|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 03 tháng 02, 2024 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 247. THÂN BỆNH VÀ TÂM BỆNH-Kinh Nakulapitusuttaṃ (Nakulapitusuttaṃ).
Đa số con người thường lo lắng về sự già nua bệnh hoạn nhưng
ít khi để ý rằng có một mặt khác cần lưu tâm là tinh thần.
Có thân thì phải bệnh. Nhưng thân bị già nua, bệnh hoạn mà
còn chấp thủ sai lạc thì cuộc sống càng phiền muộn khổ sở
hơn. Nói cho cùng thì làm thế nào “thân bệnh mà tâm không
bệnh” là cương lĩnh quan trọng của người tu tập. Từ điểm nầy
nói lên giá trị của chánh pháp mà Đức Phật đã truyền dạy.
Evaṃ me sutaṃ—ekaṃ samayaṃ bhagavā bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye. Atha kho nakulapitā gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho nakulapitā gahapati bhagavantaṃ etadavoca:
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự giữa dân chúng Bhagga, ở
Suṁsumāragira tại Vườn Nai của Rừng Bhesakaḷā.
Bấy giờ gia chủ Nakulapitā đi đến
Đức Thế Tôn đảnh lễ và rồi ngồi xuống một bên. Sau khi an toạ,
gia chủ Nakulapitā bạch Đức Thế Tôn:
“Ahamasmi, bhante, jiṇṇo
vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto āturakāyo abhikkhaṇātaṅko. Aniccadassāvī kho panāhaṃ,
bhante, bhagavato manobhāvanīyānañca bhikkhūnaṃ. Ovadatu maṃ,
bhante, bhagavā; anusāsatu maṃ, bhante, bhagavā; yaṃ mamassa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.
—Bạch Đức Thế Tôn, con đã già, tuổi cao, đã
đến giai đoạn cuối đời, thân không khoẻ, luôn ốm đau.
Bạch Đức Thế Tôn, con
không được thường diện kiến Đức Thế Tôn và chư Tỳ khưu khả
kính. Kính mong Đức Thế Tôn huấn thị
cho con! Kính mong Đức Thế Tôn hướng dẫn cho con! Nhờ
vậy, con được hạnh phúc, lợi lạc lâu dài. “Evametaṃ, gahapati, evametaṃ, gahapati. Āturo hāyaṃ, gahapati, kāyo aṇḍabhūto pariyonaddho. Yo hi, gahapati, imaṃ kāyaṃ pariharanto muhuttampi ārogyaṃ paṭijāneyya, kimaññatra bālyā?
—Này Gia chủ, quả thật
là vậy. Này Gia chủ, quả thật là vậy. Thân của Gia chủ
bịnh hoạn, nặng nề, khổ luỵ. Này Gia chủ, ai mang cái thân
này lại tự cho là vô bệnh, dầu chỉ trong trong khoảnh khắc,
người ấy phải là người thiểu trí! Này Gia chủ, do vậy cần
phải tâm niệm như sau: “Dầu cho thân tôi có bệnh, tâm sẽ
không bị bệnh”. Này Gia chủ, cần phải tâm niệm như vậy. Tasmātiha te, gahapati, evaṃ sikkhitabbaṃ: ‘āturakāyassa me sato cittaṃ anāturaṃ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabban”ti.
Atha kho nakulapitā gahapati bhagavato bhāsitaṃ
abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā yenāyasmā sāriputto
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ sāriputtaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho nakulapitaraṃ gahapatiṃ āyasmā sāriputto etadavoca:
Rồi gia chủ Nakulapitā sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của
Đức Thế Tôn , từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân
bên phải hướng về Ngài, đi đến Tôn giả Sāriputta.
Sau khi đếnvà đảnh lễ
Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên.
Tôn giả Sāriputta nói với gia chủ Nakulapitā :
“vippasannāni kho te, gahapati,
indriyāni; parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto. Alattha no ajja
bhagavato sammukhā dhammiṃ kathaṃ savanāyā”ti?
“Kathañhi no siyā, bhante. Idānāhaṃ,
bhante, bhagavatā dhammiyā kathāya amatena abhisitto”ti.
“Yathā kathaṃ pana tvaṃ, gahapati,
bhagavatā dhammiyā kathāya amatena abhisitto”ti?
—Này Gia chủ, thần thái của gia chủ hôm nay thanh tịnh; sắc
diện của Gia chủ hôm nay tươi sáng. Có phải hôm nay Gia chủ
diện kiến với Thế Tôn, được nghe pháp thoại?
—Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa
Tôn giả, con được tưới tẩm với nước bất tử, nhờ pháp thoại
do Đức Thế Tôn giảng dạy.
—Này Gia chủ, Gia chủ
được tưới tẩm với nước bất tử, nhờ pháp thoại do Đức Thế Tôn
giảng dạy như thế nào?
“Idhāhaṃ, bhante, yena bhagavā
tenupasaṅkamiṃ; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdiṃ. Ekamantaṃ nisinno khvāhaṃ, bhante,
bhagavantaṃ etadavocaṃ: ‘ahamasmi, bhante, jiṇṇo vuḍḍho
mahallako addhagato vayoanuppatto āturakāyo abhikkhaṇātaṅko.
Aniccadassāvī kho panāhaṃ, bhante, bhagavato
manobhāvanīyānañca bhikkhūnaṃ. Ovadatu maṃ, bhante, bhagavā;
anusāsatu maṃ, bhante, bhagavā; yaṃ mamassa dīgharattaṃ
hitāya sukhāyā’ti. Evaṃ vutte, maṃ, bhante, bhagavā
etadavoca: ‘evametaṃ, gahapati, evametaṃ, gahapati. Āturo
hāyaṃ, gahapati, kāyo aṇḍabhūto pariyonaddho. Yo hi,
gahapati, imaṃ kāyaṃ pariharanto muhuttampi ārogyaṃ
paṭijāneyya, kimaññatra bālyā? Tasmātiha te, gahapati, evaṃ
sikkhitabbaṃ—āturakāyassa me sato cittaṃ anāturaṃ
bhavissatīti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabban’ti. Evaṃ
khvāhaṃ, bhante, bhagavatā dhammiyā kathāya amatena
abhisitto”ti.
—Ở đây, thưa Tôn giả, con đi đến Đức Thế Tôn đảnh lễ và rồi
ngồi xuống một bên. Sau khi an toạ, con bạch Đức Thế Tôn:
—Bạch Đức Thế Tôn, con đã già, tuổi cao, đã đến giai đoạn
cuối đời, thân không khoẻ, luôn ốm đau.
Bạch Đức Thế Tôn, con không được thường diện kiến Đức
Thế Tôn và chư Tỳ khưu khả kính. Kính mong Đức Thế Tôn huấn
thị cho con! Kính mong Đức Thế Tôn hướng dẫn cho con! Nhờ
vậy, con được hạnh phúc, lợi lạc lâu dài.
—Này Gia chủ, quả thật là vậy. Này Gia chủ, quả thật là vậy.
Thân của Gia chủ bịnh hoạn, nặng nề, khổ luỵ. Này Gia chủ,
ai mang cái thân này lại tự cho là vô bệnh, dầu chỉ trong
trong khoảnh khắc, người ấy phải là người thiểu trí! Này Gia
chủ, do vậy cần phải tâm niệm như sau: “Dầu cho thân tôi có
bệnh, tâm sẽ không bị bệnh”. Này Gia chủ, cần phải tâm niệm
như vậy.
Thưa Tôn giả như vậy là con được tưới tẩm với nước bất tử,
nhờ pháp thoại do Đức Thế Tôn giảng dạy
“Na hi pana taṃ, gahapati, paṭibhāsi
bhagavantaṃ uttariṃ paṭipucchituṃ: ‘kittāvatā nu kho,
bhante, āturakāyo ceva hoti āturacitto ca, kittāvatā ca pana
āturakāyo hi kho hoti no ca āturacitto’”ti?
“Dūratopi kho mayaṃ, bhante,
āgaccheyyāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa
atthamaññātuṃ. Sādhu vatāyasmantaṃyeva sāriputtaṃ paṭibhātu
etassa bhāsitassa attho”ti.
“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṃ
manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṃ, bhante”ti kho nakulapitā
gahapati āyasmato sāriputtassa paccassosi. Āyasmā sāriputto
etadavoca:
—Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Đức Thế Tôn như sau:
“Như thế nào, thân có bệnh mà tâm cũng bị bệnh”? Như thế
nào, thân có bệnh mà tâm không bị bệnh?”
—Thưa Tôn giả, con có thể đi
thật xa để nghe tận mặt gặp Tôn giả Sāriputta ý nghĩa
của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sāriputta giải
thích ý nghĩa của lời nói này!
—Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ
nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Gia chủ Nakulapitā trả lời Tôn giả Sāriputta.
Tôn giả Sāriputta nói như sau:
“Kathañca, gahapati, āturakāyo ceva
hoti, āturacitto ca? Idha, gahapati, assutavā puthujjano
ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto
sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido
sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati,
rūpavantaṃ vā attānaṃ; attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ.
‘Ahaṃ rūpaṃ, mama rūpan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa
‘ahaṃ rūpaṃ, mama rūpan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino taṃ rūpaṃ
vipariṇamati aññathā hoti. Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā
uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
—Này Gia chủ, thế nào là thân bệnh mà tâm cũng bệnh? Ở đây
kẻ phàm phu không được nghe và học hiểu đạo lý của bậc
thánh, không thuần thục, không tu tập pháp của các bậc
thánh; không được nghe và học hiểu đạo lý của các bậc hiền
trí, không thuần thục, không tu tập pháp của các bậc hiền
trí sống với chấp thủ: “sắc thân là
ta, ta là sắc thân, trong sắc thân có tự ngã, trong tự
ngã có sắc thân”. Do chấp thủ “sắc thân là ta, ta là sắc
thân” nên khi
sắc vô thường, biến hoại, người ấy phiền muộn, khổ sở, đau
đớn, lo lắng, than vãn.
Vedanaṃ attato samanupassati,
vedanāvantaṃ vā attānaṃ; attani vā vedanaṃ, vedanāya vā
attānaṃ. ‘Ahaṃ vedanā, mama vedanā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.
Tassa ‘ahaṃ vedanā, mama vedanā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā
vedanā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa
vedanāvipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Người ấy chấp thủ: “cảm thọ là ta, ta là cảm thọ, trong cảm
thọ có tự ngã, trong tự ngã có cảm thọ”. Do chấp thủ “cảm
thọ là ta, ta là cảm”
nên khi cảm thọ vô thường, biến hoại, người ấy phiền
muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Saññaṃ attato samanupassati,
saññāvantaṃ vā attānaṃ; attani vā saññaṃ, saññāya vā
attānaṃ. ‘Ahaṃ saññā, mama saññā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.
Tassa ‘ahaṃ saññā, mama saññā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā
saññā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa
saññāvipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Người ấy chấp thủ: “tưởng tri là ta, ta là tưởng tri, trong
tưởng tri có tự ngã, trong tự ngã có tưởng tri”. Do chấp thủ
“tưởng tri là ta, ta là tưởng tri”
nên khi tưởng tri vô thường, biến hoại, người ấy
phiền muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Saṅkhāre attato samanupassati,
saṅkhāravantaṃ vā attānaṃ; attani vā saṅkhāre, saṅkhāresu vā
attānaṃ. ‘Ahaṃ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī
hoti. Tassa ‘ahaṃ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti
pariyuṭṭhaṭṭhāyino, te saṅkhārā vipariṇamanti aññathā honti.
Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Người ấy chấp thủ: “sở hành là ta, ta là sở hành , trong sở hành có tự ngã, trong tự ngã
có sở hành ”. Do chấp thủ “sở hành là ta, ta là sở hành ”
nên khi sở hành vô thường, biến hoại, người ấy phiền
muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Viññāṇaṃ attato samanupassati,
viññāṇavantaṃ vā attānaṃ; attani vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā
attānaṃ. ‘Ahaṃ viññāṇaṃ, mama viññāṇan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī
hoti. Tassa ‘ahaṃ viññāṇaṃ, mama viññāṇan’ti
pariyuṭṭhaṭṭhāyino, taṃ viññāṇaṃ vipariṇamati aññathā hoti.
Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Người ấy chấp thủ: “giác quan là ta, ta là giác quan , trong giác
quan có tự ngã, trong tự ngã có giác quan ”. Do chấp thủ
“giác quan là ta, ta là giác quan ”
nên khi giác quan vô thường, biến hoại, người ấy
phiền muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Evaṃ kho, gahapati, āturakāyo ceva
hoti āturacitto ca.
Như vậy là thân có bệnh mà tâm cũng bị bệnh
Kathañca, gahapati, āturakāyo hi kho
hoti no ca āturacitto? Idha, gahapati, sutavā ariyasāvako
ariyānaṃ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto
sappurisānaṃ dassāvī sappurisadhammassa kovido
sappurisadhamme suvinīto na rūpaṃ attato samanupassati, na
rūpavantaṃ vā attānaṃ; na attani vā rūpaṃ, na rūpasmiṃ vā
attānaṃ. ‘Ahaṃ rūpaṃ, mama rūpan’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī
hoti. Tassa ‘ahaṃ rūpaṃ, mama rūpan’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino,
taṃ rūpaṃ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa
rūpavipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
—Này Gia chủ, thế nào là thân bệnh mà tâm không bệnh? Ở đây
thánh đệ tử được nghe và học hiểu đạo lý của bậc thánh,
thuần thục, tu
tập pháp của các bậc thánh; được nghe và học hiểu đạo lý của
các bậc hiền trí,thuần thục, không tu tập pháp của các bậc
hiền trí không sống với chấp thủ: “sắc thân là ta, ta là sắc
thân, trong sắc thân có tự ngã, trong tự ngã có sắc thân”.
Do không chấp thủ “sắc thân là ta, ta là sắc thân”
nên khi sắc thân vô thường, biến hoại, người ấy không
phiền muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Na vedanaṃ attato samanupassati, na
vedanāvantaṃ vā attānaṃ; na attani vā vedanaṃ, na vedanāya
vā attānaṃ. ‘Ahaṃ vedanā, mama vedanā’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī
hoti. Tassa ‘ahaṃ vedanā, mama vedanā’ti
apariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā vedanā vipariṇamati aññathā hoti.
Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Na saññaṃ attato samanupassati, na
saññāvantaṃ vā attānaṃ; na attani vā saññaṃ, na saññāya vā
attānaṃ. ‘Ahaṃ saññā, mama saññā’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī
hoti. Tassa ‘ahaṃ saññā, mama saññā’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino,
sā saññā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa
saññāvipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Người ấy không chấp thủ: “cảm thọ là ta, ta là cảm thọ,
trong cảm thọ có tự ngã, trong tự ngã có cảm thọ”. Do không
chấp thủ “cảm thọ là ta, ta là cảm”
nên khi cảm thọ vô thường, biến hoại, người ấy không
phiền muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Người ấy không chấp thủ: “tưởng tri là ta, ta là tưởng tri,
trong tưởng tri có tự ngã, trong tự ngã có tưởng tri”. Do
không chấp thủ “tưởng tri là ta, ta là tưởng tri”
nên khi tưởng tri vô thường, biến hoại, người ấy
không phiền muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Na saṅkhāre attato samanupassati, na
saṅkhāravantaṃ vā attānaṃ; na attani vā saṅkhāre, na
saṅkhāresu vā attānaṃ. ‘Ahaṃ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti na
pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṃ saṅkhārā, mama
saṅkhārā’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, te saṅkhārā vipariṇamanti
aññathā honti. Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā
nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Na viññāṇaṃ attato samanupassati, na
viññāṇavantaṃ vā attānaṃ; na attani vā viññāṇaṃ, na
viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. ‘Ahaṃ viññāṇaṃ, mama viññāṇan’ti na
pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṃ viññāṇaṃ, mama
viññāṇan’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, taṃ viññāṇaṃ vipariṇamati
aññathā hoti. Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Người ấy không chấp thủ: “sở hành là ta, ta là sở hành ,
trong sở hành có tự ngã, trong tự ngã có sở hành ”. Do không
chấp thủ “sở hành là ta, ta là sở hành ”
nên khi sở hành vô thường, biến hoại, người ấy không
phiền muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Người ấy không chấp thủ: “giác quan là ta, ta là giác quan ,
trong giác quan có tự ngã, trong tự ngã có giác quan ”. Do
không chấp thủ “giác quan là ta, ta là giác quan ”
nên khi giác quan vô thường, biến hoại, người ấy
không phiền muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn.
Evaṃ kho, gahapati, āturakāyo hoti no
ca āturacitto”ti.
Idamavoca āyasmā sāriputto. Attamano
nakulapitā gahapati āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ
abhinandīti.
Này Gia chủ, như vậy là thân
bệnh mà tâm không bệnh
Tôn giả Sāriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapitā hoan
hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta dạy.
Chú Thích
Nakulapitā là một trong những cư sĩ được biết nhiều trong
kinh điển Phật giáo. Đây là một cư sĩ có một hân nhân hết
sức tốt đẹp. Là một hình ảnh mẫu mực về người cư sĩ áp dụng
nhuần nhuyễn lời Phật dạy
Bài kinh nầy rất lợi lạc cho sự hành trì hằng ngày nên dịch
thoát để gần gũi với người đọc. Thay vì sắc, thọ, tưởng,
hành, thức là những thuật ngữ chuyên môn nhưng dịch là sắc
thân, cảm thọ, tưởng tri, sở hành, giác quan. Trên phương
diện Phật học dịch như vậy là không tinh xác nhưng dễ hiểu.
Những chữ “sầu, bi, khổ, ưu, ai” cũng dịch thoát là “phiền
muộn, khổ sở, đau đớn, lo lắng, than vãn” trong tính cách
tương tự. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |