|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 28 tháng 02, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Mười Lực (S. ii, 37)
Bài 25. Kinh Bhūmija (Bhūmijasuttaṃ)
-TÁC ĐỘNG CỦA PHIỀN NÃO, NGHIỆP, QUẢ.
Có nhiều cách trình bày giáo lý duyên khởi. Hoặc gần hoặc
xa. Hoặc trực tiếp hay gián tiếp. Khi nói về nguyên nhân của
khổ đau và hạnh phúc, Phật pháp nhấn mạnh duyên tạo chứ
không nói ai tạo. Những tác động trùng trùng duyên khởi là
một soi sáng quan trọng của giáo lý vô ngã. Cách giảng về
duyên sinh qua ba nghiệp thân, ngữ, ý là một góc nhìn khác
giống như khi nói về ngũ uẩn và duyên khởi. Cách nói nầy
cũng có một số ý nghĩa thực dụng đối với hành giả tu tập
thiền quán.
Sāvatthiyaṃ viharati. Atha kho āyasmā bhūmijo sāyanhasamayaṃ
paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṃ sammodi.
Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi.
Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā bhūmijo āyasmantaṃ sāriputtaṃ
etadavoca –
‘‘Santāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā
sayaṃkataṃ sukhadukkhaṃ paññapenti. Santi panāvuso
sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā paraṃkataṃ
sukhadukkhaṃ paññapenti. Santāvuso sāriputta, eke
samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṃkatañca paraṃkatañca
sukhadukkhaṃ paññapenti. Santi panāvuso sāriputta, eke
samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ
adhiccasamuppannaṃ sukhadukkhaṃ paññapenti. Idha no, āvuso
sāriputta, bhagavā kiṃvādī kimakkhāyī, kathaṃ byākaramānā ca
mayaṃ vuttavādino ceva bhagavato assāma, na ca bhagavantaṃ
abhūtena abbhācikkheyyāma, dhammassa cānudhammaṃ
byākareyyāma, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṃ
ṭhānaṃ āgaccheyyā’’ti?
Ngự
ở Sāvatthi.
Bấy giờ vào một buổi chiều,
Tôn giả Bhūmija
từ nơi độc cư tịnh mặc
đi đến Tôn giả Sāriputta ; sau khi nói lên
những lời thăm hỏi thân thiện
rồi
ngồi xuống một bên.
Tôn giả Bhūmija
nói với
Tôn giả Sāriputta:
-- Này Hiền giả Sāriputta, có một số sa môn , bà la môn chủ
trương về nghiệp, tuyên bố khổ
lạc
do tự mình làm. Này Hiền giả Sāriputta, có một số sa môn, bà
la môn chủ
trương về nghiệp, tuyên bố khổ
lạc
do người khác làm. Này Hiền giả Sāriputta, có một số sa môn,
bà la môn chủ
trương về nghiệp, tuyên bố khổ
lạc
do tự mình làm và do người khác làm. Này Hiền giả Sāriputta,
có một số sa môn, bà la môn
chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ
lạc
không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự
nhiên sanh.
Hiền giả Sāriputta, vậy Đức
Thế Tôn
thuyết như thế nào, dạy thế nào về điểm nây? Và (nếu được
hỏi) chúng tôi trả lời như thế nào để
gọi là nói đúng lời Đức
Thế Tôn
chứ không xuyên tạc hay nói sai sự thật. Pháp chúng tôi trả
lời là đúng pháp; và không ai tìm được lý do để chỉ trích.
‘‘Paṭiccasamuppannaṃ kho, āvuso, sukhadukkhaṃ vuttaṃ
bhagavatā. Kiṃ paṭicca? Phassaṃ paṭicca. Iti vadaṃ vuttavādī
ceva bhagavato assa, na ca bhagavantaṃ abhūtena
abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṃ byākareyya, na ca koci
sahadhammiko vādānupāto gārayhaṃ ṭhānaṃ āgaccheyya.
-- Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói khổ
lạc
do duyên mà sanh. Duyên ấy là gì? Do duyên xúc. Nói như vậy
là nói đúng lời Đức Thế Tôn chứ không xuyên tạc hay nói sai
sự thật. Pháp chúng tôi trả lời là đúng pháp; và không ai
tìm được lý do để chỉ trích.
‘‘Tatrāvuso, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṃkataṃ
sukhadukkhaṃ paññapenti, tadapi phassapaccayā. Yepi
te...pe... yepi te...pe... yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā
asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ sukhadukkhaṃ
paññapenti, tadapi phassapaccayā.
Ở đây, này Hiền giả, ở đây những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ
lạc
do tự mình làm; khổ lạc ấy chính do duyên xúc. Những sa môn,
bà la môn nào
chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người khác làm;
khổ lạc ấy chính do duyên xúc. Những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình
làm và do người khác làm; khổ lạc ấy chính do duyên xúc.
Những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do
tự mình làm, không do người khác làm mà do tự nhiên sanh;
khổ lạc ấy chính do duyên xúc.
‘‘Tatrāvuso, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṃkataṃ
sukhadukkhaṃ paññapenti, te vata aññatra phassā
paṭisaṃvedissantīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Yepi te...pe. ...
yepi te...pe... yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṃkāraṃ
aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ sukhadukkhaṃ paññapenti, te
vata aññatra phassā paṭisaṃvedissantīti netaṃ ṭhānaṃ
vijjatī’’ti.
Này Hiền
giả,
ở đây những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp tuyên bố khổ lạc do tự mình
làm;
những
sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người
khác làm;
những
sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình
làm và do người khác làm;
những
sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do
tự mình làm và không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên
sanh,
ở mỗi trường hợp
họ chắc chắn không thể cảm thọ mà không có xúc.
Assosi kho āyasmā ānando āyasmato sāriputtassa āyasmatā
bhūmijena saddhiṃ imaṃ kathāsallāpaṃ. Atha kho āyasmā ānando
yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā
ānando yāvatako āyasmato sāriputtassa āyasmatā bhūmijena
saddhiṃ ahosi kathāsallāpo taṃ sabbaṃ bhagavato ārocesi.
Tôn giả Ānanda nghe được câu chuyện giữa Tôn giả Sāriputta
với Tôn giả Bhūmija.
Tôn giả đi đến Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ rồi thuật lại
câu chuyện đối thoại ra giữa Tôn giả Sāriputta và
Tôn giả Bhūmija.
[Đức Thế Tôn dạy như sau]:
‘‘Sādhu sādhu, ānanda, yathā taṃ sāriputto sammā byākaramāno
byākareyya. Paṭiccasamuppannaṃ kho, ānanda, sukhadukkhaṃ
vuttaṃ mayā. Kiṃ paṭicca? Phassaṃ paṭicca. Iti vadaṃ
vuttavādī ceva me assa, na ca maṃ abhūtena abbhācikkheyya,
dhammassa cānudhammaṃ byākareyya, na ca koci sahadhammiko
vādānupāto gārayhaṃ ṭhānaṃ āgaccheyya.
-- Lành thay, lành thay, này Ānanda!
Ai trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh sẽ
nói như Sāriputta. Này Ānanda, Ta nói rằng khổ lạc
lạc
do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là
nói đúng lời Ta thuyết chứ không xuyên tạc hay nói sai sự
thật. Pháp trả lời là đúng pháp; và không ai tìm được lý do
để chỉ trích.
‘‘Tatrānanda, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṃkataṃ
sukhadukkhaṃ paññapenti tadapi phassapaccayā. Yepi
te...pe... yepi te...pe... yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā
asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ sukhadukkhaṃ
paññapenti tadapi phassapaccayā.
Này
Ānanda,
ở đây những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình
làm; khổ lạc ấy chính do duyên xúc. Những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người
khác làm; khổ lạc ấy chính do duyên xúc. Những sa môn, bà la
môn nào chủ
trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm và do
người khác làm; khổ lạc ấy chính do duyên xúc. Những sa môn,
bà la môn nào
chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do tự mình làm,
không do người khác làm mà do tự nhiên sanh; khổ lạc ấy
chính do duyên xúc.
‘‘Tatrānanda, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṃkataṃ
sukhadukkhaṃ paññapenti, te vata aññatra phassā
paṭisaṃvedissantīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Yepi te...pe...
yepi te...pe... yepi te samaṇabrāhmaṇākammavādā asayaṃkāraṃ
aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ sukhadukkhaṃ paññapenti, te
vata aññatra phassā paṭisaṃvedissantīti netaṃ ṭhānaṃ
vijjati.
Này
Ānanda,
ở đây những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp tuyên bố khổ lạc do tự mình
làm, họ chắc chắn không thể cảm thọ mà không có xúc. Những
sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người
khác làm, họ chắc chắn không thể cảm thọ mà không có xúc.
Những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình
làm và do người khác làm, họ chắc chắn không thể cảm thọ mà
không có xúc. Những sa môn, bà la môn
nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do
tự mình làm và không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên
sanh, họ chắc chắn không thể cảm thọ mà không có xúc.
‘‘Kāye vā hānanda, sati kāyasañcetanāhetu uppajjati
ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. Vācāya vā hānanda, sati
vacīsañcetanāhetu uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. Mane vā
hānanda, sati manosañcetanāhetu uppajjati ajjhattaṃ
sukhadukkhaṃ avijjāpaccayā ca.
Này
Ānanda,
chỗ nào có thân, do thân tư niệm
nên
nội tại
sanh
khởi lạc khổ.
Chỗ
nào có
khẩu,
do
khẩu
tư niệm nên nội tại
sanh khởi lạc khổ.
Chỗ
nào có ý, do ý tư niệm nên nội tại
sanh khởi lạc khổ.
(Cả ba trường hợp) đều do vô minh chinh phối.
‘‘Sāmaṃ vā taṃ, ānanda, kāyasaṅkhāraṃ abhisaṅkharoti,
yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. Pare vā
taṃ, ānanda, kāyasaṅkhāraṃ abhisaṅkharonti, yaṃpaccayāssa
taṃ uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. Sampajāno vā taṃ,
ānanda, kāyasaṅkhāraṃ abhisaṅkharoti yaṃpaccayāssa taṃ
uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. Asampajāno vā taṃ, ānanda,
kāyasaṅkhāraṃ abhisaṅkharoti yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati
ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ.
Này Ānanda,
hoặc do chính mình tạo ra thân hành
khiến khổ lạc nội tại sanh khởi;
hay người khác tác động tạo
ra thân hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi.
Này Ānanda, do cố ý tạo ra thân hành khiến khổ lạc nội tại
sanh khởi; hay vô tình tạo
ra thân hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi
‘‘Sāmaṃ vā taṃ, ānanda, vacīsaṅkhāraṃ abhisaṅkharoti
yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. Pare vā
taṃ, ānanda, vacīsaṅkhāraṃ abhisaṅkharonti yaṃpaccayāssa taṃ
uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. Sampajāno vā taṃ,
ānanda...pe... asampajāno vā taṃ, ānanda, vacīsaṅkhāraṃ
abhisaṅkharoti yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati ajjhattaṃ
sukhadukkhaṃ.
Này Ānanda, hoặc do chính mình tạo ra
khẩu
hành khiến khổ lạc
nội tại sanh khởi;
hay người khác tác động
tạo ra
khẩu
hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi.
Này Ānanda, do cố ý tạo ra
khẩu
hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi; hay vô tình
tạo ra
khẩu
hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi
“sāmaṃ vā taṃ, ānanda, manosaṅkhāraṃ abhisaṅkharoti
yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. pare vā
taṃ, ānanda, manosaṅkhāraṃ abhisaṅkharonti yaṃpaccayāssa taṃ
uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. sampajāno vā taṃ, ānanda
... pe ... asampajāno vā taṃ, ānanda, manosaṅkhāraṃ
abhisaṅkharoti yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati ajjhattaṃ
sukhadukkhaṃ.
Này Ānanda, hoặc do chính mình tạo ra
ý
hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi;
hay người khác tác động
tạo ra
ý
hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi.
Này Ānanda, do cố ý tạo ra
ý
hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi; hay vô tình
tạo ra
ý
hành khiến khổ lạc nội tại sanh khởi
‘‘Imesu, ānanda, dhammesu avijjā anupatitā. Avijjāya tveva,
ānanda, asesavirāganirodhā so kāyo na hoti yaṃpaccayāssa taṃ
uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. Sā vācā na hoti
yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. So mano
na hoti yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ.
Khettaṃ taṃ na hoti...pe... vatthu taṃ na hoti...pe...
āyatanaṃ taṃ na hoti...pe... adhikaraṇaṃ taṃ na hoti
yaṃpaccayāssa taṃ uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkha’’nti.
Pañcamaṃ.
Này
Ānanda,
vô minh
ngự trị
trong
cả
sáu pháp này.
Nhưng với sự ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, thân ấy
không hiện hữu vốn bị chi phối bởi khổ lạc sanh khởi nội
tại.
Nhưng với sự ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, khẩu ấy
không hiện hữu vốn bị chi phối bởi khổ lạc sanh khởi nội
tại.
Nhưng với sự ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, ý ấy
không hiện hữu vốn bị chi phối bởi khổ lạc sanh khởi nội
tại.
(Do vậy, thân hành, khẩu hành, ý hành) không là thửa ruộng,
không phải là cơ sở, không là căn cứ, không là nền tảng cho
duyên tạo khiến khổ lạc sanh khởi nội tại. Chú Thích Tôn
giả Bhūmija là một trong những người bạn thời niên thiếu của
Tôn giả Sāriputta . Vị nầy là cậu ruột của hoàng tử
Jasasena.
Ngoại giáo cũng có lập thuyết nghiệp báo
(kammavādā)
nhưng tất cả đều xoay chung quanh người tạo tác khổ vui
(chính mình hay người khác). Đức Phật dạy khổ đau và hạnh
phúc do duyên. Duyên ấy bao gồm mấu chốt như được đề cập
trong thập nhị nhân duyên.
Đối thoại giữa Tôn giả Sāriputta với Tôn giả Bhūmija giống
như bài kinh trước nhưng thay vì nói khổ do ai tạo thì ở đây
đề cập cả hai khổ và lạc. (hạnh phúc và khổ đau)
Trong phần giảng dạy của Đức Phật, không chỉ nói khổ lạc do
duyên xúc mà Ngài còn đi xa hơn nói về hành với thân tư
niệm, khẩu tư niệm, ý tư niệm và hành do duyên vô minh. Khổ
lạc ở đây theo Sớ giải thuộc quả dị thục
(vipākasukhadukkha).
Nói cách khác thì duyên khởi ở đây được trình bày gồm cả vô
minh duyên hành, hành duyên thức….
Thân hành, khẩu hành, ý hành (kāyasaṅkhāra,vacīsaṅkhāra,
manosaṅkhāra) ở đây đặc biệt nói về thân nghiệp, khẩu
nghiệp, và ý nghiệp.
Theo Sớ giải thì khi Đức Phật dạy nghiệp do tự thân tạo tác
(sāmaṅ) là đề cập
“tâm vô trợ - asaṅkhārikacitta” và nghiệp tạo do người khác
tác động là tâm hữu trợ - sasaṅkhārikacitta” như được dạy
theo Thắng Pháp Abhidhamma.
Cũng theo Sớ giải thì hành động cố ý
(sampajāno) chỉ cho sự tạo tác với ý thức rõ về nghiệp
và quả. Ngược lại hành động vô ý (asampajāno) là hành động
không có ý thức về nhân quả.
Sớ giải ghi rằng “Này Ānanda, vô minh ngự trị trong cả sáu
pháp này - Imesu, ānanda, dhammesu avijjā anupatitā” chỉ cho
sự tác động trực tiếp, mà trong Thắng pháp gọi là “cận y
duyên (upanissaya-paccayo).
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |