|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 22 tháng 02, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Mười Lực (S. ii, 29)
Bài 23. Kinh Cận Duyên (Upanisasuttaṃ)
-TỪ TRẦM LUÂN ĐẾN GIẢI THOÁT.
Phật giáo Bắc Truyền có câu “niết bàn và sanh tử không
khác”. Đối với người học kinh điển Pāli thì có thể nói là
“tuệ giác giải thoát thấy sanh tử và niết bàn là một chuỗi
liên hoàn”. Phải thấy được những tác động gần mới áp dụng
được lời Phật dạy trong cuộc tu. Một điểm rất quan trọng
không thể không nói đến ở đây là sự chuyển hướng từ trầm
luân đến giải thoát chính là lòng tìn sanh khởi tự sự hiểu
biết khổ đau. Trong cảnh giới của trí giác thì dù nhiên liệu
dơ hay sạch đều mang khả tính tạo nên ngọn lửa.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘jānato ahaṃ, bhikkhave,
passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi, no ajānato no apassato.
Kiñca, bhikkhave, jānato kiṃ passato āsavānaṃ khayo hoti?
Iti rūpaṃ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo, iti
vedanā...pe... iti saññā... iti saṅkhārā... iti viññāṇaṃ iti
viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamoti. Evaṃ kho,
bhikkhave, jānato evaṃ passato āsavānaṃ khayo hoti’’.
Ngự ở Sāvatthi.
Này chư Tỳ khưu,
ta nói sự đoạn tận các lậu hoặc dành
cho người thấy và biết chứ không dành cho người không
thấy, không biết.
Này chư Tỳ khưu, thế nào sự đoạn tận các lậu hoặc dành cho
người thấy và biết?
"Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây
là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là
tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng đoạn diệt. Ðây là
hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt. Ðây là
thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt".
Như vậy là sự đoạn tận các lậu hoặc dành cho người thấy và
biết
‘‘Yampissa taṃ, bhikkhave, khayasmiṃ khayeññāṇaṃ, tampi
saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave,
khayeñāṇassa upanisā? ‘Vimuttī’tissa vacanīyaṃ.
Vimuttimpāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ.
Kā ca, bhikkhave, vimuttiyā upanisā? ‘Virāgo’tissa
vacanīyaṃ. Virāgampāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no
anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave, virāgassa upanisā?
‘Nibbidā’tissa vacanīyaṃ. Nibbidampāhaṃ, bhikkhave,
saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave,
nibbidāya upanisā? ‘Yathābhūtañāṇadassana’ntissa vacanīyaṃ.
Yathābhūtañāṇadassanampāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi,
no anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave, yathābhūtañāṇadassanassa
upanisā? ‘Samādhī’tissa vacanīyaṃ. Samādhimpāhaṃ, bhikkhave,
saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ.‘‘Kā ca, bhikkhave,
samādhissa upanisā? ‘Sukha’ntissa vacanīyaṃ. Sukhampāhaṃ,
bhikkhave,
saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave, sukhassa
upanisā? ‘Passaddhī’tissa vacanīyaṃ. Passaddhimpāhaṃ,
bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ. Kā ca,
bhikkhave, passaddhiyā upanisā? ‘Pītī’tissa vacanīyaṃ.
Pītimpāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ. Kā
ca, bhikkhave, pītiyā upanisā? ‘Pāmojja’ntissa vacanīyaṃ.
Pāmojjampāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ.
Kā ca, bhikkhave, pāmojjassa upanisā? ‘Saddhā’tissa
vacanīyaṃ. Saddhampāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no
anupanisaṃ.
Này chư Tỳ khưu,
ta nói đoạn diệt trí trong sự đoạn diệt có nhân tác động chứ
không phải không có nhân tác động. Nhân tác động của đoạn
diệt trí là gì? Nên được nói chính là giải thoát.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
giải thoát
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
giải thoát
là gì? Nên được nói chính là
ly tham.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
ly tham
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
ly tham
là gì? Nên được nói chính là
sự nhàm chán.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
sự nhàm chán
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
nhàm chán
là gì? Nên được nói chính là
sự hiểu biết và cái nhìn thuận pháp.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
sự hiểu biết và cái nhìn thuận pháp
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
sự hiểu biết và cái nhìn thuận pháp
là gì? Nên được nói chính là định.
Này chư Tỳ khưu, ta nói định
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của định
là gì? Nên được nói chính là
lạc.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
lạc
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
lạc
là gì? Nên được nói chính là
khinh an.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
khinh an
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
khinh an
là gì? Nên được nói chính là .
Này chư Tỳ khưu, ta nói
hỷ
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
hỷ
là gì? Nên được nói chính là
hân hoan.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
hân hoan
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
hân hoan
là gì? Nên được nói chính là
lòng tin.
‘‘Kā ca, bhikkhave, saddhāya upanisā? ‘Dukkha’ntissa
vacanīyaṃ. Dukkhampāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no
anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave, dukkhassa upanisā? ‘Jātī’tissa
vacanīyaṃ. Jātimpāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no
anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave, jātiyā upanisā? ‘Bhavo’tissa
vacanīyaṃ. Bhavampāhaṃ, bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no
anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave, bhavassa upanisā?
‘Upādāna’ntissa vacanīyaṃ. Upādānampāhaṃ, bhikkhave,
saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ. Kā ca, bhikkhave,
upādānassa upanisā? ‘Taṇhā’tissa vacanīyaṃ. Taṇhampāhaṃ,
bhikkhave, saupanisaṃ vadāmi, no anupanisaṃ.
‘‘Kā ca, bhikkhave, taṇhāya upanisā? ‘Vedanā’tissa
vacanīyaṃ...pe... ‘phasso’tissa vacanīyaṃ...
‘saḷāyatana’ntissa vacanīyaṃ... ‘nāmarūpa’ntissa
vacanīyaṃ... ‘viññāṇa’ntissa vacanīyaṃ... ‘saṅkhārā’tissa
vacanīyaṃ. Saṅkhārepāhaṃ, bhikkhave, saupanise vadāmi, no
anupanise. Kā ca, bhikkhave, saṅkhārānaṃ upanisā?
‘Avijjā’tissa vacanīyaṃ.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
lòng tin
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
lòng tin
là gì? Nên được nói chính là
sự đau khổ.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
sự đau khổ
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
sự đau khổ
là gì? Nên được nói chính là
sự sanh.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
sự sanh
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
sự sanh
là gì? Nên được nói chính là
hữu.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
hữu
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
hữu
là gì? Nên được nói chính là
thủ.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
thủ
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
thủ
là gì? Nên được nói chính là ái.
Này chư Tỳ khưu, ta nói ái
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của ái
là gì? Nên được nói chính là
thọ.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
thọ
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
thọ
là gì? Nên được nói chính là
xúc.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
xúc
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
xúc
là gì? Nên được nói chính là
lục nhập.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
lục nhập
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
lục nhập
là gì? Nên được nói chính là
danh sắc.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
danh sắc
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
danh sắc
là gì? Nên được nói chính là
thức.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
thức
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
thức
là gì? Nên được nói chính là
hành.
Này chư Tỳ khưu, ta nói
hành
có nhân tác động chứ không phải không có nhân tác động. Nhân
tác động của
X
là gì? Nên được nói chính là
vô minh.
‘‘Iti kho, bhikkhave, avijjūpanisā saṅkhārā, saṅkhārūpanisaṃ
viññāṇaṃ, viññāṇūpanisaṃ nāmarūpaṃ, nāmarūpūpanisaṃ
saḷāyatanaṃ, saḷāyatanūpaniso phasso, phassūpanisā vedanā,
vedanūpanisā taṇhā, taṇhūpanisaṃ upādānaṃ, upādānūpaniso
bhavo, bhavūpanisā jāti, jātūpanisaṃ dukkhaṃ, dukkhūpanisā
saddhā, saddhūpanisaṃ pāmojjaṃ, pāmojjūpanisā pīti,
pītūpanisā passaddhi, passaddhūpanisaṃ sukhaṃ, sukhūpaniso
samādhi, samādhūpanisaṃ yathābhūtañāṇadassanaṃ,
yathābhūtañāṇadassanūpanisā nibbidā, nibbidūpaniso virāgo,
virāgūpanisā vimutti, vimuttūpanisaṃ khayeñāṇaṃ.
Này chư Tỳ khưu,
như vậy
vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc;
danh sắc duyên
lục nhập;
lục nhập
duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ
duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín;
tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an;
khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như
chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham;
ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên đoạn diệt
trí.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, uparipabbate thullaphusitake deve
vassante taṃ udakaṃ yathāninnaṃ pavattamānaṃ
pabbatakandarapadarasākhā paripūreti.
Pabbatakandarapadarasākhāparipūrā kusobbhe paripūrenti.
Kusobbhā paripūrā mahāsobbhe paripūrenti. Mahāsobbhā
paripūrā kunnadiyo paripūrenti. Kunnadiyo paripūrā
mahānadiyo paripūrenti. Mahānadiyo paripūrā mahāsamuddaṃ
paripūrenti.
‘‘Evameva kho, bhikkhave, avijjūpanisā saṅkhārā,
saṅkhārūpanisaṃ viññāṇaṃ, viññāṇūpanisaṃ nāmarūpaṃ,
nāmarūpūpanisaṃ saḷāyatanaṃ, saḷāyatanūpaniso phasso,
phassūpanisā vedanā, vedanūpanisā taṇhā, taṇhūpanisaṃ
upādānaṃ, upādānūpaniso bhavo, bhavūpanisā jāti, jātūpanisaṃ
dukkhaṃ, dukkhūpanisā saddhā, saddhūpanisaṃ pāmojjaṃ,
pāmojjūpanisā pīti, pītūpanisā passaddhi, passaddhūpanisaṃ
sukhaṃ, sukhūpaniso samādhi, samādhūpanisaṃ
yathābhūtañāṇadassanaṃ, yathābhūtañāṇadassanūpanisā nibbidā,
nibbidūpaniso virāgo, virāgūpanisā vimutti, vimuttūpanisaṃ
khayeñāṇa’’nti. Tatiyaṃ.
Này chư Tỳ khưu,
giống như mưa trên đỉnh núi chày xuống triền núi, làm đầy
các ao, vũng, con suối.
Từ đó nước chảy vào các hồ nhỏ, hồ lớn. Từ các hồ có
những giòng chày ra sông. Từ sông nước chảy ra biển lớn.
Này chư Tỳ khưu,
cũng
vậy vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh
sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ;
thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh;
sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan
duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên
định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên
yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải
thoát duyên đoạn diệt trí.
Chú Thích
Chữ upanisa có nghĩa là nguyên nhân gần, thuật ngữ Hán Việt
là cận duyên. Dịch dễ hiểu là nhân tác động chỉ cho ảnh
hưởng trực tiếp (upanisīdati phalaṃ etthā ti kāraṇaṃ
upanisā)
Bài nầy rất quan trọng đối với cả hai pháp học và pháp hành.
Ở đây vòng sanh tử và hành trình giái thoát kết nối thành
chuỗi liên hoàn. Hiểu biết và ứng dụng cụ thể là kinh nghiệm
và khả năng phải có của hành giả tu tập.
Sự đoạn tận trong “đoạn tận trí” được hiểu là quả vị a la
hán.
Theo Sớ giải thì Đức Phật mở đầu với đỉnh điểm là quả vị vô
sanh ứng cúng với đoạn diệt trí đối với sự đoạn lậu
(khayasmiṃ khaye ñāṇaṃ)và hồi quán trí (paccavekkhaṇañāṇa)
của chư vị a la hán.
Tác động của trầm luân sanh tử, thập nhị nhân duyên, trong
bài kinh nầy dùng chữ “khổ đau – dukkha – thay vì già chết,
sầu, bi, khổ, ưu, ai.
Thấy và biết theo thực tướng (yathābhūtañāṇadassana) hay tri
kiến như thật có nghĩa là sự thật thế nào thì thấy biết như
vậy.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |