|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 21 tháng 02, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Mười Lực (S. ii, 28)
Bài 22. Kinh Thập Lực II (Dutiyadasabalasuttaṃ)
-HÃY DỐC LÒNG VÌ CƠ DUYÊN HÃN HỮU.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘dasabalasamannāgato, bhikkhave,
tathāgato catūhi ca vesārajjehi samannāgato āsabhaṃ ṭhānaṃ
paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṃ nadati, brahmacakkaṃ
pavattetti – ‘iti rūpaṃ iti rūpassa samudayo iti rūpassa
atthaṅgamo, iti vedanā iti vedanāya samudayo iti vedanāya
atthaṅgamo, iti saññā iti saññāya samudayo iti saññāya
atthaṅgamo, iti saṅkhārā iti saṅkhārānaṃ samudayo iti
saṅkhārānaṃ atthaṅgamo, iti viññāṇaṃ iti viññāṇassa samudayo
iti viññāṇassa atthaṅgamo. Iti imasmiṃ sati idaṃ hoti,
imassuppādā idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati idaṃ na hoti
imassa nirodhā idaṃ nirujjhati. Yadidaṃ avijjāpaccayā
saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ...pe... evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva
asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā
viññāṇanirodho...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa nirodho hoti’’’.
Ngự ở Sāvatthi.
Này chư Tỳ khưu,
với
đầy đủ mười lực và
bốn vô sở úy, Như Lai tự nhận
cương vị Ngưu vương,
cất tiếng sư tử
hống giữa
các hội chúng,
chuyển Phạm luân và
tuyên bố: "Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt.
Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây
là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng đoạn diệt. Ðây
là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt. Ðây là
thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt".
Như vậy do cái này
hiện hữu,
nên
cái kia
hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không
hiện hữu, cái kia
không
hiện hữu. Do cái này
diệt, cái kia diệt.
Nghĩa là
với vô minh là duyên, hành sanh khởi; hành là duyên, thức
sanh khởi; thức là duyên, danh sắc sanh khởi; danh sắc là
duyên, lục nhập sanh khởi; lục nhập là duyên, xúc sanh khởi;
xúc là duyên, tho sanh khởi; thọ là duyên, ái sanh khởi; ái
là duyên, thủ sanh khởi; thủ là duyên, hữu sanh khởi; hữu là
duyên, sinh sanh khởi; sinh là duyên, già, chết, khổ, ưu, ai
sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.
Do vô minh diệt hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên
thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt
nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt
nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ
diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sinh diệt.
Do sinh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như
vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt tận.
‘‘Evaṃ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito
chinnapilotiko. Evaṃ svākkhāte kho, bhikkhave, mayā dhamme
uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike alameva
saddhāpabbajitena kulaputtena vīriyaṃ ārabhituṃ – ‘kāmaṃ
taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upasussatu
maṃsalohitaṃ. Yaṃ taṃ purisathāmena purisavīriyena
purisaparakkamena pattabbaṃ, na taṃ apāpuṇitvā vīriyassa
saṇṭhānaṃ bhavissatī’’’ti.
Này chư Tỳ khưu,
chánh
pháp được Ta thiện thuyết, hiển thị, khai thị, minh thị,
không vá víu. Chánh pháp nầy thật quá đủ cho một thiện nam
tử xuất gia với niềm tin phat khởi tinh tấn với sự quyết
tâm: Dù thịt máu trong thân khô cạn, chỉ còn lại da, gân,
xương thì bản thân vẫn dốc lòng tu tập để chứng đắc những gì
có thể chứng đắc với nghị lực, năng lực, và tận lực của bậc
trượng phu.
‘‘Dukkhaṃ, bhikkhave, kusīto viharati vokiṇṇo pāpakehi akusalehi
dhammehi, mahantañca sadatthaṃ parihāpeti. Āraddhavīriyo ca
kho, bhikkhave, sukhaṃ viharati pavivitto pāpakehi akusalehi
dhammehi, mahantañca sadatthaṃ paripūreti. Na, bhikkhave,
hīnena aggassa patti hoti. Aggena ca kho, bhikkhave, aggassa
patti hoti. Maṇḍapeyyamidaṃ, bhikkhave, brahmacariyaṃ,
satthā sammukhībhūto. Tasmātiha, bhikkhave, vīriyaṃ
ārabhatha appattassa pattiyā, anadhigatassa adhigamāya,
asacchikatassa sacchikiriyāya. ‘Evaṃ no ayaṃ amhākaṃ
pabbajjā avañjhā bhavissati saphalā saudrayā. Yesañca mayaṃ
paribhuñjāma cīvara-piṇḍapātasenāsana-
gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṃ tesaṃ te kārā amhesu
mahapphalā bhavissanti mahānisaṃsā’ti – evañhi vo,
bhikkhave, sikkhitabbaṃ. Attatthaṃ vā hi, bhikkhave,
sampassamānena alameva appamādena sampādetuṃ; paratthaṃ vā
hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetuṃ;
ubhayatthaṃ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva
appamādena sampādetu’’nti. Dutiyaṃ. Này chư Tỳ
khưu,
sự mất mát những
tốt lành bản thân thât to lớn đối người biếng nhác sống
trong khổ luỵ, uế nhiễm bởi những thứ bất thiện. Sụ thành
tựu những tốt lành bản thân thật to lớn đối với người phấn
đấu sống trong an lạc, xa lìa những pháp bất thiện,
Không thể chứng đạt những điều cao quý bằng cái tầm thường.
Chỉ có thể chứng đạt những điều cao quý bằng cái cao quý.
Này chư Tỳ khưu, đời sống phạm hạnh là tinh lương và Bậc Đạo
Sư đang hiện tiền. Do vậy hãy phấn đấu thành tựu những gì
chưa thành tựu, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, liễu ngộ
những gì chưa liễu ngộ.
Này chư Tỳ khưu,
hãy luôn
tự nhủ: có như vậy đời sống xuất gia mới không trống rỗng,
mới thật sự có ý nghĩa, mới thật sự có thành quả; và
khi chúng ta thọ dụng những nhu yếu y phục, thực phẩm, trú
xứ, thuốc men dù mang
lợi quả lớn, lợi ích lớn cho đàn tín. Này chư Tỳ Khưu hãy tu
tập như vậy.
Nghĩ về lợi lạc bản thân thật quá đủ để phấn đấu không chễnh
mãng. Nghĩ về lợi lạc cho tha nhân cũng quả đủ đế phấn đấu
chễnh mãng. Nghỉ về lợi lạc cho cả hai cũng quá đủ để phấn
đấu không chễnh mãng.
Chú Thích
Bài kinh nầy có tựa đề
Kinh Thập Lực II vì có bài Kinh Thập Lực I trước bài
nầy. Nếu xét về biên khảo thì hai bài có thể gom thành một
vì bài số I là phần đầu của bài số hai nhưng vì được thuyết
trong hai trường hợp khác nhau nên khi kết tập Tôn Giả
Ananda trùng tuyên cả hai. Đây cũng là đặc điểm của Tam Tạng
Pali theo tinh thần gìn giữ trọn vẹn những gì đã kết tập cho
dù có thể lược bớt.
Đoạn cuối của bài kinh nầy rất khó chuyển ngữ về văn phong
vì tánh cách đặc thù của huấn thị trong lời kêu gọi của Đức
Phật. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu là một chuyển
ngữ rất đẹp mà người đọc nên tham khảo:
“Khổ thay, này các Tỷ-kheo, là người sống biếng nhác, dính
đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm! An
lạc thay, này các Tỷ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn,
viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên
mãn!
Này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được
cái cao thượng. Này các Tỷ-kheo, phải với cái cao thượng mới
đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các
Tỷ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do
vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì
chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để
chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Có vậy, sự xuất gia này
của chúng ta sẽ không phải trống không, có kết quả, có thành
tích (Sa udrayà). Và những vật dụng chúng ta thọ dụng như y
phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, dầu cho
những thứ này là khiêm tốn (vokàrà),đối với chúng ta sẽ có
quả lớn, có lợi ích lớn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông
cần phải học tập. Này các Tỷ-kheo, thấy được tự lợi là vừa
đủ để tinh tấn không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, khi
thấy lợi tha là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. Hay này
các Tỷ-kheo, thấy lợi cả hai, là vừa đủ để tinh tấn, không
phóng dật.
Theo Sớ Giải chữ chinnapilotika – tấm vãi không vá víu - một
cách nói về giáo pháp là một hệ thống nhất quán, không có
những rời rạc chấp vá. (một từ vựng khác khi nói về y áo chữ
paṭapilotikānaṃ saṅghāti – y kép bá nạp - chỉ cho y tăng già
lê được may với sự chấp vá nhiều vải vụng).
Câu “Dù thịt máu trong thân khô cạn, chỉ còn lại da, gân,
xương thì bản thân vẫn dốc lòng tu tập để chứng đắc những gì
có thể chứng đắc với nghị lực, năng lực, và tận lực của bậc
trượng phu” cũng là sự phát nguyện của Đức Bồ Tát trước khi
thành đạo (Trung Bộ MN I 481). Bản Sớ Giải đi xa hơn với
liệt kê về sự tinh tấn với bốn chi phần
(caturaṅgasamannāgataṃ viriyaṃ) (da, gân, xương, thịt) có vẻ
như không cần thiết để liệt kê.
Theo Sớ Giải thì câu “Không thể chứng đạt những điều cao quý
bằng cái tầm thường” hàm nghĩa là để thành tựu quả vị vô
sanh giải thoát không thể với tín, tấn, niệm, định, tuệ ở
mức độ yếu kém mà phải là sự phát huy cực điểm.
Chữ maṇḍapeyya trong câu “phạm hạnh là tinh lương” được Sớ
Giải chú thích: maṇḍa là phần tốt nhất của sữa để uống
(pātabba) trong nghĩa đen. Ở đây có nghĩa là phần tinh hoa
hay tính tuý. Có ba tinh hoa: 1. Tinh hoa giáo thuyết
(desanāmaṇḍa) chỉ cho tứ diệu đế. 2. Tinh hoa của thành phần
tu học (paṭiggahamaṇḍa)
chỉ cho những thánh đệ tử kiệt xuất trong giáo pháp. 3. Tinh
hoa của phạm hạnh (brahmacariyamaṇḍa) chỉ cho giới, định,
tuệ.
Cụm từ “satthā sammukhībhūto - bậc Đạo Sư còn hiện tiền –
nói lên thắng duyên cho người tu tập khi Đức Thế Tôn còn trụ
thế.
Câu “Tesaṃ te kārā amhesu mahapphalā bhavissanti”, có dị bản
với chữ “tesaṃ vo
kārā”. Theo Sớ Giải của Trung Bộ thì chữ kāra ở đây chỉ cho
sự tạo phước (Yaṃ kho
idaṃ pubbe pariññātaṃ tattha me (no) evarūpā kārā karīyan.
MN I 140) chứ không phải là “khiêm tốn, ít ỏi (vokārā)”
Câu “ Alam eva appamādena sampādetuṃ - phấn đấu không xao
lãng” cũng được ghi là di ngôn sau cùng của Đức Phật trước
khi viên tịch.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |