|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 05 tháng 02, 2024
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
- BÁT CHÁNH ĐẠO -CHÁNH NIỆM -PHẦN III.
Này chư Tỳ Khưu, thế nào là quán niệm hơi thở được tu
tập, được khai triển khiến cho tứ niệm xứ được viên mãn? Này chư Tỳ Khưu,
khi thở vô dài vị ấy biết: đang thở vô dài; khi thở ra
dài vị ấy biết: đang thở ra dài. Khi thở vô ngắn vị ấy
biết: đang thở vô ngắn; khi thở ra ngắn vị ấy biết: đang
thở ra ngắn. Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm
toàn thân; vị ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm toàn
thân. Vị ấy thực hành: thở vô với an tịnh thân hành; vị
ấy thực hành: thở ra với an tịnh thân hành. Trong khi
ấy, hành giả quán thân là thân, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, bỏ một bên sự ham muốn hay phiền muộn đối
với cuộc đời. Ta nói rằng hơi thở ra vào chính là
thân trong các thân.
Đó là tại sao trong khi ấy, hành giả quán
thân là thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một
bên sự ham muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời.
Chú thích:
Chữ “sabbakaya – toàn thân” có hai cách giải thích. Một
là toàn thời gian thở vô và thở ra (từ lúc bắt đầu tới
khi kết thúc ( theo các ngài
Ñānamoli, 1998, Nyanaponika, Buddhadasa
và Visuddhimagga
[1991, pp. 266–267]. Hai là toàn thân nghĩa là toàn
bộ châu thân do ảnh hưởng của hơi thở (theo ngài Bodhi,
ngài Piyadassi). Ý nghĩa nầy có liên hệ tới chữ
“parimukkha” trong đoạn trước được dịch là “hướng niệm
trước mặt”. Trước đây theo một số thiền sư là chót
mũi, ngực, hay bụng (phồng xệp). Nhưng theo một số các
vị thiền sư khác thì “chữ toàn thân” cho thấy chánh niệm
không đặt riêng một tiêu điểm như vậy.
Câu “Kāyesu kāyaññatarāhaṁ, bhikkhave, evaṁ vadāmi
yadidaṁassāsapassāsā- Ta
nói rằng hơi thở ra vào chính là thân trong các thân”
được chú thích theo bản Sớ Giải có hai ý nghĩa một là
chánh niệm hơi thở là một trong bốn đại thuộc về phong
đại. Hai là xúc giác cảm nhận hơi thở ra vào. Điều nầy
hàm ý là muốn nắm kéo một tấm mền lớn thì trước hết nắm
một góc nào đó - từ đó kéo được tất cả.
Câu “quán thân là thân” có nghĩa là “thấy vậy biết vậy
không suy diễn khác hơn ( bản Anh ngữ caủ Ngài Bodhi
dịch là “a bhikkhu abides contemplating the body as a
body”) nói cách khác là quán sát thân là thân “không tô
hồng chuốc lục”. Ý nghĩa nầy được tìm thấy tương tự
trong kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhanasutta) với những
câu “vị ấy thấy sắc chỉ là sắc thôi, thấy thọ chỉ là
thọ, thấy tưởng chỉ là tưởng, thấy hành chỉ là hành. Ở
những đoạn sau có các mệnh đề “quán thọ là thọ”, “quán
tâm là tâm”, “quán pháp là pháp” cũng mang ý nghĩa tương
tự. (Bản dịch của HT Thích Minh Châu là “quán thân trên
thân” có thể được hiểu khác hơn là với ý nghĩa “muốn
biết cái nào thì nhìn thẳng vào cái đó”).
Này chư Tỳ Khưu,
khi hành giả thực hành: thở vô với trải nghiệm hỷ
thọ; vị ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm hỷ thọ.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm lạc thọ;
vị ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm lạc thọ.
Vị ấy thực hành: thở vô với an tịnh tâm hành; vị
ấy thực hành: thở ra với an tịnh tâm hành. Trong khi ấy,
hành giả quán cảm thọ là cảm thọ,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự ham muốn
hay phiền muộn đối với cuộc đời. Ta nói rằng quán
niệm hơi thở ra vào một cách tinh tế chính là cảm thọ
trong các cảm thọ.
Đó là tại sao trong khi ấy, hành giả quán cảm thọ là
cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự
ham muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời. Chú thích:
Theo Sớ Giải thì cụm từ “sādhukaṃ manasikāraṃ - tác ý
một cách tinh tế” tự nó không phải là cảm thọ mà mang
ngụ ý là khi sự chánh niệm hơi thở ở mức độ thuần thụ
thì hành giả có thể cảm nhận cảm giác thoải mái, khó
chịu khi theo dõi hơi thở. Sự cảm nhận cảm giác ở đây
như là một “phó sản (by-product)” của chánh niệm hơi
thở.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm tâm thái; vị ấy
thực hành: thở ra với trải nghiệm tâm thái. Vị ấy thực
hành: thở vô với trải nghiệm tâm tập chú; vị ấy thực
hành: thở ra với trải nghiệm tâm tập chú. Vị ấy thực
hành: thở vô với trải nghiệm tâm thanh thản; vị ấy thực
hành: thở ra với trải nghiệm tâm thanh thản.
Trong khi ấy, hành giả quán tâm
là tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự
ham muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời. Ta không
nói rằng có sự tu tập quán niệm hơi thở ra vào đối với
người thất niệm hay không chánh niệm hoàn toàn.
Đó là tại sao trong khi ấy, hành giả quán tâm là
tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự ham
muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời. Theo Sớ Giải thì tâm quán niệm xứ ở đây lấy tâm thái chung quanh chánh niệm làm đối tượng ghi nhận. Với chánh niệm đủ tinh tế trong lúc niệm hơi thở hành giả có thể nhận ra ngay lúc ấy chánh niệm tập chú cao độ hay không, hay thanh thản hoặc bận rộn. Nói cách khác là biết được trạng thái đang có của chánh niệm (Xem thêm ý nghĩa ở phần kế tiếp).
Vị ấy thực hành: thở vô với tùy quán vô thường; vị ấy
thực hành: thở ra với tùy quán vô thường. Vị ấy thực
hành: thở vô với tùy quán biến hoại; vị ấy thực hành:
thở ra với tùy quán biến hoại. Vị ấy thực hành: thở vô
với tùy quán tịch tịnh; vị ấy thực hành: thở ra với tùy
quán tịch tịnh. Vị ấy thực hành: thở vô với tùy quán từ
bỏ; vị ấy thực hành: thở ra với tùy quán từ bỏ.
Trong khi ấy, hành giả quán pháp là pháp, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự ham muốn hay phiền
muộn đối với cuộc đời. Thấy với minh sát từ bỏ ham
muốn hay phiền muộn vị ấy nhìn bằng sự bình tâm.
Đó là tại sao trong khi ấy, hành giả quán pháp là
pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự ham
muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời. Theo Sớ Giải thì chữ “pháp -dhamma” ở đây mang hai ý
nghĩa: một là cảnh của ý thức hay cảnh không thuộc năm
giác quan thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc
giác. Pháp ở
đây cũng hàm nghĩa là những đề tài pháp như năm triền
cái, sáu nội xứ, tứ diệu đế …. được trãi nghiệm trên
thực tại.
Theo Ngài Bhaddanta Āciṇṇa (Pa-Auk Sayadaw) thì từ sự
thành thạo chánh niệm hơi thở ra vào hành giả dần dà
thấy được ba khía cạnh khác là cảm thọ (thọ quán), tâm
thái (tâm quán), và cảnh của tâm (pháp quán). Tâm và
cảnh là hai đối tượng chủ quan và khách quan. Điều nầy
tương tự như tài xế khi đang lái xe có ý thức rõ tình
trạng của xe cùng lúc với hành trình.
Này chư Tỳ Khưu,
đó là quán niệm hơi thở được tu tập, được khai
triển khiến cho tứ niệm xứ được viên mãn
Chú thích:
Trên phương diện thực hành, thường có ý kiến khác biệt
giữa các vị thiền sư về điểm nầy là 16 phép niệm hơi thở
và bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp) nên được tu tập
đồng thời (concurrently) hay theo trình tự trước sau
(sequentially). Đa số các ngài dạy rằng tuỳ theo căn cơ.
Nhưng một số ít khẳng định là phải có căn bản chỉ tịnh
trước khi đi xa hơn tức là phải lão luyện chánh niệm hơi
thở ra vào. Phần lớn hướng dẫn chánh niệm hơn thở nếu có
cảm thọ đau nhức, tâm không tập trung, hay khởi sanh
phiền não… thì ghi nhận rồi hướng chánh niệm trở lại với
hơi thở.
(Còn
tiếp) Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |