|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 27 tháng 02, 2023
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 33. NGHIỆP BÁO-NGHIỆP GIẢI THOÁT NGHIỆP I.TỔNG QUAN
Tất cả Phật Pháp dù với đề tài nào, nội dung nào cũng liên kết
với nhau và là một phần của tổng thể. Tất cả đều chỉ vào
sự thật và có cùng mục đích giải thoát khổ đau. Những
pháp được đề cập trong kinh điển có thể mang nhiều tên
gọi và đề cập những điểm khác biệt nhưng do được nói từ
nhiều góc nhìn và cho những mục đích riêng. Chính vì
điểm nầy có những đề tài là một phần của chủ đề lớn hơn
hoặc giả mang tính đặc thù cần đơn cử.
Giáo lý duyên khởi (paṭiccasamuppāda)
minh hoạ toàn bộ sự hiện hữu của chúng sanh và bao phủ
nhiều lãnh vực của Phập pháp nên có Phật ngôn: Ai thấy
duyên khởi là thấy Pháp (M. I. 190-91). Phần lớn các học
giả nhận rằng giáo lý duyên khởi quá sâu xa tế nhị. Rất
khó để lãnh hội toàn bộ. Nên không có một bài kinh nào
trình bày tất cả những khía cạnh của duyên khởi.
Có lẽ trong những trình bày liên hệ tới duyên khởi thì nghiệp
báo là phần thường được giảng giải rộng rãi. Có hai lý
do: thứ nhất, nghiệp báo thường được ưa thích được lắng
nghe bởi đa số quần chúng, và thứ hai, là hiểu được
nghiệp báo là có được nhịp cầu để hiểu duyên khởi. Quả
thật nếu hiểu nghiệp báo thì sự tìm hiểu duyên khởi dễ
dàng hơn. Trong tam luân (vaṭṭa)
của duyên khởi thì nghiệp báo bao gồm hai phần:
nghiệp luân và quả luân.
Giáo lý duyên khởi tập chú vào hiện tượng tự nhiên của của
sống trong cái nhìn tổng thể chứ không đơn cử một khía
cạnh riêng lẻ. Chính vì điểm nầy giáo lý nghiệp báo mang
ý nghĩa thực dụng cho cuộc sống hằng ngày vì đề cập đến
cái gì nên làm hay không nên làm hằng ngày và trách
nhiệm của mỗi người đối với sự hiện hữu. Có thể nói về
phương diện nầy nghiệp báo là đề tài quan trọng nhất
trong duyên khởi mà những để tài khác mang tính bổ trợ.
Dựa trên những điều đề cập trên thì duyên khởi là sự trình bày
sâu rộng của nghiệp báo. Và ngược lại, nghiệp báo là sự
trình bày thực dụng của duyên khởi. Điều nầy được Đức
Phật dạy: “Bậc trí hiểu duyên khởi, thiện xảo trong
nghiệp và quả của nghiệp, nhận rõ sở hành theo sự thật”.
(M. II. 196; Sn. 123).
Bài học ngày 5.12.2022
NHỮNG
HIỂU BIẾT CĂN BẢN VỀ NGHIỆP
Nghiệp là một danh từ phổ thông mang nhiều ý
nghĩa dị biệt tuỳ theo chỗ dùng và cách dùng.
Ngay cả với người Phật tử thuật ngữ nghiệp
(kamma) thường khi hiểu không chính xác theo Phật
học. Một thí dụ điển hình là chữ nghiệp thường được hiểu
mà “nghiệp xấu” như trong câu nói “làm việc đó sẽ mang
nghiệp” hay một câu trong Truyện Kiều “đã mang lấy
nghiệp vào thân”. Những cách dùng như vậy rất phiến diện
theo Phật học.
Ý nghĩa tinh xác nhất của nghiệp là chủ tâm tạo
tác hay “tư – cetanā’. Thuộc tánh “tư – cetanā’ nằm trong hành uẩn, là một trong 52 thuộc tánh
của tâm thức được Đức Phật dạy chính là nghiệp. Tư ở đây
mang nghĩa chủ trương tạo tác. Giống như trong một hãng
xưởng có nhiều nhân sự như vị giám đốc điều hành (CEO)
là người chịu trách nhiệm cho đường hướng hoạt động.
Trong ý nghĩa phổ quát thì nghiệp là sở hành qua
thân, ngữ, ý. Đây là những biểu lộ của nghiệp. Đôi khi cũng được gọi là hành
(saṅkhāra) hay
hữu (bhava) nhưng trong duyên khời. Những từ thuật ngữ
nầy nêu lên “nghiệp đã định hình” qua những hành vi như
lời nói, hành động, ý
nghĩ ...v..v..
Mặc dù nghiệp lực có cả hai biệt nghiệp và cộng
nghiệp nhưng trong Phật Pháp thường nhấn mạnh nghiệp là
sở hành của mỗi chúng sanh ngay cả trong sự kết hợp với
chúng sanh khác.
Đây là điểm rất tế nhị trong sự khác biệt trong cách
dùng giữa Phật Pháp và thường thức. Người đời thường
nghĩ tới nghiệp lực như sự đưa đẩy đối với vận mệnh
chung của một dân tộc, một đất nước, một thời đại mà gần
như cá nhân không làm gì khác hơn được. Trong lúc theo
Phật học thì nghiệp báo thường được đề cập như nhân quả
của mỗi cá nhân mà mỗi chúng sanh phải chịu trách nhiệm
và có thể thay đổi qua hành động tích cực.
Định luật về nghiệp là một trong năm định luật
của vũ trụ do đó không nên hiểu tất cả đều do nghiệp.
Năm định luật là: 1. Định lý về Utu (utu-niyāma) chỉ
chung cho năng lượng, nhiệt lượng, vật lý, thời tiết. 2.
Định lý về chủng tử (bīja-niyāma) là sự truyền chủng,
tái tạo, giống nào tạo loại đó.
3. Định lý về tâm
(citta-niyāma) là định lực cố nhiên của tâm thức như về
tiềm thức, hoạt thức, thứ lớp sanh diệt của các thứ tâm
trong một diễn trình tâm. 4. Định lý về nghiệp
(kamma-niyāma)
là sự tương quan nhân quả giữa hành động tạo tác
và quả nghiệp. 5. Định lý về pháp tánh (dhamma-niyāma)
là nguyên tắc chung của vạn hữu thí dụ sự sanh diệt là
bản chất của tất cả pháp hữu vi.
Trong văn hoá Tây Phương ngày nay chữ karma
(viết theo Sanskrit) mang ý nghĩa là sự tạo tác trong
đời quá khứ.
Ý nghĩa nầy rất hẹp theo Phật học. Mặc dù được dùng phổ
thông, đặc biệt là trong khoa bói toán, nhưng không nên
nhầm lẫn với ý nghĩa chữ nghiệp trong Phật Pháp. Cũng
nên nói thêm là trong văn hoá Ấn Độ - nơi khởi nguồn của
dòng lịch sử Đạo Phật - chữ nghiệp được dùng hết sức phổ
thông. Có những khác biệt lớn lao giữa cái hiểu về
nghiệp giữa Phật Pháp và Ba la môn giáo mà người học
Phật cần lưu tâm.
Bài
học ngày
12.12.2022
CÁC
LOẠI NGHIỆP
Nghiệp được phân loại với nhiều bảng liệt kê trong
Tam Tạng kinh điển. Ba phạm trù sau đây có thể được
xem là thường thấy và là căn bản để hiểu về nghiệp
theo Phật Pháp. Những phân loại nầy dù tương đối dễ
hiểu trên phương diện văn tự nhưng mang nhiều ý
nghĩa tế nhị cần được đào sâu.
Nghiệp chia theo căn cội (hetu)
Căn
cội hay nhân là chữ
dịch của thuật ngữ hetu. Có tất cả sáu nhân
là tham (lobha), sân (dosa), si (moha), vô tham
(alobha), vô sân (adosa), vô si (amoha). Ba nhân đầu
là tham, sân, si thuộc về nhóm bất thiện. Ba nhân
sau là vô tham, vô sân, vô si thuộc về nhóm thiện.
Ba nhân thiện không phải chỉ đơn giản là không tham,
không sân, không si
mà còn mang ý nghĩa đối ngược xa hơn: vô tham
là trạng thái không vướng mắc, vô sân là trạng thái
hoà dịu mát mẽ, vô si là trí tuệ sáng suốt.
Không có sự tạo tác hay nghiệp nào nằm ngoài căn cội
bất thiện hay thiện. Nói cách khác đã là nghiệp thì
chỉ có thể là bất thiện hay là thiện chứ không thể
nằm ngoài hai trạng thái nầy. Nghiệp theo Phật Pháp
không có trung tính trên phương diện căn cội.
Sự
khéo léo hay thiện xảo trong tạo tác được xem là do
căn cội. Những thể hiện nào bắt nguồn từ tham, sân,
si đều là vụng về được xem là ô nhiễm. Trái lại
những hành động nào bắt nguồi từ vô tham, vô sân, vô
si là thiện xảo hay được xem là trong sạch.
Nghiệp chia theo cửa ngõ (dvāra)
Có
ba cửa thể hiện sở hành của chúng sanh là thân
nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp. Thân nghiệp
(kāyakamma) là hành động của thân như sát
sanh, trộm cắp … Ngữ nghiệp (vacīkamma) là nghiệp thể hiện qua ngôn từ như nói dối, nói
chia rẽ … Ý nghiệp
(manokamma)
là nghiệp thể hiện qua tư duy như tham ác, sân ác,
tà kiến ...
Khi phân chia nghiệp theo thân, ngữ, ý thì dễ dàng
để nói về bất thiện nghiệp (ba
nghiệp bất thiện
thuộc thân, bốn
nghiệp bất thiện thuộc ngữ, ba nghiệp bất
thiện thuộc ý). Nhưng khi nói về thiện nghiệp thì
thường là kết hợp cả ba như bố thí, trì giới
… Mặc dù thập thiện và thập ác là hai bảng liệt kê
theo thân, ngữ, ý nhưng trên phương diện thiện
nghiệp thì không nói hết (…)
Chữ
khẩu nghiệp ở đây dịch là ngữ nghiệp vì đôi khi sự
ăn uống được xem là nghiệp qua cửa miệng nhưng đó
thuộc về thân. Trong lúc sự biểu đạt qua ngôn từ như
viết lách, email, tin nhắn ngày nay không dùng miệng
nói nhưng nên hiểu là tạo tác qua ngôn từ nên dịch
là ngữ nghiệp. Chữ vacī trong Phạn ngữ là lời nói.
Trong ba nghiệp vừa kể thì ý nghiệp tạo quả nặng
nhất. Trong ý nghiệp thì tà kiến được xem là xấu
nhất và mang lại nhiều bất hạnh nhất.
Nghiệp chia theo quả báo (vipāka)
Sự
tương quan giữa nhân và quả là một phạm trù cần được
hiểu khác hơn với sự phân chia theo căn cội. Ở đây
có bốn thứ nghiệp được nói đến:
a.
Nghiệp đen kết quả đen. Như hành động sát sanh tạo
nên quả chết yểu.
b.
Nghiệp trắng kết quả trắng. Như hành động cung kính
bậc đáng tạo quả cao sang.
c.
Nghiệp trắng lẫn đen tạo quả đen lẫn trắng. Là hành
động mang cả hai bản chất thiện và bất thiện như một
người bố thí trong đó có tính cạnh tranh để người
khác không làm được như mình. Đa số sở hành của con
người thuộc loại nghiệp nầy.
d.
Nghiệp không trắng không đen kết quả không đen không
trắng. Đây là
nghiệp đoạn nghiệp. Nói cách khác là sự tu
tập dẫn đến vượt thoát nghiệp lực như tu thất giác
chi hay bát chánh đạo.
Sự
phân chia nghiệp theo phạm trù nầy có khác với phạm
trù đầu tiên ở điểm là nói về hiện tượng hơn là bản
chất. Nói về bản chất thì thiện và bất thiện không
thể pha trộn. Nói về về hiện tượng thì có sự hỗn
hợp.
Khái
niệm về thứ nghiệp “không trắng không đen kết quả
không đen không trắng” thường ít khi được hiểu chính
xác, ngay cả đối với người Phật tử, vì người ta
thường nghĩ là trong sự tu tập “công phu tạo nên
công đức” mà công đức tương đồng với phước báu. Mặc
dù Phật pháp có nói đến “phước vô lậu” nhưng cứu
cánh giải thoát là vượt lên trên thiện ác, nghiệp
quả.
Bài học ngày 19.12.2022
THIỆN ÁC THEO NGHIỆP BÁO
Nói đến nghiệp báo là nói đến thiện ác.
Không thể hiểu nghiệp báo nếu không phân định rõ
ràng về thiện ác. Có khái niệm khác gắn liền với
thiện ác nhưng khiến cho đề tài nầy phức tạp và tạo
nhiều tranh luận đó là khái niệm tốt xấu. Nói theo
cách
đơn giản cái gì thiện là tốt, ác là xấu. Thực tế thì
thiện ác và tốt xấu không phải luôn gắn liền mà
thường khi phải phân biệt rõ dựa trên nhiều khía
cạnh. Có thể làm rõ điều nầy qua một số thí dụ nhưng
món ăn ngon không hẳn là món ăn tốt cho cơ thể; hoặc
một người trung quân không nhất thiết là ái quốc;
hay một học trò giỏi không nhất thiết là học trò
ngoan.
Nghiệp tốt đúng nghĩa là nghiệp hiền thiện.
Theo Tam Tạng thì có bốn yếu tố để lượng định một
tạo tác có phải là nghiệp lành hay không:
a.
Ārogya (lành mạnh) chỉ cho trạng thái tâm không chi
phối bởi phiền não, hay nói theo Thắng Pháp, là
không đi với thuộc tánh bất thiện (akusala
cetasika).
b.
Anavajja (vô tội, vô hại) là đặc tính không mang lại
tai hại cho bản thân và tha nhân.
c.
Kosalla sambhūta (sáng suốt) là hành động có hiểu
biết; đúng với sự thật; có chánh tư niệm (yoniso
manasikāra).
d.
Sukha vipāka (tạo quả an lạc) là chất liệu an lạc,
nhẹ nhàng, hoan hỷ trong hiện tại và quả dị thục tốt
đẹp mai sau.
Nghiệp lành đi chung với chất liệu hiền thiện hay
tâm thái tốt.
Trong lúc nhiều hành động được đánh giá bởi người
khác thì có phương diện chỉ có thể tự bản thân nhận
ra được đó là trạng thái tâm. Kinh điển nêu ra rất
nhiều tâm thái hiền thiện nhưng theo Ngài Payutto có
thể tóm tắt theo năm nhóm sau:
a.
Vững chãi. Là sự không giao động, tán loạn, dễ bị
chi phối.
b.
Thanh tịnh. Là không bị uế nhiễm, vẫn đục bởi phiền
não
c.
Thảnh thơi. Là không bị cột trói, vây bủa, bức bách
d.
Nhu nhuyến. Là dễ dàng sử dụng
e.
An tịnh. Là không khủng hoảng, không bất an, không
sầu muộn.
Nghiệp thiện và bất thiện có thể quyện lấy nhau.
Nghiệp thiện và bất thiện có khi pha trộn trở nên
khó phân biệt. Ăn năn vì phạm giới hay lo lắng việc
đã làm có tạo nghiệp xấu hay không đó là vài thí dụ
cụ thể. Quan tâm đến giới hạnh hay nghiệp báo đó là
điều tốt thế nhưng sự cắn rứt lo âu không phải là
điều thiện. Sự hỗn hợp nầy là cái gì rất thường xẩy
ra trong thực tế của cuộc sống.
Thiện ác và thanh tịnh, uế nhiễm là một phương diện
khác phải cân nhắc.
Một hành động thiện có thể tạo bốn hiệu ứng:
a.
Tự tâm an lạc hay hưởng thụ quá trình tức là niềm
hoan hỷ khi đang làm.
b.
Quả dị thục tốt là quả của của nghiệp lành như giàu
có là quả phước của bố thí
..v.v..
c.
Thành tựu ý nguyện như một người muốn trở thành
chuyển luân đại đế tạo phước và phát nguyện cuối
cùng thành tựu.
d.
Đưa đến chứng đắc thánh quả
Những hiệu ứng trên đều tốt nhưng cũng có thể bị xen
lẫn bởi ngã chấp, ham muốn, và vướng mắc. Những
trạng thái nầy là ô nhiễm khó thấy chỉ có sự tu tập,
hiểu biết Phật pháp mới vượt khỏi.
Tốt xấu theo phạm trù.
Nói
đến tốt xấu thì theo Phật học tất cả nghiệp đều có
vô minh và khát ái làm động lực tế nhị phía sau. Nói
đến phúc nghiệp thì có phước hữu lậu (opadhikapuñña)
và phước vô lậu (anopadhikapuñña hay
nirūpadhipuñña). Phước hữu lậu là quả phước trong
trầm luân sanh tử như sắc đẹp, giàu sang, quyền quý.
Phước lậu trong cách nói trên phương diện giác ngộ
giải thoát là hệ luỵ chứ không phải là điều đáng
mong cầu.
Tốt xấu do hướng đi tới.
Một trong những phân nghiệp thiện ác là quả báo khổ
lạc. Thế nhưng Đức Phật cũng có bốn trường hợp tạo
tác:
a.
Hiện tại khổ, tương lai khổ
b.
Hiện tại khổ, tương lai lạc
c.
Hiện tại lạc, tương lai khổ
d.
Hiện tại lạc, tương lai lạc
Chỉ lấy sự an lạc, khổ đau trong hiện tại không đủ để
nói lên tánh chất tốt xấu của nghiệp. Về điểm nầy
cần tầm nhìn xa rộng. Tất nhiên đây là một trong
những phần vượt tầm nhìn của đa số chúng sanh.
Thiện ác từ cái nhìn khách quan.
Mặc dù Phật pháp khuyến khích sự tự thân thể nghiệm
những gì gọi là tốt xấu, khổ vui. Thế nhưng sự hạn
chế trong hiểu biết cá nhân dễ tạo ra cái nhìn phiến
diện. Đức Phật dạy trong nhiều bài kinh là một người
hành động nên xét là điều đó “có được bậc trí tán
thán hay khiển trách”. Và tất nhiên một lượng định
khách quan khác là “đối chiếu với kinh, đối chiếu
với luật” hay Tam Tạng Kinh Điển. Tư ý chủ quan có
thể tạo nên những sai lầm đáng tiếc.
Bài
học ngày
26.12.2022
QUẢ CỦA NGHIỆP
Quả của nghiệp là đề tài gây nhiều ngộ nhận và tranh luận.
Quan niệm “làm lành được vui, làm ác bị khổ”
thường rất phổ biến khi nói về quả của nghiệp.
Nhưng chính điều nầy tạo nên những hoài nghi vì
trên thực tế nhiều người sống với nhiều thủ đoạn
ác độc vẫn thành công thăng tiến trong cuộc sống
trong lúc cũng có nhiều người hiền lương lại lận
đận.
Để làm rõ điều nầy trước hết cần nói về bốn phạm trù chiêu cảm
của nghiệp quả.
a.
Trên bình diện nội tâm. Một người tạo thiện nghiệp với thiện tâm đúng
nghĩa thì tâm thanh thản, an lạc. Chính hành
động hiền thiện tác động sanh khởi những tâm
thái nhẹ nhàng mà sau nầy khiến người đó vẫn
tiếp tục an lạc. Thí dụ như một người ra sức
giúp đở những người khốn khó. Sau nầy nghĩ tới
thường thấy hạnh phúc khi mình đã làm được việc
đó. Hệ quả nầy thường dễ nhận ra trong đời hiện
tại.
b.
Trên bình diện cá tính. Nghiệp thường làm tạo nên thói quen hay tập tính.
Thường nghiệp tốt đẹp tạo thói quen tốt, và từ
đó, tạo nên cá tánh tốt đẹp. Do tập tính tốt mà
trong giòng sanh tử chúng sanh có cá tánh hiền
thin hay hung ác
c.
Trên bình diện bối cảnh sống sung túc hay thiếu thốn. Đây là điểm mà người
ta thường nghĩ tới. Sự giàu sang, được yêu
thương, ngoại hình xinh đẹp, thông minh …là
những quả dị thục của nghiệp Những quả nây trỗ
sanh trong nhiều trường hợp khác nhau đôi khi
hoàn toàn không tương thích với hiện tại. Thí dụ
một người lười biếng bất tài nhưng trúng số độc
đắc nên có nhiều tiền bạc. Lười biếng không tạo
nên tài sán. Phước do nghiệp quá khứ nào đó trỗ
sanh thì phút chốc giàu có.
d.
Trên bình diện xã hội. Vận mệnh của một quốc gia hay trào lưu của thời đại
chịu chi phối bởi một cá nhân như nhà độc tài,
hay nhà văn hoá có ảnh hưởng lớn. như trường hợp
Khổng tử có sức dẫn đạo lớn trong văn hoá Đông
phưong xuyên suốt nhiều thế hệ.
Sự hiện hữu luôn là hỗn hợp của nhiều yếu tố. Những trộn lẫn
các quy luật về thời tiết, chủng tử, nghiệp lực,
tâm, và pháp tạo nên sự phức tạp hết sức khó
nhận thức rõ ràng.
Nghiệp lực ảnh hưởng tâm và cá tánh là điều mà một người tu
tập có thể chuyển hoá trong lúc hai điều sau
thường nằm ngoài khả năng
chuyển đổi.
Theo Phật
Pháp thì mỗi chúng sanh vốn tạo vô số nghiệp
thiện và bất thiện nhưng sự trỗ quả lành tuỳ
thuộc vào một số lý do như sống ở vùng đất tốt
lành (paṭirūpadesavāsa), có thiện hữu
(kalyāṇamittatā), và thường lui tới các những
người đức hạnh (sappurisūpassaya).
Phải hiểu về những yếu tố xa gần, nội tại ngoại tại, trực tiếp
gián tiếp thì mới có cái nhìn tương đối chính
xác về quả của nghiệp. Cái nhìn chung vẫn y cứ
trên điểm chính như Phật ngôn: Yādisaṃ vapate bījaṃ
Hạt giống nào đã gieo
Nhìn đại lược thì kệ ngôn ngắn gọn bao gồm cả những định lý về
chủng tử, về tâm, về nghiệp. Để nhận rõ chính
xác ý nghĩa bài kệ nầy cần có những khía cạnh
được bàn trong phần tiếp theo.
Bài học ngày 2.1.2023
NHỮNG CHI PHỐI ĐỐI VỚI QUẢ CỦA NGHIỆP
Khi nói về quả của nghiệp không đơn thuần là sự tương xứng khổ
vui đối với nghiệp thiện ác mà còn nhiều yếu tố
chi phối tạo nên tình trạng phức tạp. Thí dụ
xoài cát Hoà Lộc là giống xoài được xem là rất
ngon nhưng nếu lấy hạt giống trồng nơi khác thì
không được như ở Hoà Lộc vì mặc dù giống xoài là
nhân tố chính nhưng còn tuỳ thuộc vào những yếu
tố khác như vùng đất, thổ nhưỡng, sự chăm sóc….
Trong Tăng Chi Bộ (A II. 218 -221) đề cập đến
bốn sự chi phối đối với quả của nghiệp. Bốn sự
chi phối nầy bao gồm cả hai phương diện trợ
duyên (sampatti) và chướng duyên (vipatti).
Những chi phối nầy khiến cho nghiệp trổ quả mạnh
hay yếu, lợi thế hay thất thế tuỳ theo sự pha
trộn. Bốn chi phối đó là:
A.
Nơi sanh (gati). Yếu tố nầy bao gồm sanh quán,
quốc độ, cõi tái sanh. Chính môi trường sống
khiến một số quả của nghiệp nào đó không có cơ
hội trổ sanh trong lúc những nghiệp khác là
thành tựu. Thí dụ khi một chúng sanh thọ sanh
vào cõi chư thiên có một số quả nghiệp không trỗ
sanh như chuyện hên xui trong thi cử vì cảnh
giới đó không có nền giáo dục như nhân loại.
Hoặc một
người rất có tài nhưng sanh trong một đất nước
không trọng giáo dục thì chỉ được biết là người
có kiến văn khá nhưng nếu sanh ở một quốc gia
khác thì có thể có hàm giáo sư đại học. Thọ sanh
vào cảnh giới nào đó là nguyên nhân khiến một số
nghiệp quá khứ không có cơ duyên trỗ quả.
B.
Thân tướng (upadhi). Ngoại hình của một chúng
sanh có ảnh hưởng nhiều đến những thuận nghịch
đối với quả nghiệp. Dung mạo có thể tạo nên
thiện cảm hay sự kỳ thị ở người khác qua ấn
tượng ban đầu. Thí dụ một số người Á châu có
ngoại hình nhỏ bé so với người da trắng khi đi
xin việc làm mà công việc là địa vị lãnh đạo thì
thường khó được nhận vào làm việc mà phải mất
thời gian dài người ta mới thật sự trọng thực
lực của mình. Hình tướng cao thấp, lớn nhỏ, đẹp
xấu có ảnh hưởng lớn trong quan hệ xã hội, chính
điểm nầy là thí dụ điển hình cho thấy ngoại hình
có ảnh hưởng nhiều đến sự trỗ sanh của nghiệp
quả.
C.
Thời thế (kāla). Cuộc sống có phần lệ thuộc vào
trào lưu, giai đoạn thuận nghịch. Có những tinh
anh không được trân trọng trong thời chiến tranh
mà lại rất được ưa chuộng trong thời bình. Điều
nầy như ghi nhận thường có là “thời thế tạo anh
hùng, mà anh hùng cũng tạo thời thế” hay câu nói
“sanh bất phùng thời”. Ngay trong thiện duyên
giác ngộ giải thoát nếu trong thời Đức Phật ra
đời mà một người sanh ở cõi vô sắc thì cũng xem
là thiếu duyên dù căn tánh có trình độ cao. Thời
gian thích hợp là một yếu tính cho nhiều thứ trỗ
sanh. Điều nầy giống như trồng hoa trái cũng cần
có thời điểm thích hợp trong năm chứ không phải
chỉ có hạt giống tốt, đất đai mầu mỡ là đủ
D.
Nỗ lực (payoga). Sự phấn đấu nâng cao tiềm lực
bản thân. Dù một người có tài hay sanh trong gia
đình giàu có hoặc ở quốc độ thuận lợi nhưng
thiếu nghị lực thì khiến nhiều phúc quả không
trỗ sanh. Ngược lại dù phước ít ỏi nhưng do
siêng năng thì cũng có những thành tựu như câu
“đại phú do thiên, tiểu phú do cần”. Có những
người có điều kiện tốt trong cuộc sống nhưng do
nghiện ngập cờ bạc hay ma tuý làm tiêu huỷ sức
phấn đấu thì quả lành quá khứ vì đó mà tan biến.
Sự chi phối nầy mang ý nghĩa rất lớn trong cuộc
sống sinh nhai mà cũng bao gồm cả sự tu tập bản
thân. Phật Pháp thường dạy “sự phát tâm dõng
mãnh” là sự tinh cần nỗ lực chuyển hoá luôn luôn
mang lại lợi lạc. Một chúng sanh vốn có phước mà
biếng nhác thì cũng có thể rơi vào trường hợp
“toạ thực sơn băng”.
Nói tóm lại, từ sự tạo tác đến quả của nghiệp còn có tiến
trình trỗ quả. Tiến trình nầy vốn bị chi phối
những yếu tố ngoại giới cũng như ngoại giới. Có
những điều mà bản thân có thể chuyển đổi như
sống ở xứ nên sống hay ra sức chuyên cần nhưng
cũng có những điều đôi khi phải thúc thủ như
không gặp thời điểm thích hợp hay ngoại hình
(…). Nghiệp quả là sự pha trộn vô cùng phức tạp.
Bài học ngày 9.1.2023
NGHIỆP VÀ NHỮNG HỆ QUẢ SÂU XA
Khi nói đến quả của nghiệp thì người ta thường
nghĩ tới “làm lành được vui, làm ác bị khổ”.
Thật ra theo Phật Pháp thì nghiệp có hệ quả sâu
xa hơn sự diễn đạt và cách hiểu thông thường.
Điều nầy giống như khi nói về giống lúc tốt sẽ
cho gạo ngon. Trên thực tế do giống lúa tốt có
những ảnh hưởng đối với thị trường, và cũng có
thể do điều nầy, tạo nên những tác động đối với
kinh tế một quốc gia. Từ đây cũng tác động nhiều
tới cuộc sống của vô số người. Chính vì vậy Đức
Phật dạy quả của nghiệp là một trong bốn điều
bất khả tư nghì (acinteyya).
Nên hiểu sự “bất khả tư nghì” ở đây không có
nghĩa là không thể hiểu được hay không nên suy
luận mà là chỉ có thể nhận thức ở chừng mức
tương đối chứ không thể thấu đáo trọn vẹn. Thậm
chí trong kinh điển còn đề cập nếu một người
nhất quyết phải hiểu hết những điều bất khả tư
nghì thì có thể trở thành cuồng tâm loạn trí.
Quả của nghiệp là điều bất khả tư nghì cũng
không có nghĩa là không nên biết mà là nên ý
thức về phạm vi hiểu biết có lợi ích mà một
người có thể hiểu được. Như một người lái xe
càng biết nhiều về máy móc và hệ thống điện tử
thì càng tốt để vận hành chiếc xe nhưng không có
nghĩa là hễ lái xe thì phải am tường tất cả
những gì thuộc về máy móc vật lý của chiếc xe mà
mình sử dụng.
Có thể hiểu về nghiệp và quả với khung sườn
tương đối giản dị và hợp lý qua hai câu Pháp cú
1 và 2:
Manopubbaṅgamā dhammā
Ý dẫn đầu các pháp,
Manopubbaṅgamā dhammā
Ý dẫn đầu các pháp,
(Bản dịch của HT Thích Minh Châu)
Ở đây cội rễ tâm thức và quá trình tạo nghiệp là
giai đoạn rất phức tạp. Con người vốn hiểu biết
nhiều lãnh vực nhưng tâm lý học là môn nêu lên
nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời.
Theo Phật Pháp thì định luật về nghiệp liên hệ
tới cả bốn định luật còn lại là định luật về
chủng tử, định luật về thời tiết, định luật về
tâm, và định luật về pháp tạo nên guồng máy hết
sức phức tạp vượt ngoài trí năng thông thường.
Tương tự như một kiến trúc sư thiết kế một lâu
đài không phải chỉ cần kiến thức về nghệ thuật
mà còn nắm về kỹ thuật, văn hoá, và sự bảo trì
dài hạn.
Mặc dù không thể quán triệt nghiệp quả với trí
tuệ thông thường nhưng có hai khuynh hướng được
xem là đắc dụng cho tất những ai muốn có đời
sống tốt đẹp đó là:
a.
Sự yêu thích đối với pháp
(kusalachanda) tâm khuynh hướng thiên về
cái gì tốt lành, lợi lạc cho bản thân và tha
nhân.
b.
Sự yêu thích đối với sự thật (dhammachanda) là
sự quyết tâm nhận thức một cách xác thực hay tìm
là chân tướng của các pháp.
Hai khuynh hướng trên giúp chúng sanh trong
giòng luân hồi sanh tử không mê chấp vào những
quan niệm và giáo thuyết đóng khung. Và cũng từ
hai sự yêu thích nầy mà các văn hoá xây dựng
theo chân, thiện, mỹ.
Bài học ngày 16.1.2023
NGHIỆP VÀ TÁI SANH
Nghiệp báo và luân hồi là hai giáo nghĩa quen
thuộc nhưng thường có nhiều ngộ nhận.
Cả hai đều được tin tưởng qua sinh hoạt hằng
ngày trong sự tạo phước và tu tập.
Có thể nói nếu không có kiến thức căn bản
về Phật pháp thì những tin tưởng suông thường
theo tín ngưỡng dân gian và gần với Bà la môn
giáo hơn là Phật pháp. Hiểu nghiệp báo và luân
hồi theo cách cố định là sai lầm. Hiều theo
thường kiến cũng sai lầm. Hiều như số mệnh càng
sai lầm hơn.
Không thể hiểu về nghiệp báo nếu không tin có
luân hồi.
Một kiếp sống, đời hiện tại, là khung thời gian
rất hạn hẹp để nói về nghiệp và quả dị thục.
Cuộc sống theo Phật pháp là dòng luân hồi mà
nghiệp đóng vai trò chi phối. Phải ý thức được
mỗi chúng sanh chào đời “có nghiệp là thai tạng”
và ngay khi thọ sanh “mỗi chúng sanh đều có
nghiệp riêng” thì mới hiểu phần nào nghiệp báo.
Rất nhiều Phật tử khi tạo phước thường nghĩ rằng
cho kiếp sau.
Hiểu như vậy không đúng với lời Phật dạy. Thể
hiện nghiệp lành không đơn giản như đầu tư may
rủi mà là nếp sống hoan hỷ trong thiện tâm và
thiện hạnh. Tạo nghiệp lành là tạo thói quen tốt
và tinh thần tích cực. Tạo nghiệp lành là một
phần của sự tu tập cho kiếp hiện tại. Cứ nghĩ
đến đời sau mà quên hẳn hiện tại là cái nhìn rất
sai với Phật Pháp. Cần có cái nhìn dung hợp về
sự hiển hiện của nghiệp lực trong hiện tại và
kết quả dị thục về sau..
Trên phương diện nghiệp báo thì có thể nói là
người bình thường có thể hiểu và tin nhưng không
thể biết rõ và biết chính xác.
Điều nầy tương tự như khi người ta nói có trình
độ học vấn cao thì lợi tức thu nhập khá hơn
người không có trình độ. Tổng quát thì đúng
nhưng trên thực tế vẫn có một số người rất giàu
không có bằng cấp cao thuê mướn những những
người có bằng tiến sĩ làm việc cho mình. Trong
cái chung chung vẫn có những ngoại lệ.
Chính niềm tin ở luân hồi khiến cho niềm tin
nghiệp báo trở thành hiện thực.
Một số không nhỏ những người ttn rằng kiếp hiện
tại có thể được hoạch định và sống thoải mái nhờ
vào tài năng và trí tuệ. Nhưng nói đến đời sau
thì cần tạo phức đức vì không thể biết kiếp sau
thế nào. Mặc dù cách hiểu nầy có phần mơ hồ
nhưng chính vì niềm tin ở luân hồi khiến nhiều
người sống hiền thiện và tạo các công đức. Bài học ngày 23.1.2023
LUÂN HỒI QUA GÓC NHÌN NGHIỆP LỰC
Mặc dù quả của nghiệp là một trong bốn điều “bất khả tư nghì”
nhưng không có nghĩa là không thể nắm bắt
những điểm chính hay không nên suy nghĩ tới.
Bài kinh sau đây ghi lại lời Phật dạy về một
số trường hợp đơn cử thường thấy trong đời
sống hằng ngày liên quan tới sự chi phối của
nghiệp lực trong khổ đau và hạnh phúc của
chúng sanh.
135. Kinh Tiểu phân biệt nghiệp
(Cùlakammavibhanga sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại
tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi thanh niên Subha Todeyyaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi
thăm; sau khi nói lên những lời chào hỏi
thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, thanh niên Subha Todeyyaputta
bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì giữa loài
Người với nhau, khi họ là loài Người, lại
thấy có người liệt, có người ưu?
Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có
người trường thọ; chúng tôi thấy có người
nhiều bệnh, có người ít bệnh; chúng tôi thấy
có người xấu sắc, có người đẹp sắc; chúng
tôi thấy có người quyền thế nhỏ, có người
quyền thế lớn; chúng tôi thấy có người tài
sản nhỏ, có người tài sản lớn; chúng tôi
thấy có người thuộc gia đình hạ liệt, có
người thuộc gia đình cao quý; chúng tôi thấy
có người trí tuệ yếu kém, có người có đầy đủ
trí tuệ.
Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, giữa loài Người
với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có
người liệt, có người ưu?
-- Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp,
là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng,
nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa,
nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là
có liệt, có ưu.
-- Tôi không hiểu nghĩa một cách rộng rãi điều mà Tôn giả
Gotama nói một cách vắn tắt, không có giải
nghĩa rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả
Gotama thuyết pháp cho tôi để tôi có thể
hiểu nghĩa một cách rộng rãi điều mà Tôn giả
Gotama nói một cách vắn tắt, không có giải
nghĩa rộng rãi.
-- Vậy này Thanh niên, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
-- Thưa vâng, Tôn giả.
Thanh niên Subha Todeyyaputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói
như sau:
-- Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông,
sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên
sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với
các loại chúng sanh. Do nghiệp ấy, thành đạt
như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân
hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú,
đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng
chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác
thú, đọa xứ, địa ngục, nếu được đi đến loài
Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy
phải đoản mạng. Con đường ấy đưa đến đoản
mạng, này Thanh niên, tức là sát sanh, tàn
nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả
thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu
tình.
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông, từ
bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng,
bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống
thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh
và loài hữu tình. Do nghiệp ấy, thành đạt
như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân
hoại mạng chung, người ấy được sanh vào
thiện thú, Thiên giới, ở đời. Nếu sau khi
thân hoại mạng chung, người ấy không sanh
vào thiện thú, Thiên giới, ở đời, nếu người
ấy đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh
ra, người ấy được trường thọ. Con đường ấy
đưa đến trường thọ, này Thanh niên, tức là
từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ
trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ,
sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng
sanh và loài hữu tình.
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tánh
hay não hại các loài hữu tình, với tay, hay
với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây
đao. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành
tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung,
người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung,
người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục, nếu người ấy đi đến loài
Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy
phải bị nhiều bệnh hoạn. Con đường ấy đưa
đến nhiều bệnh hoạn, này Thanh niên, tức là
tánh hay não hại các loài hữu tình với tay,
hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với
cây đao.
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn
ông, tánh không hay não hại các loài hữu
tình, với tay, hay với cục đất, hay với cây
gậy, hay với cây đao. Do nghiệp ấy thành đạt
như vậy ... thiện thú ... người ấy được ít
bệnh hoạn. Con đường ấy đưa đến ít bệnh hoạn
... tánh không não hại... hay với cây đao.
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, phẫn
nộ, nhiều phật ý, bị nói đến một chút thời
bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, và tỏ
lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy,
thành đạt như vậy ... cõi dữ ... xấu sắc.
Con đường ấy đưa đến xấu sắc, này Thanh
niên, tức là phẫn nộ ... bất mãn.
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông,
không phẫn nộ, không nhiều phật ý, dầu cho
bị nói đến nhiều, cũng không bất bình, phẫn
nộ, sân hận, chống đối, và không tỏ lộ phẫn
nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy, thành
đạt như vậy ... thiện thú ... đẹp sắc
(pasadika: hoan hỷ) Con đường ấy đưa đến đẹp
sắc, này Thanh niên, tức là không phẫn nộ
... không bất mãn.
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tật
đố, đối với người khác được quyền lợi, được
tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ,
cúng dường, sanh tật đố, sanh tâm, ôm ấp tâm
tật đố. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy ...
ác thú ... quyền thế nhỏ. Con đường ấy đưa
đến quyền thế nhỏ, này thanh niên, tức là
tật đố ... ôm ấp tâm tật đố.
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn
ông, không có tật đố, đối với những người
khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung
kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, không
sanh tật đố, không sanh tâm, không ôm ấp tâm
tật đố. Do nghiệp ấy ... thiện thú ... quyền
thế lớn. Con đường ấy đưa đến quyền thế lớn,
này Thanh niên, tức là không tật đố ...
không ôm ấp tật đố.
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông,
không bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, đồ ăn
uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu,
phấn sáp, ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc. Do
nghiệp ấy ... đọa xứ ... tài sản nhỏ. Con
đường đưa đến tài sản nhỏ, ngọa cụ, nhà cửa,
đèn đuốc.
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông
có bố thí cho Sa-môn hay cho Bà-la-môn các
đồ ăn uống ... ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc.
Do nghiệp ấy ... thiện thú ... nhiều tài
sản. Con đường đưa đến nhiều tài sản ...
ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc.
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông ngạo
nghễ, kiêu mạn, không đảnh lễ những người
đáng đảnh lễ, không đứng dậy đối với người
đáng đứng dậy, không mời ngồi những người
đáng mời ngồi, không nhường chỗ đi cho những
người đáng được nhường chỗ đi, không tôn
trọng những người đáng tôn trọng, không cung
kính những người đáng cung kính, không cúng
dường những người đáng cúng dường. Do nghiệp
ấy ... đọa xứ ... thuộc gia đình hạ liệt.
Con đường đưa đến gia đình hạ liệt.. không
cúng dường những người đáng cúng dường.
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn
ông, không có ngạo nghễ quá mạn, đảnh lễ
những người đáng đảnh lễ ... cúng dường
những người đáng cúng dường. Do nghiệp ấy
... thiện thú ... vào gia đình cao quý. Con
đường đưa đến gia đình cao quý ... cúng
dường những người đáng cúng dường.
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sau
khi đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn, không hỏi:
"Thưa Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là
bất thiện? Thế nào là phạm tội? Thế nào là
không phạm tội? Thế nào là cần phải thực
hành? Thế nào là không cần phải thực hành?
Tôi đã làm gì để phải không lợi ích và đau
khổ lâu dài? Hay tôi đã làm gì để được lợi
ích và an lạc lâu dài? Do nghiệp ấy ... đọa
xứ ... trí tuệ yếu kém. Con đường đưa đến
trí tuệ yếu kém ... lợi ích, hạnh phúc lâu
dài?"
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn
ông, sau khi đến Sa-môn hay Bà-la-môn, có
hỏi: "Thưa Tôn giả, thế nào là thiện? Thế
nào là bất thiện... lợi ích, an lạc lâu dài?
Do nghiệp ấy ... thiện thú ... đầy đủ trí
tuệ. Con đường đưa đến đầy đủ trí tuệ ...
lợi ích, an lạc lâu dài?".
Ở đây, này Thanh niên, con đường đưa đến đoản thọ, dẫn đến
đoản thọ, con đường đưa đến trường thọ, dẫn
đến trường thọ; con đường đưa đến nhiều
bệnh, dẫn đến nhiều bệnh; con đường đưa đến
ít bệnh, dẫn đến ít bệnh; con đường đưa đến
xấu sắc, dẫn đến xấu sắc; con đường đưa đến
đẹp sắc, dẫn đến đẹp sắc; con đường đưa đến
quyền thế nhỏ, dẫn đến quyền thế nhỏ; con
đường đưa đến quyền thế lớn dẫn đến quyền
thế lớn; con đường đưa đến tài sản nhỏ, dẫn
đến tài sản nhỏ; con đường đưa đến tài sản
lớn, dẫn đến tài sản lớn; con đường đưa đến
gia đình hạ liệt, dẫn đến gia đình hạ liệt;
con đường đưa đến gia đình cao quý, dẫn đến
gia đình cao quý, con đường đưa đến trí tuệ
yếu kém, dẫn đến trí tuệ yếu kém; con đường
đưa đến đầy đủ trí tuệ, dẫn đến trí tuệ đầy
đủ.
Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là
thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng,
nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa,
nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là
có liệt, có ưu.
Khi nghe nói vậy, thanh niên Subha Todeyyaputta nói với Thế
Tôn:
-- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay,
thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại
những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những
gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị
lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối
để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng
vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng
nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con
xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và
chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận
con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung,
con trọn đời quy ngưỡng.
(Trung Bộ, kinh số 135, bản dịch của HT Thích Minh Châu)
Bài học ngày 30.1.2023 .
PHÂN LOẠI QUẢ CỦA NGHIỆP
Như đã đề cập nhiều lần, quả của nghiệp là một trong bốn điều
“bất khả tư nghì”. Rất khó để có thể nói hết
tất cả chiều kích của nghiệp quả. Tuy vậy
qua một số phân loại có thể giúp để chiêm
nghiệm phần nào về quả của nghiệp trong sự
hết sức phức tạp của lãnh vực nầy. Những
liệt kê sau đây nói về nghiệp (kamma) nhưng
cũng nói về quả (kamma vipāka). Nói cách
khác đây là phần nêu lên nghiệp nào cho quả
ra sao nên được đưa vào phần quả của nghiệp.
Quả nghiệp phân loại theo
thời gian (pākakāla)
Thuật ngữ “quả dị thục (vipāka)” tự nó đã nói lên yếu tính
thời gian (dị thời nhi thục hay khác thời mà
trỗ quả). Trong phạm trù nầy có bốn thứ được
nêu lên:
1. Hiện báo nghiệp (diṭṭhadhammavedanīya kamma) là nghiệp trỗ
sanh ngay trong kiếp hiện tại.
2. Sanh báo nghiệp
(uppajjavedanīya kamma) là nghiệp dẫn đi tái
sanh trong kiếp kế tiếp. Nói chính xác thì
quả của nghiệp nầy tạo nên kiết sanh thức và
tiềm thức cho ngay kiếp sau của hiện kiếp.
3. Hậu báo nghiệp
(aparāpariyavedanīya kamma) là nghiệp trỗ
quả từ kiếp sau - ngoại trừ kiết sanh thức
và tiềm thức – cho đến khi không còn khả
năng trỗ quả (….)
4. Vô hiệu nghiệp (ahosi kamma) đúng ra thì đây không phải là
một thứ nghiệp hay quả nghiệp riêng biệt mà
khi ba thứ nghiệp trên không có khả năng
sanh quả gọi là vô hiệu nghiệp. Theo Thắng
Pháp những diễn trình tâm thức bình thường
có 7 sát na xử lý (javana). Đây là phân đoạn
tạo nghiệp trong diễn trình tâm thức. Sát na
đầu tiên của phân đoạn xử lý có khả tính tạo
thành hiện báo nghiệp. Sát na thứ bảy của
phân đoạn xử lý có khả tính tạo thành sanh
báo nghiệp. Sát na thứ hai đến sát na thứ
sáu có khả năng tạo thành hậu báo nghiệp.
Gọi là “có khả tính” nghĩa là có thể
tạo nên quả nếu gặp điều kiện thích hợp. Nếu
không gặp điều kiện thích hợp trỗ quả thì
trở thành vô hiệu nghiệp. (nên phân rõ sự
khác biệt giữa chữ khả tính (possibility) và
chữ khả năng (capability). Tất cả tâm xữ lý
(javana) đều có khả năng nhưng không hẳn có
khả tính trỗ quả).
Quả nghiệp phân loại theo chức năng (kicca)
Không phải tất cả quả của nghiệp có vai trò giống nhau. Điều
nầy tạo nên sự khác biệt lớn trong sự chiêu
cảm nghiệp đối với cuộc sống. Có bốn chức
năng của nghiệp quả được ghi nhận.
1. Sanh nghiệp (janaka kamma) nghiệp có quả với vai trò sản
sinh ra kiếp sống mới.
Chính
loại quả nghiệp nầy tạo nên kiết sanh thức
(hay tâm tục sinh), và do vậy, tạo nên thứ
tiềm thức cho trọn kiếp sống. Tâm tục sinh
vô nhân quả bất thiện, tâm tục sinh vô nhân
quả thiện, tâm quả nhị nhân, tâm quả tam
nhân là những thức tâm tục sinh quyết định
về sanh loại, cá tính và tiềm năng đắc chứng
thiền định, đạo quả của chúng sanh.
2. Trì nghiệp (upatthambhaka kamma) là quả nghiệp
hỗ trợ sanh nghiệp. Sự mạnh yếu của
trì nghiệp khiến cho đời sống hạnh phúc hay
đau khổ. Sanh làm người là sanh nghiệp tốt
nhưng nếu trì nghiệp không đủ để an lạc. Trì
nghiệp chi phối cuộc sống với tánh dài hạn.
3. Chướng nghiệp (upapīḷaka kamma) là quả nghiệp đối lập với
sanh nghiệp và tri nghiệp. Chướng nghiệp có
thể là tốt hoặc xấu tuỳ theo sanh nghiệp và
trì nghiệp. Thí dụ sanh nghiệp là xấu thì
chướng nghiệp là tốt. Chướng nghiệp thường
chi phối cuộc sống trong ngắn hạn.
4. Đoạn nghiệp (upaghātaka kamma) là nghiệp chi phối và cắt
đứt tất cả những mãnh lực nghiệp khác trong
một kiếp sống. Thí dụ một người sanh ra với
thân thể bệnh cùi do tạo một phước lành to
lớn nào đó thì mạng sống chung cuộc chóng
vánh để sanh vào cảnh giới an lạc hơn.
Quả nghiệp phân loại theo mạnh yếu (ākadāna
pariyāya)
Một khía cạnh rất quan trọng trong sự liên quan giữa nghiệp và
quả là sức mạnh của nghiệp hay nghiệp lực.
Có bốn nghiệp lực được ghi nhận.
1. Trọng nghiệp (garuka kamma) là nghiệp có mãnh lực vượt trội
hơn những thứ nghiệp khác như sự chứng đắc
các tầng thiền sắc giới, vô sắc giới hay ngũ
nghịch đại tội (anantariya kamma)
2. Thường nghiệp (bahula kamma hay āciṇṇa kamma) đây là nghiệp
lực tạo nên bởi hành động thường làm hay
thói quen. Nếu không có trọng nghiệp thì
thường nghiệp là mãnh lực dẫn đi tái sanh.
3. Cận tử nghiệp (āsanna kamma) là nghiệp vì lý do gì đó xẩy
ra ngay trong giờ phút lâm chung có thể tạo
nên sự khác biệt nếu không có trọng nghiệp.
Cận tử nghiệp có thể khiến thường nghiệp
không trỗ quả thành kiết sanh thức.
4. Khinh thiểu nghiệp (katattā kammahay katattāvāpana kamma)
là thứ nghiệp nhỏ nhặt, gián tiếp, vô tình.
Nghiệp nầy chỉ trỗ quả vắng mặt cả ba nghiệp
lực nêu trên.
Bài
học ngày
6.2.2023
VÀI QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP TRÁI VỚI GIÁO LÝ
NGHIỆP BÁO
Nghiệp là từ ngữ tương đối phổ thông đại
chúng. Ngày nay trong ngôn ngữ ở Phương
Tây người ta cũng thường nói về karma
hay nghiệp. Một số cách nói về nghiệp
thoạt nghe “rất là nghiệp” nhưng đi
ngược lại với giáo lý nghiệp báo được
Đức Phật dạy. Người Phật tử có học Phật
Pháp cần hiểu rõ những điểm nầy.
Nghiệp không phải là định mệnh
Do niềm tin ở chiêm tinh, bói toán người
ta thường nghĩ là tất cả những gì xẩy ra
trong cuộc sống là do số phần đã định
sẳn từ nghiệp quá khứ. Từ quan niệm nầy
hai khái niệm nghiệp và tiền định được
ghép chung. Nói gọn là những gì tạo tác
trong kiếp trước quyết định tất cả những
gì xẩy ra ở hiện tại. Đây là quan niệm
rất khác với giáo lý nghiệp báo và duyên
khởi được Đức Phật dạy.
Theo Phật Pháp, tất cả những gì xẩy ra
trong cuộc sống là sự pha trộn của cả
hai quá khứ và hiện tại. Giáo lý duyên
khởi nêu rõ sự hiện hữu của mỗi chúng
sanh bao gồm cả quả do nhân quá khứ cùng
với nhân hiện hiện tại cho quả ở tương
lai. Thắng Pháp Tạng nêu rõ hầu hết diễn
trình tâm là sự hỗn hợp của cả hai thứ
quả và nhân. Nếu tin vào nhân quả nghiệp
báo mà phủ nhận vai trò của ý chí tạo
tác trong hiện tại là niềm tin hoàn toàn
đi ngược lại với giáo lý nghiệp báo theo
Phật Pháp. Nói cách khác, một người đi
vào giấc ngủ hay thức dậy với tâm từ
khiến nội tâm sinh hoạt trong ngày khác
đi. Một người thường làm các việc thiện
hay chuyên tâm học hỏi cũng khiến cuộc
sống khác hẳn với lối sống thụ động.
Nghiệp không đi với niềm tin thiên định
Trước sự đa dạng và phước tạp trong cuộc
sống thường tạo nên niềm tin là có một
đấng toàn năng tạo ra tất cả. Dù vậy
người ta cũng mơ hồ nhận thấy hành vi
thiện ác của một người tạo nên những ảnh
hưởng trong cuộc sống. Kết quả là một sự
kết hợp của nghiệp báo và sự phán xét
của thượng đế. Một thí dụ rõ nhất là
nhiều người tin rằng lối sống tốt xấu
hiện tại của mỗi người sẽ được đem ra
xét xữ trong một cuộc “đại thẩm pháp”
khi thượng đế tái xuất hiện trên mặt đất
nầy. Hoặc giả niềm tin một người làm
thiện hay làm ác sau khi chết sẽ đi vào
địa ngục nhận sự phán xét của thập điện
phán quan (của Diêm Vương) trước khi
được đầu thai kiếp kế tiếp. Những phán
xét như vậy không có cơ sở trong Phật
pháp.
Theo lời Phật dạy thì tất cả nhân quả là
hiện tượng tự nhiên. Ở đây không có sự
phán xét lấy cái nầy bù trừ cái kia. Có
thể hiểu như hạt giống của hoa cỏ bay
theo gió rơi trên mặt đất. Gặp chỗ thích
hợp thì sanh sôi nảy nở; nếu không thì
tàn lụn biết mất. Sự lớn mạnh hay mai
một của những hạt giống nầy không cần sự
phán xét của bất cứ ai. Nếu hiểu điều
nầy sẽ thấy lý lẽ: lưu hồ sơ của mỗi
chúng sanh rồi đem ra xét xữ từng trường
hợp đối với vô số những sự việc xẩy ra
trong cuộc đời là điều hoàn toàn bất
khả.
Không phải tất cả những gì xẩy ra trong
cuộc sống đều do nghiệp
Có những niềm tin là tất cả những gì xẩy
ra đều do nghiệp. Và từ quan điểm nầy
dẫn đến chủ thuyết duy tâm hay duy linh,
mà nhiều người lầm tưởng là Phật giáo.
Trong cái nhìn nầy, người ta cho rằng
tất cả những hiện tượng vui buồn, tốt
xấu, đúng sai đều do nghiệp quá khứ
quyết định. Nên biết rõ nghiệp báo trong
Phật Pháp không dạy như vậy.
Trong năm định luật vận hành thế gian
theo Phật dạy thì nghiệp (kamma niyāma)
chỉ làm một. Có những sự việc xẩy ra đơn
giản vì tính tự nhiên như định luật về
chủng tử, định luật về thời tiết, định
luật về tâm, định luật về pháp. Nghiệp
có liên đới nhưng không phải là tất cả.
Cũng giống như trong cuộc sống người ta
nói sự an toàn khi lái xe là do tài xế
giỏi. Thực tế thì sự lái xe an toàn cũng
được quyết định bởi tình trạng tốt xấu
của chiếc xe, đường xá, thời tiết, xe cộ
chung quanh..
Trong Kinh
Devadaha (Trung Bộ 101) Đức Phật đề cập
cả ba giáo thuyết tiền định
(pubbekata-vāda), thiên mệnh
(issaranimmita-vāda), và ngẫu nhiên
(ahetuvāda) đều dẫn đến sự phủ nhận ý
chí tu tập trong hiện tại và những tu sĩ
của bất cứ đạo giáo nào tin vào những
giáo thuyết nầy thì rơi vào tình trạng
“tự mình mâu thuẫn” bởỉ vì nếu ý chí
chuyển hoá không có giá trị thì sự tu
hành đâu có giá trị gì.
Bài học ngày 12.02.2023
CHUYỂN NGHIỆP
Không phải ai tin nhân quả cũng giống
nhau. Nghiệp báo là giáo nghĩa tế nhị và
phức tạp. Có những niềm tin nghiệp khiến
con người tốt hơn mà cũng có những niềm
tin nghiệp khiến người xấu hơn. Có người
tin là khi đã tạo ác nghiệp thì chắc
chắn phải bị quả báo không làm gì khác
hơn được. Quan niệm đó không phù hợp với
Phật Pháp. Bài kinh sau đây là một dẫn
chứng về quan niệm không chính xác về
nghiệp:
VIII. Vỏ Ốc
(S.iv,317)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Nālandā, tại
rừng Pāvārikamba.
2) Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ
tử của phái Ni-kiền-tử đi đến Thế Tôn...
3) Thế Tôn nói với thôn trưởng
Asiband-hakaputta đang ngồi một bên:
-- Này Thôn trưởng, Nigantha Nātaputta
thuyết pháp như thế nào cho chúng đệ tử?
4) -- Bạch Thế Tôn, Nigantha Nàtaputta
thuyết pháp cho chúng đệ tử như sau: "Ai
sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào
đọa xứ, địa ngục. Ai lấy của không cho,
tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục.
Ai sống tà hạnh trong các dục, tất cả
phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai nói
láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa
ngục. Phàm sống tối đa, tối đa như thế
nào, chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ
như vậy". Như vậy, bạch Thế Tôn,
Nigantha Nàtaputta thuyết pháp cho các
đệ tử.
-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào,
này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú
của họ sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy,
thời sẽ không có ai phải sanh vào đọa
xứ, địa ngục như lời của Nigantha
Nàtaputta.
5) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có
người sát hại sanh mạng, ban đêm hay ban
ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là
nhiều hơn, thời vị ấy sát hại sanh mạng,
hay thời vị ấy không sát hại sanh mạng?
-- Bạch Thế Tôn, có người sát hại sanh
mạng, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh
thoảng làm. Thời này là ít hơn, là thời
vị ấy sát hại sanh mạng. Và thời kia là
nhiều hơn, thời vị ấy không sát hại sanh
mạng.
-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào,
này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú
của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là
vậy, thời sẽ không có ai phải sanh vào
đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha
Nàtaputta.
6) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có
người lấy của không cho, ban đêm hay ban
ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là
nhiều hơn, thời vị ấy lấy của không cho
hay thời vị ấy không lấy của không cho?
-- Bạch Thế Tôn, có người lấy của không
cho, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh
thoảng làm. Thời này là ít hơn, thời vị
ấy lấy của không cho. Và thời kia là
nhiều hơn, thời vị ấy không lấy của
không cho.
-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào,
này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú
của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là
vậy, thời sẽ không có ai sanh vào đọa
xứ, địa ngục như lời của Nigantha
Nàtaputta.
7) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có
người sống theo tà hạnh trong các dục,
ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng
làm. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy
sống theo tà hạnh trong các dục, hay
thời vị ấy không sống theo tà hạnh trong
các dục?
-- Bạch Thế Tôn, có người sống theo tà
hạnh trong các dục, ban đêm hay ban
ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là
ít hơn, thời vị ấy sống theo tà hạnh
trong các dục. Và thời kia là nhiều hơn,
thời vị ấy không sống theo tà hạnh trong
các dục.
-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào,
này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú
của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là
vậy, thời không có ai sẽ sanh vào đọa
xứ, địa ngục như lời của Nigantha
Nàtaputta.
8) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có
người sống nói láo, ban đêm hay ban
ngày, hay thỉnh thoảng nói. Thời nào là
nhiều hơn, thời vị ấy nói láo, hay thời
vị ấy không nói láo?
-- Bạch Thế Tôn, có người nói láo, ban
đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng nói.
Thời này là ít hơn, thời vị ấy nói láo.
Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy
không nói láo.
-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào,
này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú
của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là
vậy, thời không ai sẽ sanh vào đọa xứ,
địa ngục như lời của Nigantha Nàtaputta.
9) Ở đây, này Thôn trưởng, có vị Ðạo sư
nói như sau, thấy như sau: "Ai sát hại
sanh mạng, tất cả phải sanh vào đọa xứ,
địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả
phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai sống
theo tà hạnh trong các dục, tất cả phải
sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai nói láo,
tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục".
Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng
tin tưởng vào vị Ðạo sư ấy.
10) Vị ấy suy nghĩ: "Thầy ta nói như
sau, thấy như sau: 'Ai sát hại sanh mạng
tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục'.
Nay ta có sát hại một sanh mạng. Như
vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục".
Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn
trưởng, không đoạn tận lời ấy, không
đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị
ấy chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục như
vậy. " Thầy ta nói như sau, thấy như
sau: 'Ai lấy của không cho, tất cả phải
sanh vào đọa xứ, địa ngục'. Nay ta có
lấy của không cho. Như vậy, ta phải sanh
vào đọa xứ, địa ngục." Vị ấy chấp trước
tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn
tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không
từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào
đọa xứ, địa ngục như vậy. "Thầy ta nói
như sau, thấy như sau: 'Ai sống theo tà
hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào
đọa xứ, địa ngục'. Nay ta sống theo tà
hạnh trong các dục. Như vậy, ta phải
sanh vào đọa xứ, địa ngục". Vị ấy chấp
trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không
đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy,
không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi
vào đọa xứ, địa ngục như vậy. "Thầy ta
nói như sau, thấy như sau: 'Ai nói láo,
tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục'.
Nay ta nói láo. Như vậy, ta phải sanh
vào đọa xứ, địa ngục". Vị ấy chấp trước
tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn
tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không
từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào
đọa xứ, địa ngục như vậy.
11) Ở đây, này Thôn trưởng, Như Lai sanh
ra ở đời, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,
Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; Như Lai dùng
nhiều phương tiện chỉ trích, công kích
sát sanh và nói: "Chớ có sát sanh"; chỉ
trích, công kích lấy của không cho và
nói: "Chớ có lấy của không cho"; chỉ
trích, công kích sống theo tà hạnh trong
các dục và nói: "Chớ có sống theo tà
hạnh trong các dục"; chỉ trích, công
kích nói láo và nói: "Chớ có nói láo".
Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng
tin tưởng vào vị Ðạo Sư ấy. Vị ấy suy tư
như sau:
12) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ
trích, công kích sát sanh và nói: 'Chớ
có sát sanh". Nay ta có sát hại như thế
này, hay như thế kia. Như vậy là không
nên (sutthu), như vậy là không tốt. Và
do duyên ấy ta có thể hối hận: 'Ác
nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa'".
Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ
sát sanh. Và trong tương lai, người ấy
đình chỉ sát sanh. Như vậy, ác nghiệp ấy
được vượt qua.
13) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ
trích, công kích lấy của không cho và
nói: 'Chớ có lấy của không cho". Nay ta
có lấy của không cho như thế này, hay
như thế kia. Như vậy là không nên, như
vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có
thể hối hận: 'Ác nghiệp ta làm, nay sẽ
không làm nữa'. Người ấy do suy tư như
vậy, liền từ bỏ lấy của không cho. Và
trong tương lai, người ấy đình chỉ lấy
của không cho. Như vậy, ác nghiệp ấy
được vượt qua.
14) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ
trích, công kích sống theo tà hạnh trong
các dục.."..
15) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ
trích, công kích nói láo.."..
16) Do đoạn tận sát sanh, người ấy trở
thành người không sát sanh. Do đoạn tận
lấy của không cho, người ấy trở thành
người không lấy của không cho. Do đoạn
tận sống theo tà hạnh trong các dục,
người ấy trở thành người không sống theo
tà hạnh trong các dục. Do đoạn tận nói
láo, người ấy trở thành người từ bỏ nói
láo. Do đoạn tận nói hai lưỡi, người ấy
trở thành người từ bỏ nói hai lưỡi. Do
đoạn tận nói lời độc ác, người ấy trở
thành người từ bỏ nói lời độc ác. Do
đoạn tận lời nói phù phiếm, người ấy trở
thành người từ bỏ nói lời phù phiếm.
Ðoạn tận tham, không có tham lam, đoạn
tận sân, không có sân tâm, đoạn tận tà
kiến, người ấy trở thành người theo
chánh kiến. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ
tử ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si,
chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu
với từ, sống biến mãn một phương. Như
vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ
ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy,
cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang,
hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên
giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu
hữu với từ, quảng đại vô biên, không
hận, không sân.
17) Ví như, này Thôn trưởng, một người
lực sĩ thổi tù và (bằng con ốc), với ít
mệt nhọc làm cho bốn phương được biết.
Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập từ tâm
giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng
như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở
đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ
không còn tồn tại. Này Thôn trưởng, vị
Thánh đệ tử ấy, như vậy từ bỏ tham, từ
bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác,
với tâm câu hữu với bi... với tâm câu
hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả,
sống biến mãn một phương. Như vậy,
phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba.
Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng
khắp thế giới trên dưới bề ngang, hết
thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới
vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu
với xả, quảng đại vô biên, không hận,
không sân.
18) Ví như, này Thôn trưởng, một người
lực sĩ thổi tù và, với ít mệt nhọc làm
cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này
Thôn trưởng, tu tập xả tâm giải thoát
như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy,
phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ
không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn
tồn tại.
19) Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng
Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!...
từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời
quy ngưỡng.
(Tương Ưng Bộ IV. 217)
Bản dịch của Hoà Thượng Thích Minh Châu
Bài
học ngày
20.2.2023
SỐNG VỚI NIỀM TIN NGHIỆP BÁO
Từ sự học hiểu nghiệp báo cho đến áp dụng cụ thể vào đời sống
thực tế là điều không đơn giản. Có rất
nhiều khía cạnh và tuỳ vào căn cơ mỗi cá
nhân để sự kiến thức và sự thực hành bổ
sung cho nhau. Trên phương diện tâm lý,
đôi khi niềm tin nghiệp báo cũng tạo nên
sự ngần ngại hay mặc cảm đối với sở hành
của bản thân. Trong phần nầy đặc biệt
nói về thái độ đối với những nghiệp bất
thiện hay hành động sai quấy mà chúng ta
nhận thấy ở bản thân mình. Bởi vì nói về
sự thực hành cụ thể nên trích lục từ
Luật Tạng, một phận quan trọng của kinh
điển, chứa đựng những ý nghĩa liên quan
tới hành vi.
Có một thuật ngữ nên biết khi nói về nghiệp đó là Paṭikamma.
Từ nầy đôi khi được dịch là sám hối,
phát lộ. Khái niệm nầy ngày nay do ảnh
hưởng của Thiên Chúa Giáo người ta cũng
hiểu như xưng tôi và rửa tội. Tất nhiên
để hiểu chính xác thì không đơn giản.
Câu hỏi đặt ra là nếu một người đã tạo
nghiệp bất thiện thì có cách gì để tẩy
xoá hay chuyển nghiệp không? Phải rất
cẩn thận với câu trả lời.
Nếu nói là sự sám hối hoàn toàn vô ích vì “đã làm thì không
thể không trả quả” là cách nói cực đoan.
Còn bảo rằng “sám hối sẽ hết tội” thì là
một cực đoan khác. Giáo lý nghiệp báo
trong Tam Tạng dạy rõ là không ai có thể
“xoá tất cả nghiệp bằng sự sám hối” mà
chỉ có thể vượt thoát tất cả khi chứng
đắc vô dư y niết bàn. Nhưng không phải
vì vậy mà sự sám hối thành vô nghĩa và
không mang giá trị thiết thực.
Trước hết hãy nói về sám hối. Theo
Luật Tạng và Kinh Tạng thì
có ba hình thức sám hối:
a.
Sám hối những lầm lỗi nào đã tạo (āpatti-paṭikamma). Đây là điều được tìm
thấy nhiều trong sự hành trì giới bổn
của người xuất gia. Nói lên sự tôn kính
đối với những nguyên tắc tốt đẹp, cụ thể
là giới bổn. Sự sám hối nầy có thể đơn
cử hoặc nói chung chung. Đây cũng là sự
thể hiện tâm thành phục thiện đối với
lầm lỗi lớn nhỏ.
b.
Sám hối bằng cách thỉnh cầu chỉ giáo đối với những khuyết điểm bản thân
(pavāraṇā-kamma). Trong từ vựng chuyên
môn cũng gọi là “tự tứ”. Khó có ai toàn
hảo về mọi mặt. Lời thỉnh cầu sự chỉ
điểm những sai phạm tự hội chúng là thể
thiện hiện cao nhất sự chân thành cải
thiện bản thân.
c.
Sám hội bằng cách bày tỏ sự ăn năn với sự sai quấy nghiêm trọng nào đó đã
làm (accaya-desanā). Điều nầy bao gồm sự
phát lộ hành vi bất thiện, nhận biết đó
là điều sai quấy, và xin được ghi nhận.
Thí dụ nhự trường hợp vua Ajāsattu (A Xà
Thế) xin sám hội trước Đức Phật về tội
giết cha của mình.
Những cách sám hối kể trên có hiệu ứng quan trọng đối với nhân
quả nghiệp báo bản thân. Và điều nầy là
một phần quan trọng của pháp tinh tấn
không giải đãi (appamāda) vốn không thể
thiếu trong đời sống tu tập.
Sự chuyển nghiệp có thể hiểu một cách cô đọng qua câu kinh
Pháp Cú 173:
Ai dùng các hạnh lành,
Làm xóa mờ nghiệp ác,
Chói sáng rực đời này,
Như trăng thoát mây che
(Bản dịch của HT Thích Minh Châu)
Trong một đoạn kinh khác, có Phật ngôn về khả tính chuyển hoá
nghiệp qua thí dụ muối và nước. Muối như
nghiệp bất thiện. Nước như là thiện
nghiệp. Nếu sống với thiện hạnh to lớn
thì những quả nghiệp bất thiện nhỏ không
ảnh hưởng nhiều như một nắm muối không
thể làm mặn một giòng sông (Tăng Chi Bộ
A. II. 361).
Bài
học ngày
27.2.2023
NGHIỆP GIẢI THOÁT NGHIỆP
Đối với nhiều Phật tử trong sự học hiểu và thực hành Phật Pháp
thì điều nên tha thiết trong là “vun bồi
công đức” hay “tạo tác nghiệp lành”.
Trên phương diện đối đãi thiện ác thì
ước vọng như vậy không phải là sai.
Nhưng cần hiểu là quả phúc nhân thiên
trong cõi sanh tử chỉ là tương đối. Hơn
thế nữa, nói theo giáo lý duyên khởi,
thì tất cả nghiệp dù thiện hay bất thiện
dẫn đến quả vui khổ trong ba cõi đều bắt
nguồn từ vô minh và ái dục.
Đức Phật dạy có bốn thứ nghiệp: A. Nghiệp đen kết quả đen. B.
Nghiệp trắng kết quả trắng. C. Nghiệp
trắng và đen kết quả đen và trắng. D.
Nghiệp không trắng không đen kết quả
không đen không trắng (Tăng Chi Bộ. II.
234). Ba thứ nghiệp A, B, C thuộc trầm
luân sanh tử, và thường được biết đến
nhiều, trong lúc thứ nghiệp sau cùng là
“nghiệp giải thoát nghiệp” thì ít được
biết đến.
Nói một cách chính xác thì tất cả vui khổ của kiếp trầm luân
đều do phiền não làm gốc.
“Này chư Tỳ khưu, tham là nguồn
cội của nghiệp, sân là nguồn cội của
nghiệp, si là nguồn cội của nghiệp. Với
sự đoạn tận tham, sân, si dẫn dến đoạn
tận nguồn cội của nghiệp” (Tăng Chi Bộ
V. 261)
Nghiệp tạo ra thân sanh tử. Người thật sự hiểu lời Phật dạy
không nên chấp thủ nghiệp và quả nghiệp
như được dạy: “Này chư Tỳ khưu, thân nầy
không phải của các ngươi cũng không
thuộc ai khác. Đó là sản phầm của nghiệp
quá khứ tạo thành do nhân, do duyên, tác
động bởi tư niệm, và cảm thọ” (Tương Ưng
II. 65)
Nghiệp đoạn nghiệp chính là sự tu tập giải thoát sanh tử như
Phật ngôn: “Này chư tỳ khưu, thế nào là
nghiệp không trắng không đen kết quả
không đen không trắng, là nghiệp dẫn đến
đoạn nghiệp? Chí là chánh đạo tám chi
phần: chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây
gọi là nghiệp không trắng không đen kết
quả không đen không trắng” (Tăng Chi Bộ
II 236). Như vậy sự tu tập giới định tuệ
hay bát chánh đạo được hiểu là “nghiệp
không đen không trắng”, điều nầy ít khi
được nhận thức bởi người Phật tử, và
nghiệp nầy dẫn đến giác ngộ giải thoát,
được hiểu là quả “không trắng không đen”
cũng là một khái niệm tương đối xa lạ
với nhiều người.
Không riêng sự thực hành bát chánh đạo mà tất cả sự tu tập có
mục đích giác ngộ giải thoát đều cần
được hiểu tương tự như một Phật ngôn
khác: “Này Udāyī, vị tỳ khưu huân tu
niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần
giác chi, hỷ giác chi, tĩnh giác chi,
định giác chi, xả giác chi y cứ trên sự
ly tham, yểm ly, tịch tịnh. Đây là pháp
cao rộng, thù thắng, vô lượng, không hệ
luỵ. Với sự đoạn tận ái, vị ấy đoạn
nghiệp. Với sự đoạn nghiệp vị ấy đoạn
tận khổ.
(Tương Ưng Bộ V. 86).
Thiện pháp dẫn tới sự chuyển hoá từ nghiệp sang giải thoát
nghiệp được gọi là thiện siêu thế
(lokuttara-kusala). Sớ Giải gọi đó là
“đạo tư (magga-cetanā)” đi với “đạo tuệ
(magga-ñāṇa)”. Nói nôm na là có những
cái tốt đưa đến sự vượt lên trên mọi tốt
xấu đối đãi. Hành giả tu tập sống với
chánh niệm thật sự được hiểu là cái nhìn
“đơn thuần là quán sát” không chủ tâm
tạo tác được xem là bước đầu của con
đường chuyển hoá tự nghiệp hữu sang đoạn
nghiệp.
Phật pháp dạy rõ sự khác biệt giữa hai thứ hạnh phúc: hạnh
phúc do ái dục chi phối thuộc trầm luân
sanh tử; hạnh phúc không bị trói buộc hệ
luỵ là hạnh phúc của niết bàn. Hạnh phúc
chân thực niết bàn không bị chi phối bởi
nghiệp lực và ái.
Bài tiếp theo:
Nghiệp Báo và Xã Hội Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |