|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 18 tháng 02, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Mười Lực (S. ii, 27)
Bài 21. Kinh Thập Lực I (Dasabalasuttaṃ)
-LIỄU TRI SANH DIỆT LÀ BIẾT TẤT CẢ.
Đức Phật là bậc
toàn tri. Gọi là liễu tri đúng nghĩa là thấy biết tướng
trạng của vạn pháp, sự tập khởi, và sự hoại diệt. Người ta
có câu “nữa ổ bánh mì cũng là bánh mì nhưng nữa sự thật thì
không là sự thật” Sự quán triệt các pháp không phải chỉ có
sự nhận rõ trạng thái mà còn ở sự thấy rõ sự tập khởi, sự
hoại diệt, và duyên tập khởi cũng như tác động tạo nên sở
duyên khác. Đó là lý do tại sao có sự liên hệ mật thiết giữa
pháp học với pháp hành, giữa tướng và tánh, giữa sự giác ngộ
của các Đấng Như Lai đối với cả hai pháp hiệp thế và siêu
thế.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘dasabalasamannāgato,
bhikkhave, tathāgato catūhi ca vesārajjehi samannāgato
āsabhaṃ ṭhānaṃ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṃ nadati,
brahmacakkaṃ pavatteti – iti rūpaṃ iti rūpassa samudayo iti
rūpassa atthaṅgamo, iti vedanā iti vedanāya samudayo iti
vedanāya atthaṅgamo, iti saññā iti saññāya samudayo iti
saññāya atthaṅgamo, iti saṅkhārā iti saṅkhārānaṃ samudayo
iti saṅkhārānaṃ atthaṅgamo, iti viññāṇaṃ iti viññāṇassa
samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo. Iti imasmiṃ sati idaṃ
hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati. Imasmiṃ asati idaṃ na
hoti, imassa nirodhā idaṃ nirujjhati. Yadidaṃ avijjāpaccayā
saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ...pe... evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva
asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā
viññāṇanirodho...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. Paṭhamaṃ.
Ngự ở Sāvatthi.
Này chư Tỳ khưu,
với
đầy đủ mười lực và
bốn vô sở úy, Như Lai tự nhận
cương vị Ngưu vương,
cất tiếng sư tử
hống giữa
các hội chúng,
chuyển Phạm luân và
tuyên bố: "Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt.
Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây
là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng đoạn diệt. Ðây
là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt. Ðây là
thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt".
Như vậy do cái này
hiện hữu,
nên
cái kia
hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không
hiện hữu, cái kia
không
hiện hữu. Do cái này
diệt, cái kia diệt.
Nghĩa là
với vô minh là duyên, hành sanh khởi; hành là duyên, thức
sanh khởi; thức là duyên, danh sắc sanh khởi; danh sắc là
duyên, lục nhập sanh khởi; lục nhập là duyên, xúc sanh khởi;
xúc là duyên, tho sanh khởi; thọ là duyên, ái sanh khởi; ái
là duyên, thủ sanh khởi; thủ là duyên, hữu sanh khởi; hữu là
duyên, sinh sanh khởi; sinh là duyên, già, chết, khổ, ưu, ai
sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.
Do vô minh diệt hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên
thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt
nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt
nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ
diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sinh diệt.
Do sinh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như
vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt tận.
Chú Thích
Có hai bài kinh mang tên Kinh Thập Lực nên bài nầy gọi là
Kinh Thập Lực I. Chánh tạng chỉ ghi là Kinh Thập Lực và bài
kinh tiếp theo gọi là Kinh Thập Lực II.
Mười Như Lai lực và bốn vô sở uý (trích từ Kho Tàng Pháp Học
của Hoà thượng Tuệ Siêu (Tỳ Khưu Giác Giới)
[474] Mười trí lực (sabalañāṇa), hay mười Như Lai trí lực
(Tathāgatabalañāṇa):
1. Trí hiểu nguyên lý và phi nguyên lý (Ṭhānāṭhānañāṇa), đức
Như Lai biết rõ các sự kiện, cái gì có thể xảy ra và cái gì
không thể xảy ra.
2. Trí biết quả nghiệp (Kammavipākañāṇa), đức Như Lai biết
rõ các hạnh nghiệp của chúng sanh, thiện ác dẫn đến quả dị
thục tốt xấu ra sao? Quả trổ mức độ như thế nào?
3. Trí biết đạo lộ mọi sanh thú
(Sabbatthagāminīpaṭipadāñāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự
thực hành là con đường dẫn đến tái sanh trong những cõi vui
và cõi khổ, biết rõ hành động đưa đến lợi ích hiện tại, lợi
ích tương lai và lợi ích tối thượng.
4. Trí biết bản chất dị biệt (Nānādhātuñāṇa), đức Như Lai
biết rõ thế gian có bản chất đa dạng như uẩn sai biệt, xứ
sai biệt, và giới sai biệt.
5. Trí biết khuynh hướng dị biệt (Nānādhimuttikañāṇa), đức
Như Lai biết rõ sự khác biệt khuynh hướng của chúng sanh, có
chúng sanh khuynh hướng hạ liệt, có chúng sanh khuynh hướng
cao thượng, chúng sanh đồng khuynh hướng sẽ thuận dòng với
nhau, hạ liệt thân cận hạ liệt, cao thượng thân cận cao
thượng, dù ở quá khứ hay hiện tại cũng vậy.
6. Trí biết thượng hạ căn (Indriyaparopariyattañāṇa), đức
Như Lai biết rõ căn cơ cao thấp của chúng sanh, biết rõ
chúng sanh có kiến chấp như vậy tiềm miên như vậy, sở hành
như vậy, có căn trì độn, có căn lanh lợi, có tính khó dạy,
có tính dễ dạy, có khả năng giác ngộ hay không thể giác ngộ.
7. Trí biết sự nhiễm-tịnh-ly của thiền định
(Jhānādisaṅkilesādiñāṇa), đức Như Lai biết rõ sự ô nhiễm, sự
thanh tịnh, sự xuất ly của thiền định, nhập định và sự giải
thoát.
8. Trí biết tiền kiếp (Pubbenivāsānussatiñāṇa), đức Như Lai
có trí nhớ chính xác và nhớ nhiều về các kiếp sống quá khứ,
từng nét đại cương và chi tiết đa dạng.
9. Trí biết sự sanh tử (Cutūpapātañāṇa), đức Như Lai với
thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân ngài thấy rõ sự sống chết
của chúng sanh; biết chúng sanh này sanh đến chỗ hèn hạ hoặc
cao sang, xấu xí hay xinh đẹp, hạnh phúc hay đau khổ, là do
hạnh nghiệp như vậy. Chúng sanh đi đến tùy theo nghiệp.
10. Trí đoạn lậu (Āsavakkhayañāṇa), đức Như Lai tự mình
thắng tri vô lậu tâm giải thoát, đoạn tận các lậu hoặc. Ngài
biết rõ sự đoạn diệt hoàn toàn các lậu hoặc như vậy.
M.I.69; A.V.33; Vbh.336.
[195] Bốn vô sở úy (Vesārajja) hay bốn vô ngại
trí (Vesārajjañāṇa) của Đức Phật:
1. Ngài tự nhận là bậc Chánh Đẳng
Giác (Sammāsambuddhapatiññā), Ngài không sợ ai bắt bẻ buộc
tội, vì Ngài đã thật sự chứng đạt quả vị Chánh Đẳng Giác.
2. Ngài tự nhận là bậc đoạn lậu (Khīṇāsavapatiññā), Ngài
không sợ ai bắt bẻ chỉ trích, vì Ngài đã thật sự đoạn trừ
các lậu hoặc.
3. Ngài tuyên bố pháp chướng
ngại (Anta-rāyikadhammavāda), Ngài không sợ ai phản bác lời
Ngài nói là sai, vì Ngài đã thật sự biết rõ pháp chướng ngại
là chướng ngại.
4. Ngài thuyết pháp hướng
thượng (Niyyānika-dhammadesanā), Ngài không sợ ai chỉ trích
pháp Ngài thuyết là vô ích, vì thật sự Ngài đã thể nhập các
pháp hướng thượng.
Bốn vô sở úy này là điều song song với thập lực Như Lai trí,
là cơ sở để Ngài tự nhận địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống
sư tử giữa các hội chúng vận Chuyển Pháp Luân.
M.I.71; A.11.8. Thuật
ngữ
brahmacakka
- phạm luân – tên gọi khác của pháp luân có nghĩa là giáo
pháp thanh tịnh (visuddhadhammacakka). Sớ giải cũng chú
thích ý nghĩa nầy trong văn hoá Ấn mang nghĩa là tốt nhất
hay tối thượng (seṭṭha, uttama). Sự
nhận thức trạng thái, sự sanh, sự diệt đối với năm uẩn được
hiểu sự nhuần nhuyễn trong pháp hành hành thiền quán. Câu
nói cô đọng của duyên khởi “imasmiṃ sati idaṃ hoti,
imass’uppādā idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati idaṃ na
hoti,imassa nirodhā idaṃ nirujjhati - Như vậy do cái này
hiện hữu, nên cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia
sanh. Do cái này không hiện hữu, cái kia không hiện hữu. Do
cái này diệt, cái kia diệt” hàm nghĩa chỉ cho cái đã sanh vì
có duyên sanh và cái không sanh vì duyên sanh không xẩy ra.
Thí dụ bản dịch thường được hiểu chữ nirodha là “vô minh
diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt…” thực tế thì
nên hiểu là “không vô minh thì không hành, không hành thì
không thức…” bởi vì cái gì đã sanh mới có diệt. Nêú không có
thì không cái nầy nên không có cái kia.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |