|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 14 tháng 02, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Đồ Ăn (S. ii, 23)
Bài 19. Kinh Người Khôn, Kẻ Dại (Bālapaṇḍitasuttaṃ)
-AI LÀ NGƯỜI THOÁT VÒNG LẨN QUẨN?.
Người ta thường
nói không cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống. Đức Phật
dạy: Người khôn cũng khổ, người dại cũng khổ, nhưng người
khôn biết hướng cầu thoát khổ. Cuộc trầm luân là vòng lẩn
quẩn như người đi lạc trong rừng vừa bị vô minh làm mê tối
và ái dục khiến vướng mắc. Phải có lập trường kiên quyết
vượt thoát mới khởi sự hành trình ra khỏi khổ đau. Cái khôn,
cái dại giữa cuộc trầm thuân vốn không thể quan niệm như
thường tình.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘avijjānīvaraṇassa,
bhikkhave, bālassa taṇhāya sampayuttassa evamayaṃ kāyo
samudāgato. Iti ayañceva kāyo bahiddhā ca nāmarūpaṃ,
itthetaṃ dvayaṃ, dvayaṃ paṭicca phasso saḷevāyatanāni
[saḷāyatanāni (ka.)], yehi phuṭṭho bālo sukhadukkhaṃ
paṭisaṃvedayati etesaṃ vā aññatarena’’.
Ngự tại Sāvatthi
Này chư Tỳ khưu, đối với người ngu, thân nầy tập khởi do vô
minh che đậy và ái dục cột trói. Sự hiện hữu của thân nầy và
danh sắc bên ngoài như vậy là một bộ song. Do duyên bộ song
nầy có xúc. Do xúc từ lục nhập – hay từ một trong những sáu
xứ - người ngu cảm thọ lạc, khổ.
‘‘Avijjānīvaraṇassa, bhikkhave, paṇḍitassa taṇhāya
sampayuttassa evamayaṃ kāyo samudāgato. Iti ayañceva kāyo
bahiddhā ca nāmarūpaṃ, itthetaṃ dvayaṃ, dvayaṃ paṭicca
phasso saḷevāyatanāni, yehi phuṭṭho paṇḍito sukhadukkhaṃ
paṭisaṃvedayati etesaṃ vā aññatarena’’.
Này chư Tỳ khưu, đối với người trí, thân nầy tập khởi do vô
minh che đậy và ái dục cột trói. Sự hiện hữu của thân nầy và
danh sắc bên ngoài như vậy là một bộ song. Do duyên bộ song
nầy có xúc. Do xúc từ lục nhập – hay từ một trong những sáu
xứ - người trí cảm thọ lạc, khổ.
‘‘Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso, adhippāyaso
kiṃ nānākaraṇaṃ paṇḍitassa bālenā’’ti? ‘‘Bhagavaṃmūlakā no,
bhante, dhammā, bhagavaṃnettikā, bhagavaṃpaṭisaraṇā. Sādhu
vata, bhante, bhagavantaṃyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa
attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī’’ti.
Này chư Tỳ khưu, thế thì có gì
sai khác, có gì phân biệt, có gì không tương đồng người trí
và kẻ ngu?
-- Bạch Đức Thế Tôn, đối với chúng con, luôn y chỉ và tìm sự
hướng dẫn ở Đức Thế Tôn. Thật tốt lành thay, Đức Thế Tôn
giảng giải ý nghĩa để chúng tỳ khưu được nghe rồi thọ trì.
‘‘Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha,
bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho te bhikkhū bhagavato
paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca.
-- Vậy này chư Tỳ khưu, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta
sẽ nói.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Chư Tỳ khưu trả lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như sau:
‘‘Yāya ca, bhikkhave, avijjāya nivutassa bālassa yāya ca
taṇhāya sampayuttassa ayaṃ kāyo samudāgato, sā ceva avijjā
bālassa appahīnā sā ca taṇhā aparikkhīṇā. Taṃ kissa hetu?
Na, bhikkhave, bālo acari brahmacariyaṃ sammā
dukkhakkhayāya. Tasmā bālo kāyassa bhedā kāyūpago hoti, so
kāyūpago samāno na parimuccati jātiyā jarāmaraṇena sokehi
paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. Na parimuccati
dukkhasmāti vadāmi.
Này chư Tỳ khưu, đối với người ngu, thân nầy tập khởi do vô
minh che đậy và ái dục buộc ràng nhưng vô minh không được tù
bỏ và ái không được đoạn diệt. Tại sao vậy? vì người ngu
không sống phạm hạnh vì mục đích đoạn tận khổ đau. Do vậy
sau khi thân nầy mệnh chung lại sanh làm thân khác. Với thân
khác, người ấy không thoát khỏi sanh, già, chết; không thoát
khỏi sầu, bi, khổ, ưu, ai. Ta nói rằng người ấy không thoát
khỏi khổ đau.
‘‘Yāya ca, bhikkhave, avijjāya nivutassa paṇḍitassa yāya
ca taṇhāya sampayuttassa ayaṃ kāyo samudāgato, sā ceva
avijjā paṇḍitassa pahīnā, sā ca taṇhā parikkhīṇā. Taṃ kissa
hetu? Acari, bhikkhave, paṇḍito brahmacariyaṃ sammā
dukkhakkhayāya. Tasmā paṇḍito kāyassa bhedā na kāyūpago
hoti. So akāyūpago samāno parimuccati jātiyā jarāmaraṇena
sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi.
Parimuccati dukkhasmāti vadāmi. Ayaṃ kho, bhikkhave, viseso,
ayaṃ adhippayāso, idaṃ nānākaraṇaṃ paṇḍitassa bālena yadidaṃ
brahmacariyavāso’’ti. Navamaṃ.
Này chư Tỳ khưu, đối với người trí, thân nầy tập khởi do vô
minh che đậy và ái dục buộc ràng nhưng vô minh được tù bỏ và
ái được đoạn diệt. Tại sao vậy? vì người trí sống phạm hạnh
vì mục đích đoạn tận khổ đau. Do vậy sau khi thân nầy mệnh
chung không sanh làm thân khác. Không sanh thân khác, người
ấy thoát khỏi sanh, già, chết; thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu,
ai. Ta nói rằng người ấy vượt thoát khỏi khổ đau.
Này chư Tỳ khưu, đây là sự sai
khác, đây là sự phân biệt, đây là sự không tương đồng người
trí và kẻ ngu
Chú Thích Vô minh ngăn che (avijjānīvaraṇa), ái dục cột trói (taṇhāya
sampayutta) chỉ cho hai các tác động của vô minh và ái. Đây
là hai thứ phiền não chủ đạo đưa đến tạo tác (nghiệp) và tạo
nên sự hiện hữu của tất cả chúng sanh (quả). Thân nầy từ đấy tập khởi (evam ayaṃ kāyo samudāgato). Chữ thân
(kāya) ở đây nên hiểu là cả hai danh sắc chứ không phải chỉ
riêng thân xác. (Sanh, già, chết; sầu, bi, khổ, ưu, ai là sự
khổ của cả hai thân xác và tâm thức).
Thân nầy và danh sắc ngọai
tại (ayañceva kāyo bahiddhā ca
nāmarūpaṃ) là năm uẩn của bản thân và năm uẩn của
chúng sanh khác. Cụm từ “danh sắc ngoại tại” chỉ cho chúng
sanh khác được xem là cái diển đạt ít có trong kinh văn. Một
cách hiểu khác là “thân nầy” chỉ cho sáu nội xứ và “danh sắc
ngoại tại” chỉ cho sáu ngoại xứ như câu “imasmiṃ saviññāṇake
kāye bahiddhā ca sabbanimittesu - Đối với tâm thức của thân
nầy và tất cả hiện tướng bên ngoài”.
Một cặp bài trùng (dvaya)
(rất thú vị từ nầy được viết trong Anh ngữ là dyat) theo Sớ
giải chỉ cho sáu nội xứ và sáu ngoại xứ. Hai thứ gọi chung
là Bộ Đôi Lớn (mahādvaya)
Bài kinh ngắn nầy là một cơ
sở quan trọng để giải thích duyên khởi theo tam sinh (kiếp
quá khứ, kiếp hiện tại, và kiếp tương lai). Từ đây mười hai
nhân duyên được chi thành bốn nhóm (catusaṅkhepa): nhân quá
khứ (vô minh, hành), quả hiện tại (thức, danh sắc, lục nhập,
xúc, thọ), nhân hiện tại (ái, thủ, hữu), quả vị lai (sanh,
lão tử). Đây là cách lý giải nền tảng trong Thanh Tịnh Đạo
(Visuddhimagga).
Nên lưu ý là cả hai cách giải
duyên khởi (tam sinh và hiện kiếp) đều có cơ sở trong Kinh
Tạng và Thắng Pháp Tạng. Không nên viện dẫn cách nầy để phủ
bác cách kia.
Từ giáo lý duyên khởi, Đức
Phật nhấn mạnh mục đích chân thực của đời sống phạm hạnh là
đoạn tận khổ đau. Và cái nhìn nầy tạo nên sự khác biệt giữa
người trí và kẻ ngu trong ý nghĩa sâu xa nhất: vượt thoát
vòng lẩn quẩn khổ đau mới thật là người trí.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |