĩa là được thuyết phục bởi điều gì đó mà
không có lý tính như trong câu “chánh pháp đến để thấy chứ
không phải đến để tin”. Saddhā ở đây không mang ý nghĩa như
vậy. Trong tiếng Việt chữ “tin”
thường được xài thông dụng ít khi rõ ràng như trong Anh ngữ
với những chữ faith, belief, confidence, trust, fidelity….
Mặc dù có nhiều cách dịch như đức tin, niềm tin, lòng tin,
tín tâm..nhưng tương đối mơ hồ. Phải rất cẩn trọng khi định
nghĩa chữ tín theo thuộc tánh tín.
Trong cách nói gần nhất thì tín – Saddhā là “chọn”. Trong nhiều cái để
lựa thì chọn cái tốt nhất. Ngài Silananda cũng nói là Saddhà
giống như sự quyết đoán (adhimokkha) tịnh hảo nhưng khác với
thuộc tánh thắng giải về phương diện công năng như được đề
cập trong phần tiếp theo. Trong Kinh Milindapanda Ngài
Nagasena dùng thí dụ như một người đứng trước dòng suối phân
vân chưa biết có thể băng ngang được hay không chợt thấy có
người băng qua. Từ sự quan sát nầy dẫn đến kết luận là mình
có thể băng qua được. Quyết định đó là tín.
Tín theo cách hiểu vĩ mô
Trong cách nói vĩ mô thì khi đề cập đến mỗi thuộc tánh
thường nói đến bốn phương diện: đặc tính, chức năng, biểu
hiện, và điều kiện. Chức năng của thuộc tánh tín là xoá tan
đi những mù mờ, chập chờn được thí dụ như ngày nay những
người đi rừng mang theo các viên thuốc lọc nước (water
purifier pill). Khi múc nước suối, nước hồ vào bình người ta
cho một viên thuốc lọc vào. Viên thuốc khiến nước trong và
an toàn để uống. Công năng của tín cũng như vậy. Sự chọn lấy
một cái gì đó thì xua tan những lao xao.
Tín theo cách nói đại loại
Trong lúc tín theo cách nói vĩ mô không thể là đức tin mù
quáng thì theo cách nói đại loại tín có thể là niềm tin dựa
trên một cơ sở vững vàng hay thiếu cơ sở. Theo cách nói đại
loại từ niềm tin đối với bản thân (tự tin) đến đạo giáo (tín
ngưỡng) hay mơ hồ (mê tín) đều nằm trong tín. Sự khác biệt
giữa hai cách nói là tín theo vĩ mô phải mang tính cách lựa
chọn thí dụ như câu kinh “Phật là nơi nương nhờ tối thượng”
trong lúc theo cách nói đại loại thì không hẳn như vậy thí
dụ sự cả tin cũng là tin.
Vai trò của tín trong các tâm tịnh hảo
Một đặc tính của các tâm tịnh hảo là sự ổn định danh pháp.
Nói theo ngôn ngữ thường thức là sự trật tự, ổn định. Vai
trò của thuộc tánh tín là làm cho các danh pháp đồng sanh
không bị lao xao bởi thiếu quyết đoán giống như kết quả sau
cùng của cuộc bầu cử là chấm dứt tranh cử đưa xã hội trở về
sự bình thường trước đó. Phải hiểu rõ điều nầy mới thấy tại
sao ngay cả một người không có tín tâm ở Tam Bảo, nghiệp
báo.. vẫn có thuộc tánh tín trong đời sống hằng ngày. (Đa số
các giáo trình Thắng Pháp đều định nghĩa thuộc tánh tín
trong cách nói đại loại có thể tạo ngộ nhận)
Lưu ý: Chánh văn của nguyên tác chỉ nêu 19 thuộc tánh tịnh
hảo biến hành trong một bảng liệt kê rất ngắn gọn như mở đầu
bài học. Phần chú thích sẽ đi sâu vào chi tiết nên tương đối
dài và được giảng trong nhiều ngày. Bài học ngày 16.12.2022
Thuộc tánh Niệm (Saticetasika) là một trong 19 thuộc tánh
tịnh hảo biến hành có nghĩa là có mặt trong tất cả tâm tịnh
hảo. Đây là một thuật ngữ phổ thông trong Phật học cũng như
thường thức. Và cũng là một trong những thuật ngữ được sử
dụng với nhiều ý nghĩa đôi khi trái chống nhau. Niệm (sati)
là một từ vựng được dùng rất nhiều trong kinh điển. Nên phân
rõ cách hiểu khác biệt giữa thường thức và Phật học. Ngay
trong Phật pháp cũng cần phân rõ ý nghĩa của niệm giữa pháp
học và pháp hành. Trong bài học nầy thuộc tánh niệm cần hiểu
theo cách nói vĩ mô chứ không phải là cách nói đại loại.
Hiểu chính xác niệm là gì?
Muốn hiểu chính xác ý nghĩa của chữ niệm trước nhất cần tạm thời bỏ đi
tất cả những gì vốn thường được hiểu một cách quen thuộc về
chữ nầy.
Niệm ở đây không phải là liên tục lẩm nhẩm một danh hiệu Phật hay câu
thần chú nào đó.
Niệm ở đây không phải là sự ghi nhớ như tâm niệm hay “ghi nhớ biết
mình’
Niệm ở đây không phải là sự theo dõi cái gì đó.
Mặc dù những điều vừa nói đều “có khả năng huân tập niệm lực, và niệm
cũng là trọng điểm để tu tập những điều đó”.
Niệm theo cách hiểu vĩ mô
Mặc dù trong Phạn ngữ sati có nghĩa là ghi nhớ nhưng khi
nói về thuộc tánh có nghĩa là “có mặt với hiện tại” (một
cách thú vị, về ý nghĩa nầy lại gần với cách giải chiết tự
của chữ Hán). Đó là trạng thái tỉnh táo, để tâm vào cảnh
hiện tại để tâm không giao động. Nhờ chất liệu nầy tạo nên
ấn tượng sâu đậm, rồi từ đó, sanh ra trí nhớ. Như vậy trong
cách nói vĩ mô niệm là nhân tố tiên khởi của trí nhớ chứ
không phải là trí nhớ.
Thuộc tánh niệm trong tâm tịnh hảo có thể hiểu như cái neo
của thuyền được thả xuống để không bị trôi giạt. Thuộc tánh
niệm có chức năng là khiến các danh pháp đồng sanh không
bềnh bồng giao động mà có mặt với hiện tại. Hay cũng có thể
thí dụ thuộc tánh niệm giống như vị chủ toạ trong phiên họp
có bổn phận làm cho buổi hội thảo không đi lạc đề hay làm
hỏng nghị trình đã quy định.
Niệm theo cách nói đại loại
Sự bám sát với thực tại khiến niệm trở nên quan trọng trong
pháp tu tứ niệm
và các pháp tuỳ niệm (anusati). Nên lưu ý là trên phương
diện thực hành niệm được hướng dẫn với nhiều cách khác nhau.
Trong số những cách niệm đôi khi có cách tập trung bền bĩ
trên một đề mục thì là cách tu tập định hơn là niệm. Trong
phạm vi bài học về thuộc tánh niệm nên chú tâm vào cách hiểu
vĩ mô hơn là cách nói đại loại. Một thí dụ là trong khi hành
thiền nếu để tâm suy nghĩ về việc chuẩn bị cơm trưa cho các
thiền sinh thì được xem là “thất niệm” nhưng nói theo Thắng
Pháp thì thiện tâm nào cũng có thuộc tánh niệm.
Trong Kinh Tạng có nói về tà niệm đối lập với chánh niệm.
Trong Thắng Pháp Tạng thuộc tánh niệm chỉ có mặt trong các
tâm tịnh hảo. Chỉ riêng với điều nầy cho thấy ý nghĩa của
niệm cần được hiểu rõ theo ngữ cảnh và cách dùng. Đây là
điểm đặc biệt tế nhị mà người học không thể không lưu tâm.
Bài học ngày 22.12. 2022
Thuộc Tánh Tàm (hiricetasika) & Thuộc Tánh Quý (ottappa)
Thuộc tánh tàm (hiricetasika) và Thuộc tánh quý (ottappa) là
hai trong số 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành có nghĩa là có
mặt trong tất cả tâm tịnh hảo. Hai thuộc tánh nầy luôn đi
chung với nhau như cặp bài trùng dù trong Kinh Tạng hay
Thắng Pháp Tạng nên giảng chung trong một bài học. Hơn nữa,
cần giảng chung hai pháp để có thể thấy rõ sự khác biệt giữa
pháp nầy so với pháp kia.
Hiểu chính xác tàm và quý là gì?
Trong cách định nghĩa thường gặp ở kinh sách Phật giáo thì
tàm là hổ thẹn tội lỗi và quý là ghê sợ tội lỗi. Định nghĩa
như vậy thì tàm và quý là nhận thức rất cao rộng trên phương
diện luân lý đạo đức khó có thể hiểu là hai pháp nầy hiện
diện như là hai trong số nhiều thuộc tánh của một sát na
tâm. Ngay cả
sanh khởi và hiện hữu đồng thời của ghê sợ và hỗ thẹn cũng
khó tưởng tượng vì có vẻ như hai ý niệm khác nhau. Để hiểu
rõ cần được nhận thức với nhiều phương diện.
Tàm
và quý hiểu theo cách hiểu vĩ mô
Hiểu tàm và quý là thuộc tánh của tâm có nghĩa là không chấp
nhận tiêu cực và là thái độ sống có nguyên tắc, dù nguyên
tắc đó có thể khác biệt giữa người nầy và người khác. Và
thái độ độ nầy có thể tàng ẩn một cách rất tế nhị. Thí dụ
một người được giáo dục từ nhỏ là không dùng ngôn ngữ thô
tục nên khi lớn lên trong cuộc sống hằng ngày trong lời chào
hỏi hay phát biểu thì ngôn phong tao nhã. Mặc dù không nói
rõ nhưng mỗi lời nói đều có tiềm tàng nguyên tắc không nói
những chữ bất nhã.
Tàm được hiểu là thái độ tự trọng của bản thân.
Quý được hiểu là sự tôn trọng sự khiển trách từ người khác.
Hai trạng thái nầy có thể tồn tại như hai thuộc tánh tế nhị
khó nhận rõ vì có mặt ở trong tất cả tâm tịnh hảo. Thí dụ
như một người vốn “sống đàng hoàng” thì dù sống một mình nên
rừng sâu một mình thì cử chỉ và hành động vẫn đàng hoàng dù
không nghĩ có ai chung quanh.
Nên lưu ý chữ quý ở đây là là sợ. Có hai từ mang ý nghĩa sợ
trong chữ Hán mà cách phát âm gần giống nhau là quý
愧và
úy
畏.
Trong cách dùng phổ thông của Phật học thì quý chỉ cho sợ
điều sai quấy (ottapa) trong lúc uý chỉ cho sự sợ hãi vì
không đủ can đảm hay sức mạnh (bhaya)
Tàm và quý hiểu theo cách nói đại loại
Tàm và quý trong cách nói đại loại được hiểu như lương tâm
hay lương thức. Đức Phật dạy đây là hai pháp hộ trì thế
gian. Thí dụ trong văn hoá loài người hoặc bản năng của một
số loài vật thì không chấp nhận sự giao phối giữa mẹ và con.
Điều nào tạo nên một ranh giới tự nhiên trong sự quan
hệ với giới tính. Chính những nguyên tắc về những gì có thể
làm và không nên làm tạo thành văn hoá, trật tự, luân lý đạo
đức. Không có tàm quý thì chúng sanh bất chấp và sống với
bản năng vô luân. Trong khi với cách nói vĩ mô thì tàm và
quý như nguyên tắc tàng ẩn thì trong cách nói đại loại hai
thuộc tánh nầy là sự biểu hiện thí dụ thái độ không chấp
nhận hành động sai quấy hay biết hối lỗi khi làm điều ác.
Nói về sự khác biệt giữa tàm và quý các vị giảng sư thường
dùng thí dụ tàm như một người quen sống sạch sẽ mà bổng
nhiên thấy áo mặc bị một vết bẩn thấy khó chịu. Còn quý như
một người biết lửa nguy hiểm nên cẩn thận với lửa. Hai thí
dụ nầy tạo nên hiểu làm là tàm là sự xấu hổ khi
đã làm
việc quấy còn quý là ý thức được nguy hiểm của điều sai quấy
chưa làm
nên quan ngại. Ở đây không có nghĩa như vậy. Một bậc đoạn
tận lậu hoặc không làm việc ác quấy và cũng không lo sợ mình
sẽ làm việc ác quấy nhưng vẫn có tàm quý. Hai pháp nầy nên
được hiểu là thái độ sống có nguyên tắc đối với cái nên làm
và nên tránh. Cũng có thể hiểu là lòng tự trọng đối với bản
thân và sự tôn trọng đối với cái nhìn của người khác.
Vai trò của tàm và quý trong các tâm tịnh hảo
Hai thuộc tánh tàm và quý trong các tâm tịnh hảo là sự bảo
đảm các pháp đồng sanh không vượt khỏi nguyên tắc tốt đẹp
giống uỷ ban giám luật (ethics committee) trong quốc hội có
trách nhiệm giám thị các nghị viên không vi phạm những luật
định căn bản.
Bài học ngày 5.1.2023
Thuộc Tánh Vô Tham
(alobhacetasika)
Vô
tham ở đây không chỉ đơn giản là không có tham.
Có những tâm không có thuộc tánh tham nhưng không gọi là tâm
tịnh hảo vì thiếu thuộc tánh vô tham như các tâm vô nhân. Vô
tham là một trong sáu căn cội tâm lý tạo nên hiện tượng bất
thiện và tịnh hảo. Sáu căn cội nầy – hay gọi chính xác là 6
nhân – có ảnh hưởng lớn đối với tâm ý. Cách dùng từ vô tham
– alobha - rất tốt để không nói quá nhưng lại nói thiếu.
Không phải khi có tâm vô tham có nghĩa là không bám víu mà
còn có nghĩa xa hơn là từ bỏ, xả ly. Cũng như những thuộc
tánh tịnh hảo khác, thuộc tánh vô tham cần hiểu theo nhiều
khía cạnh.
Trên phương diện vĩ mô vô tham là chất liệu khiến tâm không
vướng mắc.
Thử dùng hai thí dụ
sau để hiểu về ý nghĩa của vô tham. Có lúc người ta chế tạo
điện thoại cầm tay tuy mẫu mã đẹp nhưng lại bi lỗi là thường
lưu lại vân tay hay các vết bẩn.
Giữ lại vết bẩn được thí dụ cho thuộc tánh tham. Có
những kim loai không không lưu lại vết bẩn. Không vướng mắc
chưa hẳn là vô tham . Thí dụ như lá sen gặp sương sớm hay
mưa chiều không bị thấm ướt vì có lớp bao trơn láng (waxy
coat). Lớp bao đó có thể thí dụ cho thuộc tánh vô tham. Như
vậy vô tham ở đây không đơn thuần là không dính mắc mà là
chất liệu khiến tâm không dính mắc.
Trong cách nói đại loại, nếu vô tham được tu tập hay biểu
hiện rõ nét thì trở thành quảng đại, hào phóng, xả tài, bố
thí.
Một người không lấy của phi nghĩa cũng là vô tham. Chia sẻ những gì
mình có cũng là vô tham. Một bậc quân vương từ bỏ ngai vàng
đi xuất gia cũng là vô tham. Một thiền giả chứng sơ thiền
rồi có thể tiếp tục bỏ trạng thái sơ thiền để tiến lên nhị
thiền cũng là vô tham.
Một bậc tu chứng tuệ giác nhìn thấy thấy tất cả sở
đắc, sở chứng “không phải là cûa ta, không phải là ta, không
phải là tự ngã của ta” cũng là vô tham. Với cuộc
đời sống hằng ngày,
thuộc tánh vô tham trong những tâm tịnh hảo thường đơn giản
là trạng thái không vướng mắc. Nếu có vướng mắc thì không
thể đi tới một cách thanh thản, nhẹ nhàng. Có thể thể hiểu
là trạng thái “không nặng lòng”.
Có
thể hiểu thuộc tánh vô tham khiến cho tâm ý tiếp tục đi tới
một cách trơn tru mà không bị vướng mắc. Thí dụ như một nhóm
học sinh đi du ngoạn có một người đi theo chịu trách nhiệm
nhắc cả nhóm đi đến nơi về tới chốn chứ không vì một vài nơi
quá đẹp quá vui mà quên cả đường về.
Bài học ngày 13.1.2023
Thuộc Tánh Vô Sân (adosacetasika)
Cũng như thuộc tánh vô tham, vô sân là một trong ba căn cội của
thiện – trên bình diện rộng hơn là của tất cả tâm tịnh hảo.
Chính vì thế cần hiểu rõ đặc tính và ảnh hưởng của
thuộc tánh nầy đối với các danh pháp đồng sanh.
Chữ vô sân ở đây không chỉ đơn giản là không có sân mà là trạng
thái hoà dịu mát mẽ đối lập với sân. Vô sân giống như cơ
phận quạt lạnh (cooling fan) trong cái máy có chức năng làm
mát máy. Nên hiểu thuộc tánh nầy không chỉ làm cho tâm không
nóng nảy mà còn mang lại sự dễ chịu đối với cảnh.
Thuộc tánh sân khiến cho các pháp đồng sanh được an hoà. Sự thanh
thản không nhiệt não của danh pháp là biểu hiện của thuộc
tánh vô sân. Có thể thí dụ như gia tộc trên thuận dưới hoà
nhờ có một người đức độ thu phục nhân tâm. Như đã đề cập
trên, vô sân là một trong ba căn cội của thiện pháp. Nếu
được phát triển mạnh trở thành đức từ mẫn, an nhẫn và nhiều
đức tánh khác. Trong ý nghĩa của một thuộc tánh, vô sân tạo
nên sự hoà dịu không những chỉ đối với trường hợp bình
thường mà ngay cả khi có những nghịch cảnh hay chi phối bất
ổn. Có thể hiểu thuộc tánh vô sân như lớp cách nhiệt
(insulation) là sự ngăn chận
nhiệt độ quá nóng
chứ không phải là sự mát dịu do không gặp nghịch cảnh
hay bản chất không nhiệt não. Vai trò nầy cần thiết cho các
tâm tịnh hảo được tồn tại không bị nóng bức.
Có thể nói trên phương diện rộng thì vô sân được đề cập với rất
nhiều hình thái trong kinh điển. Phước do thiện nghiệp quá
khứ cũng tạo nên cảnh khả ái, khả ý vì thế tâm vô sân. Người
sanh ra với tâm tục sinh có thuộc tánh vô sân hoặc thọ hỷ
thì ảnh hưởng đời sống hằng ngày được thanh thản, vui vẻ
do vậy giấc ngủ với tiềm thức có thuộc tánh vô sân
khiến người ta lấy lại sự thanh thản. Vô sân cũng có thể
phát triển thành tâm từ khi lấy chúng sanh làm đối tượng như
là sự biểu lộ của từ mẫn, nhân ái. Vô sân cũng có thể là
biểu hiện an nhẫn trước nghịch cảnh nhờ khéo tác ý (yoniso
manasikāra).
Đối diện với nghịch cảnh là điều tự nhiên phải có trong cuộc sống.
Trong Phật học sự khó chịu của tâm được gọi là thọ ưu. Sự
khó chịu của thân gọi là thọ khổ. Tho ưu là sân trong Thắng
pháp nhưng không nhất thiết là sân trong cách nói đại loại.
Thí dụ một người bị người khác công kích dù khó chịu nhưng
tự chế không phản ứng sân hận thì được xem là nhẫn nại bên
ngoài nhưng trong lòng vẫn còn bị sân chi phối vì có thọ ưu.
Và cũng nên hiểu điều nầy: chịu khó khác với khó chịu.
Có nhiều trường hợp vô sân và từ mẫn được hiểu là đồng nghĩa. Từ
mẫn luôn là vô sân. Nhưng tâm từ lấy chúng sanh làm đối
tượng do vậy dù tâm từ là vô sân nhưng vô sân không hẳn là
tâm từ. (Điều nầy khác với vô si là sự không mê mờ lại đồng
nghĩa với trí tuệ sáng suốt)
Thuộc Tánh Quân Bình (tatramajjhattatā)
Thuật ngữ tatramajjhattatā có nghĩa là “ở đó ngay chính
giữa” chỉ cho sự cân bằng, trung lập, trung hoà, khách quan.
Những bản kinh xưa thường dùng thí dụ người điều khiển xe
song mã khéo léo khiến cho hai con ngựa luôn chạy song song
không trước không sau. Đây là thuộc tánh dễ gây nhiều ngộ
nhận trên cả hai phương diện ngữ và nghĩa. Hầu hết các các
giáo trình Thắng Pháp tiếng Việt thường được gọi là hành xả.
Người học cần nắm rõ ngữ cảnh khi muốn định nghĩa đích xác
từ vựng nầy.
Tương tự nhưng những người biểu diễn xiếc đi từ điểm A sang
điểm B trên sợi dây treo cần sự quân bình không thiên lệch.
Nếu sức nặng nghiêng một bên sẽ bị rơi xuống. Sự tồn tại tốt
đẹp của các tâm tịnh hảo luôn cần sự cân bằng. Thiếu đặc
tính nầy tâm thức rơi vào tình trạng xáo trộn.
Sự quân bình luôn là yếu tố cần thiết để đi tới. Trong một
tổ chức, một gia đình có sự thiên vị thì thường tạo nên xáo
trộn. Một chiếc xe bốn bánh nếu không cân bằng sẽ nhanh
chóng hỏng hóc. Khách quan, vô tư, không thiên vị là đặc
tánh của thuộc tánh quân bình.
Trong cách nói đại loại tatramajjhattatā được biết đến với
tên gọi upekkhā thường được dịch là hành xả như xả trong bốn
vô lượng hay hành xả trong các pháp ba la mật. Sự quân bình
nếu tu tập tinh luyện tạo nên đức tánh khách quan trong cái
nhìn, sự công bằng trong cách hành xử, sự an nhiên không cảm
xúc của tâm.
Nếu nhận dạng trong đời sống hằng ngày thì sự quân bình
chính là tánh cách chừng mực; ở mức độ sâu kín và tinh luyện
nội tâm chính là những trạng thái xả niệm thanh tịnh của
thiền định
Như đã đề cập tatramajjhattatā (quân bình, trung lập) là
cách nói vĩ mô của upekkhā (hành xả). Đa số các bản dịch đều
dùng chữ “hành xả” để dịch cả hai từ. Có rất nhiều trường
hợp tâm tịnh hảo có sự quân bình nhưng không nhất thiết là
an nhiên. Ba trạng thái từ, bi và hỷ đều có tatramajjhattatā
nhưng không phải là upekkhā.
Người học Phật cần hết sức cẩn thận giữa thọ xả và hành xả .
Thọ là trạng thái không vui không buồn của cảm xúc có khi
tạo nên sự lãnh đạm. Hành xả là sự quân bình khách quan,
không thiên vị.
Chử xả trong “từ, bi , hỷ, xả” chỉ cho hành xả. Và xả
vô lượng tâm lấy chúng sanh làm đối tượng.
Bài học ngày 10.2.2023
Sáu Cặp Thuộc Tánh: Tĩnh, Khinh,
Nhu, Thích, Thuần, Trực
Sáu cặp thuộc tánh tịnh hảo biến hành tĩnh thân, tĩnh tâm,
khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích
tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm cần được
nhìn thuần Thắng Pháp hơn là hiểu theo cách nói đại loại.
Trước khi đi vào chi tiết của sáu cặp thuộc tánh kể trên cần
lưu ý một vài điểm sau:
Danh pháp là sự hỗn hợp của tâm và các thuộc tánh
Trong ngôn ngữ của Thắng Pháp Tạng tâm thức và vật chất được
đề cập đến với tên gọi danh (nāma) và sắc (rūpa). Danh hay
nàma – đôi khi cũng gọi là danh pháp – bao gồm tâm và các
thuộc tánh. Tất cả tâm đều đi chung với thuộc tánh. Sự kết
hợp giữa tâm và các thuộc tánh tạo nên nhiều biến thể từ một
cho tới 121 thứ tâm. Người học Thắng Pháp cần thường xuyên
lưu ý về sự có mặt của các thuộc tánh trong mỗi thứ tâm. 6
cặp thuộc tánh tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm,
nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần
tâm, chánh thân, chánh tâm nằm trong nhóm thuộc tánh tịnh
hảo biến hành (tổng cộng có 19 thuộc tánh) có nghĩa là đã
gọi là tâm tịnh hảo thì không thể thiếu 6 cặp thuộc tánh
nầy.
Một sát na tâm thức - gồm tâm và thuộc tánh - vận hành như
bộ máy
Cái khó khi học Thắng Pháp Tạng với nhiều người là tánh cách
hỗn hợp trong tâm pháp. Ở Kinh Tạng, thường nói theo cách
đại loại, thì những pháp như tín, niệm, tàm, quý … được hiểu
như những trạng thái riêng biệt trong lúc Thắng Pháp Tạng
dạy tâm thức, dù là một sát na, cũng bao gồm thọ, tưởng,
hành, thức. Do vậy luôn luôn cần nhớ rằng các cetasika là
những thuộc tánh (attribute hay factor) chứ không phải là
những đơn vị (unit). Thí dụ như nói đến sự vận hành của máy
bay người ta nói đến động khí học không phải chỉ có máy phản
lực hay chong chóng mà là một sự kết hợp đầy đủ của thân,
cánh, đuôi, máy….6 cặp thuộc tánh tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh
thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm,
thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm không thể hiểu
theo cách riêng lẻ mà phải hiểu theo cách tổng hợp.
Có những ảnh hưởng riêng biệt đối với tâm và các thuộc tánh
Nói về danh pháp hay tâm thức thì Thắng Pháp thường đề cập
tâm (citta) và các thuộc tánh (cetasika). Theo cách nói ngũ
uẩn thì tâm thuộc thức uẩn và các thuộc tánh là thọ uẩn,
tưởng uẩn, hành uẩn. Dù bốn danh uẩn đồng sanh, đồng diệt,
đồng nương một căn, đồng biết một cảnh nhưng có những trường
hợp chịu ảnh hưởng khác nhau. Trước đây trong phần nói về
những thuộc tánh bất thiện có hai thuộc tánh được nói tới là
hôn trầm (thina) và thuỵ miên (middha). Cả hai đều là trạng
thái trì trệ, dã dượi nhưng hôn trầm chi phối tâm (thức uẩn)
còn thuỵ miên chi phối các thuộc tánh (thọ uẩn, tưởng uẩn,
hành uẩn). Khái niệm nầy không tìm thấy trong Kinh Tạng. 6
cặp thuộc tánh tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm,
nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần
tâm, chánh thân, chánh tâm cũng tương tự như vậy. Trong từng
cặp có một thuộc tánh chi phối thức uẩn và một chi phối ba
uẩn còn lại.
Đừng để từ ngữ làm rối trí
Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma) có cả rừng ngôn từ và ý niệm xa
lạ. Người học cần có thái độ “chính danh”: từ ngữ đó xài ở
đâu, đi với pháp gì.. để không bị lẫn lộn. Trong trường hợp
6 cặp thuộc tánh tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm,
nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần
tâm, chánh thân, chánh tâm thì chữ thân và tâm không được
hiểu theo cách thường được hiểu.
Thân – kāya - ở đây chỉ cho các thuộc tánh (cetasika) hay ba
uẩn thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Tâm – citta - chỉ cho
thức uẩn. (ngay cả khi học Thắng Pháp, chữ tâm có khi được
nói riêng lẻ nhưng thường là tổng hợp của cả bốn danh uẩn.
Thí dụ nói tâm tham thì gồm tâm (sự biết cảnh của thức uẩn)
và một số các thuộc tánh tợ tha, bất thiện cộng chung lại).
Trong tất cả ngôn ngữ liên hệ tới môn học nầy dùng Việt ngữ,
Hán ngữ, hay Phạm ngữ dù xưa cũng như nay, những thuật ngữ
Thắng Pháp Tạng đều được định chế để diễn đạt ý nghĩa đặt
biệt nào đó vốn không có trong Kinh Tạng hay thường thức.
Chính vì vậy người học nếu không nhận rõ dễ dàng bối rối và
hiểu lầm.
Thuộc Tánh Tĩnh Tánh (Kāyapassaddhi cetasika)
& Thuộc Tánh Tĩnh Tâm (Cittapassaddhicetasika)
Tĩnh – passadhi - là trạng thái lắng đọng, không giao động.
Tĩnh tánh và tĩnh tâm là hai chất liệu khiến danh pháp xua
tan những quấy nhiễu. Đây là trạng thái đối lập với phóng
dật (giao động hay trạo cữ) và hối quá. Tĩnh ở đây không có
nghĩa là không lao xao mà là khả năng xua tan những quấy
động.
Trên phương diện vĩ mô, hai thuộc tánh tĩnh tánh và tĩnh tâm
có vai trò khiến cho bốn danh pháp thọ, tưởng, hành, thức
không bị chi phối bỡi những quấy động. Thí dụ như trong một
ngôi nhà có đông người trong đó có một người điềm đạm tạo
nên ảnh hưởng giúp cả nhà xua tan những lao xao, xáo trộn
nhờ vậy được an bình.
Trong Hán ngữ chữ
静
có thể đọc cả với hai âm “tịnh” và “tĩnh”.
Ngài Tịnh Sự chọn chữ tịnh nên hai thuộc tánh
kāyapassaddhi và cittapassaddhi được dịch là tịnh
thân và tịnh tâm. Trong giáo trình nầy chọn chữ “tĩnh tánh
và tĩnh tâm” vì chữ tịnh có thể hiểu là thanh tịnh, trong
sạch (visuddhi) trong lúc ở đây chữ passaddhi có nghĩa là
yên tĩnh.
Thuộc Tánh Khinh Tánh (Kāyalahutā cetasika) & Thuộc Tánh
Khinh Tâm (Cittalahutā cetasika)
Trong tất cả những gì thuộc danh pháp thì hai thuộc tánh
khinh tánh (kāyalahutā cetasika) và khinh tâm (cittalahutā
cetasika) tương đối khó hiểu. Khinh nghĩa là nhẹ. Nói tới
nhẹ, nặng là nói tới trọng lượng - một ý niệm thuộc vật lý
hơn là tâm lý. Sự nhẹ nhàng ở đây cũng là pháp thực tính chứ
không phải là cách nói ví von do vậy cần được suy nghiệm để
hiểu chính xác đặc tánh và vai trò của thuộc tánh nầy.
Khinh tánh (kāyalahutā cetasika) và khinh tâm (cittalahutā
cetasika) là hai thuộc tánh có chức năng làm nhẹ nhàng các
danh pháp đồng sanh. Sự nhẹ nhàng ở đây có thể hiểu như sự
rỗng rang, nhẹ tênh của tâm thức. Chính sự nhẹ nhàng nầy tạo
nên tác dụng linh hoạt, không trì trệ của tâm.
Để hiểu khinh tánh, khinh tâm trên phương diện vĩ mô cần
hiểu trạng thái đối lập của thuộc tánh nầy là hôn trầm và
thuỵ miên. Đó là hai trạng trái khiến tâm ý nặng nề, mất đi
khả năng hoạt dụng. Sự trĩu nặng hay trì trệ của thân hoặc
tâm có thể cảm nhận với sự thiếu linh hoạt, nhạy bén, hân
hoan. Trái lại khi tâm nhẹ nhàng cảm giác thư thới thì tạo
thành sự khinh khoái giống như một người trả hết nợ hay tâm
không còn bị vướng vấp những phiền luỵ vì lý do gì đó.
Thuộc Tánh Nhu Tánh (Kāyamudutā) & Thuộc Tánh Nhu Tâm
(Cittamudutā)
Nhu có nghĩa là mềm dẻo. Đây là trạng thái đối lập với cứng
nhắc, thiếu linh động, thiếu uyển chuyển. Sự mềm dẻo nầy
giống như ý nghĩa của câu ngạn ngữ “răng cứng thì gãy, lưỡi
mềm thì còn” hoặc như câu “nhu thắng cương, nhược thắng
cường”. Trong đạo học của Trung Hoa thì chữ nhu được xem là
đặc tánh của người quân tử có hiểu biết.
Trạng thái đối lập của nhu tánh, nhu tâm là tà kiến và ngã
mạn. Cả hai pháp đối lập đều mang đặc tính cứng nhắc, cố
chấp, cực đoan. Nhu tánh nhu tâm trái lại là sự mềm mỏng,
cởi mở. Điều nầy khiến cho các pháp đồng sanh trở nên linh
hoạt. Hai thuộc tánh nầy giúp cho những tâm pháp đồng sanh
không rơi vào sự cang ngạnh, cực đoan giống nhưng trong một
gia đình có người luôn biết dùng lời từ tốn, phải chăng để
hoá giải các cực đoan của những thành viên.
Thuộc Tánh Thích Tánh (Kāyakammaññatā) & Thích Tâm
(Cittakammaññatā)
Sự thích nghi ở đây không phải là một thái độ mà là chất
liệu khiến tâm pháp hoà quyện với thực tại. Nên lưu ý thuộc
tánh vô sân là sự hoà dịu mát mẻ đối với nghịch cảnh còn nhu
tánh, nhu tâm là sự mềm dẻo trong lúc thích tánh, thích tâm
là tố chất khiến bốn danh uẩn thích nghi trong mọi trường
hợp nghịch cũng như thuận ở nhiều mức độ khác nhau.
Thích nghi là khả năng tồn tại trước những khác biệt như câu
“khi ở La Mã thì làm như người La Mã”. Sự thích nghi không
có nghĩa là chỉ đối với nghịch cảnh mà còn đối với thuận
cảnh. Hoá thân không có nghĩa là vong thân. Sự sống còn luôn
đòi hỏi khả năng thích ứng trong mọi tình huống. Có thể thí
dụ như một người tạo lập một cửa hàng buôn bán không phải
chỉ buôn bán những thứ mình thích mà còn tìm cách đáp ứng
nhu cầu của khách hàng vốn thay đổi thường xuyên. Khả năng
thích nghi nầy giống như trình bày về sự biến dạng để tồn
tại theo môi trường theo thuyết tiến hoá của Charles Darwin.
Chính khía cạnh thích nghi nầy tạo nên sự hoà quyện của tất
cả tâm tịnh hảo.
Thuộc Tánh Thuần Tánh (kāyapāguññatā) & Thuần Tâm
(cittapāguññatā)
Thuần – pāguññatā - chỉ cho sự trưởng thành, tinh luyện,
chính chắn. Sự chín chắn ở đây được tạo nên bởi chất liệu
xua tan những phân vân, thiếu tin tưởng, thiếu ổn định vì
non nớt. Có thể lấy một thí dụ là một người có bản lãnh thật
sự thì dù trong một hoàn cảnh xa lạ hay giải quyến một vấn
đề mới lạ vẫn có phong độ chững chạc của người có nội hàm.
Thuật ngữ pāguññatā
từ paguṇā cũng có nghĩa là sự thông thạo hay học hiểu
thấu đáo có thể khiến người học lầm tưởng là một thứ trí
tuệ. Trong ý nghĩa của hai thuộc tánh nầy chỉ đơn thuần là
thuần thục, thành thạo, quen thuộc. Thí dụ một người giữ vai
trò gì đó trong công ty có thể thấy thoải mái, lanh lẹ trong
công việc chỉ vì quá quen thuộc chứ không nhất thiết là do
quá giỏi hay quá thông thái.
Cũng như vật lý, tâm lý có mức độ khoẻ khoắn, lành mạnh đôi
khi rất khó nhận diện nhưng có thể hình dung là tất cả tâm
tịnh hảo đều sự sự vững chãi nhất định. Thí dụ như một người
xuất hiện trước đám đông nếu đó là người có khả năng, trình
độ thì dù là hội chúng xa lạ thì vẫn có thần thái của một
người tự tin. Tâm tịnh hảo không thể hiện hữu trong sự non
nớt, giao động, nghi hoặc.
Thuộc Tánh Trực Tánh (kāyujukatā) & Trực Tâm (cittujukatā)
Hai thuộc tánh nầy được Ngài Tịnh Sự dịch là chánh thân và
chánh tâm. Ý nghĩa thì không khó hiểu nhưng về cách dùng từ
thì cần nhiều cân nhắc. Đối với những người đã quen với chữ
dịch trước kia thì ngay cả âm đọc cũng khó thoải mái.
Từ ngữ ujukatā có nghĩa là thẳng thắn, chánh trực, không
quanh co. Theo cách nói theo bình diện rộng thì không cần
bàn cãi nhiều nhưng khi nói đây là một thuộc tánh tịnh hảo
biến hành thì có vẻ như khó hiểu. Ngay cả khi dùng chữ
“chánh” được hiểu như chơn chánh thì lại càng khó hiểu.
Người học cần có gắng phân biệt giữa trạng thái vĩ mô và
cách nói theo bình diện rộng.
Ở đây nên hiểu là sự trực nhận, đi thẳng vào vấn đề,
xữ lý trực tiếp hơn là quan niệm chánh tà.
Trực tánh, trực tâm
là hai tố chất khiến tâm pháp mang tánh trực tiếp,
thẳng thắn, không quanh co. Có thể thí dụ như trong thời đại
người ta rất bận rộn mà thì giờ lại hạn chế thì trong cách
nói hay biểu đạt không dài dòng, lung khởi mà thường đi
thẳng vào cái gì muốn nói một cách chính xác, trực tiếp,
thẳng thừng. Tâm pháp thiếu tố chất nầy thì quanh co, lấp
lửng, không đối diện trực tiếp được. Có thể nói giống như
vai trò của một người có trách nhiệm điều hành một công ty
cần dám nhìn thẳng vào những vấn đề cần cải thiện chứ không
phải là che dấu cái xấu hay chỉ biết ca ngợi cái tốt.
Tỳ kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |