|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 13 tháng 02, 2024 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 249. VÔ SỞ TRỤ, VÔ SỞ ĐẮC-Kinh Hāliddikāni (Hāliddikānisuttaṃ).
Nếu xuất gia chỉ là rời nhà vào chùa, cạo tóc, mặc y thì vô
số người làm được. Như nếu xuất gia là đạt đến cảnh giới “vô
sở trụ, vô sở đắc” thì
là một hành trình mang ý nghĩa thâm sâu tinh tế hơn
nhận thức thường tình. Đối với cả hai thế giới nội tại, hay
năm uẩn, và thế giới bên ngoài hay sáu trần, không chấp thủ,
bám víu mới là xuất gia đúng nghĩa. Cuộc tu chân thật là lối
sống có chiều sâu chứ không phải chỉ là hình tướng bên
ngoài.
Evaṃ me sutaṃ—ekaṃ samayaṃ āyasmā
mahākaccāno avantīsu viharati kuraraghare papāte pabbate.
Atha kho hāliddikāni gahapati
yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
āyasmantaṃ mahākaccānaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
Ekamantaṃ nisinno kho hāliddikāni gahapati āyasmantaṃ
mahākaccānaṃ etadavoca:“vuttamidaṃ, bhante, bhagavatā
aṭṭhakavaggiye māgaṇḍiyapañhe:
Tôi được nghe
như vầy,
Một thuở Tôn giả
Mahākaccāna (Ma ha ca chiên diên) sống giữa dân chúng
Avanti, tại núi Pāpata ở Kkuraraghara. Bấy giờ gia chủ
Hāliddikāni đi đến Tôn giả Mahākaccāna đảnh lễ rồi ngồi
xuống một bên và bạch rằng:
-
Thưa Tôn Giả, Đức Thế Tôn đã nói
ở phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Māgandiya” như
sau: ‘Okaṃ pahāya aniketasārī, Gāme akubbaṃ munisanthavāni; Kāmehi ritto apurakkharāno, Kathaṃ na viggayha janena kayirā’ti. Imassa kho, gahapati, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṃ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti. Bậc thánh giữa làng mạc Không gắn kết một ai Bỏ dục lạc, hy cầu Chẳng tranh luận với đời
Thưa Tôn Giả,
lời dạy cô đọng nầy của Đức Thế Tôn nên được hiểu một cách
rộng rãi như thế nào?
“Rūpadhātu kho, gahapati, viññāṇassa
oko. Rūpadhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṃ ‘okasārī’ti
vuccati. Vedanādhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Vedanādhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṃ ‘okasārī’ti
vuccati. Saññādhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Saññādhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṃ ‘okasārī’ti
vuccati. Saṅkhāradhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Saṅkhāradhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṃ ‘okasārī’ti
vuccati. Evaṃ kho, gahapati, okasārī hoti. —Này Gia chủ, thành tố sắc là sở trú của tâm; khi tâm bị cột trói bởi dục vọng là sống trong tục luỵ. Thành tố thọ là sở trú của tâm; khi tâm bị cột trói bởi dục vọng là sống trong tục luỵ. Thành
tố hành là sở trú của tâm; khi tâm bị cột trói bởi dục vọng
là sống trong tục luỵ. Thành tố thức là sở trú của tâm;
khi tâm bị cột trói bởi dục vọng là sống trong tục luỵ. Sống
như vậy là sống tại gia. |
Kathañca, gahapati, anokasārī hoti?
Rūpadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā
taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te
tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā
anabhāvaṅkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā tathāgato
‘anokasārī’ti vuccati. Vedanādhātuyā kho, gahapati …
saññādhātuyā kho, gahapati … saṅkhāradhātuyā kho, gahapati …
viññāṇadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā
taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te
tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā
anabhāvaṅkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā tathāgato
‘anokasārī’ti vuccati. Evaṃ kho, gahapati, anokasārī hoti.
Này Gia chủ, thế
nào là xuất gia sống không nhà?
Này Gia chủ, đối
với thành tố sắc, những ham muốn, dục vọng, vui sướng, khao
khát, chấp thủ, mộng tưởng, khuynh hướng tham cầu tiềm ẩn
đã được Đức Như Lai đoạn tận, nhỗ tận gốc rễ, như cây
kè bị chặt không thể mọc lại, không thể hồi sinh trong tương
lai. Như vậy Như Lai được gọi là ra đi sống không nhà.
Này Gia chủ, đối với thành tố thọ ….
Này Gia chủ, đối
với thành tố tưởng ….
Này Gia chủ, đối
với thành tố hành ….
Này Gia chủ, đối
với thành tố thức, những ham muốn, dục vọng, vui sướng, khao
khát, chấp thủ, mộng tưởng, khuynh hướng tham cầu tiềm ẩn
đã được Đức Như Lai đoạn tận, nhỗ tận gốc rễ, như cây
kè bị chặt không thể mọc lại, không thể hồi sinh trong tương
lai. Như vậy Như Lai được gọi là ra đi sống không nhà.
Như vậy, này Gia
chủ, là xuất gia sống không nhà.
Kathañca, gahapati, niketasārī hoti?
Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati,
‘niketasārī’ti vuccati. Saddanimitta …pe… gandhanimitta …
rasanimitta … phoṭṭhabbanimitta …
dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati,
‘niketasārī’ti vuccati. Evaṃ kho, gahapati, niketasārī hoti.
Này Gia chủ, thế
nào là xuất gia mà tại gia? Dối với sắc tướng bị trói buộc
và giam hãm gọi là xuất gia mà tại gia; đối với
thanh tướng … hương
tướng …vị tướng … vào xúc tướng. … đối với pháp tướng
bị trói buộc và giam
hãm gọi là xuất gia mà tại gia. Này Gia chủ, như vậy là xuất
gia mà tại gia.
Kathañca, gahapati, aniketasārī hoti?
Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati,
tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā
anabhāvaṅkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā tathāgato
‘aniketasārī’ti vuccati. Saddanimitta … gandhanimitta …
rasanimitta … phoṭṭhabbanimitta …
dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati,
tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā
anabhāvaṅkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā tathāgato
‘aniketasārī’ti vuccati. Evaṃ kho, gahapati, aniketasārī
hoti.
Này Gia chủ, thế
nào là xuất gia đúng nghĩa xuất gia?
Này Gia chủ, đối
với sắc tướng, những ham muốn, dục vọng, vui sướng, khao
khát, chấp thủ, mộng tưởng, khuynh hướng tham cầu tiềm ẩn
đã được Đức Như Lai đoạn tận, nhỗ tận gốc rễ, như cây
kè bị chặt không thể mọc lại, không thể hồi sinh trong tương
lai. Như vậy Như Lai được gọi là ra đi sống không nhà.
Này Gia chủ, đối
với thinh tướng ….
Này Gia chủ, đối
với hương tướng …
Này Gia chủ, đối với vị tướng ….
Này Gia chủ, đối
với xúc tướng ….
Này Gia chủ, đối
với pháp tướng, những ham muốn, dục vọng, vui sướng, khao
khát, chấp thủ, mộng tưởng, khuynh hướng tham cầu tiềm ẩn
đã được Đức Như Lai đoạn tận, nhỗ tận gốc rễ, như cây
kè bị chặt không thể mọc lại, không thể hồi sinh trong tương
lai. Như vậy Như Lai được gọi là ra đi sống không nhà.
Này Gia chủ, như
là xuất gia đúng nghĩa xuất gia.
Kathañca, gahapati, gāme santhavajāto hoti? Idha, gahapati,
ekacco gihīhi saṃsaṭṭho viharati sahanandī sahasokī,
sukhitesu sukhito, dukkhitesu dukkhito, uppannesu
kiccakaraṇīyesu attanā tesu yogaṃ āpajjati. Evaṃ kho,
gahapati, gāme santhavajāto hoti.
Này Gia chủ, thế
nào là gắn kết với người trong làng mạc? Này Gia chủ, ở đây
có người sống thân mật với cư sĩ. Cùng vui, cùng buồn. Người
sung sướng thì mình sung sướng. Người phiền muộn thì mình
phiền muộn. Người bận bịu với việc gì thì tự mình cũng bận
bịu với việc đó. Này Gia chủ, như vậy là gắn kết với người
trong làng mạc.
Kathañca, gahapati, gāme na santhavajāto hoti? Idha,
gahapati, bhikkhu gihīhi asaṃsaṭṭho viharati na sahanandī na
sahasokī na sukhitesu sukhito na dukkhitesu dukkhito,
uppannesu kiccakaraṇīyesu na attanā tesu yogaṃ āpajjati.
Evaṃ kho, gahapati, gāme na santhavajāto hoti.
Này Gia chủ, thế
nào là không gắn kết với người trong làng mạc? Này Gia chủ,
ở đây có người sống không quá thân mật với cư sĩ. Không cùng
vui, cùng buồn. Người sung sướng thì mình không nhất thiết
sung sướng. Người phiền muộn thì mình hà tất phiền muộn.
Người bận bịu với việc gì thì không tự mình cũng bận bịu với
việc đó. Này Gia chủ, như vậy là không gắn kết với người
trong làng mạc.
Kathañca, gahapati, kāmehi aritto hoti? Idha, gahapati,
ekacco kāmesu avigatarāgo hoti avigatacchando avigatapemo
avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Evaṃ kho,
gahapati, kāmehi aritto hoti.
Này Gia chủ, thế
nào là không từ bỏ các dục vọng? Này Gia chủ, ở đây có người
đối với dục lạc ham muốn, ái luyến, đam mê, khao khát, chấp
thủ. Như vậy là từ bỏ có dục vọng.
Kathañca, gahapati, kāmehi ritto hoti? Idha, gahapati,
ekacco kāmesu vigatarāgo hoti vigatacchando vigatapemo
vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho. Evaṃ kho, gahapati,
kāmehi ritto hoti.
Này Gia chủ, thế nào là
từ bỏ các dục vọng? Này Gia
chủ, ở đây có người đối với dục lạc không ham muốn, ái
luyến, đam mê, khao khát, chấp thủ. Như vậy là từ bỏ có dục
vọng.
Kathañca, gahapati, purakkharāno hoti? Idha, gahapati,
ekaccassa evaṃ hoti: ‘evaṃrūpo siyaṃ anāgatamaddhānaṃ,
evaṃvedano siyaṃ anāgatamaddhānaṃ, evaṃsañño siyaṃ
anāgatamaddhānaṃ, evaṃsaṅkhāro siyaṃ anāgatamaddhānaṃ,
evaṃviññāṇo siyaṃ anāgatamaddhānan’ti. Evaṃ kho, gahapati,
purakkharāno hoti.
Này Gia chủ, thế nào là
mộng tưởng? Này Gia chủ, ở
đây có người có người suy nghĩ: mong là trong tương lai sắc
là như vậy; . …tưởng là như vậy;…hành là như vậy; thức là
như vậy. Này Gia chủ, như vậy là mộng tưởng
Kathañca, gahapati, apurakkharāno hoti? Idha, gahapati,
ekaccassa na evaṃ hoti: ‘evaṃrūpo siyaṃ anāgatamaddhānaṃ,
evaṃvedano siyaṃ anāgatamaddhānaṃ, evaṃsañño siyaṃ
anāgatamaddhānaṃ, evaṃsaṅkhāro siyaṃ anāgatamaddhānaṃ,
evaṃviññāṇo siyaṃ anāgatamaddhānan’ti. Evaṃ kho, gahapati,
apurakkharāno hoti.
Này Gia chủ, thế
nào là không mộng tưởng? Này Gia chủ, ở đây có người không
suy nghĩ: mong là trong tương lai sắc là như vậy; . …tưởng
là như vậy;…hành là như vậy; thức là như vậy. Này Gia chủ,
như vậy là không mộng tưởng
Kathañca, gahapati, kathaṃ viggayha janena kattā hoti? Idha,
gahapati, ekacco evarūpiṃ kathaṃ kattā hoti: ‘na tvaṃ imaṃ
dhammavinayaṃ ājānāsi; ahaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāmi. Kiṃ
tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi;
ahamasmi sammāpaṭipanno. Pure vacanīyaṃ pacchā avaca; pacchā
vacanīyaṃ pure avaca. Sahitaṃ me, asahitaṃ te. Adhiciṇṇaṃ te
viparāvattaṃ. Āropito te vādo; cara vādappamokkhāya.
Niggahitosi; nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti. Evaṃ kho,
gahapati, kathaṃ viggayha janena kattā hoti.
Này Gia chủ, thế
nào là tranh luận với đời? Này Gia chủ, ở đây có người nói
như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Ta biết Pháp và
Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông đã phạm
vào tà kiến. Ta mới thật đúng chánh kiến. Những điều đáng
nói trước, Ông lại nói sau. Những điều đáng nói sau, Ông lại
nói trước. Lời nói của ta mới tương ưng. Lời nói của Ông
không tương ưng. Chủ kiến của Ông đã bị bài bác. Câu nói của
Ông đã bị thách đố. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Ông đã
bị thuyết bại. Nếu có thể được, hãy gắng thoát ra khỏi lối
bí”. Này Gia chủ, như vậy là tranh luận với đời.
Kathañca, gahapati, kathaṃ na viggayha janena kattā hoti?
Idha, gahapati, bhikkhu na evarūpiṃ kathaṃ kattā hoti: ‘na
tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi …pe… nibbeṭhehi vā sace
pahosī’ti. Evaṃ kho, gahapati, kathaṃ na viggayha janena
kattā
hoti.
Này Gia chủ,
thế nào là không tranh luận với
đời? Này Gia chủ, ở đây có người không nói như sau: “Ông
không biết Pháp và Luật này. Ta biết Pháp và Luật này. ….
Nếu có thể được, hãy gắng thoát ra khỏi lối bí”. Này Gia
chủ, như vậy là không tranh luận với đời. ‘Okaṃ pahāya aniketasārī, Gāme akubbaṃ munisanthavāni; Kāmehi ritto apurakkharāno, Kathaṃ na viggayha janena kayirā’ti. Imassa kho, gahapati, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṃ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Này Gia chủ, lời
của Đức Thế Tôn đã nói ở phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu
hỏi của Māgandiya” : Bậc thánh giữa làng mạc Không gắn kết một ai Bỏ dục lạc, hy cầu Chẳng tranh luận với đời
Này Gia chủ, lời
dạy cô đọng nầy của Đức Thế Tôn nên được hiểu một cách rộng
rãi như vậy.
Chú Thích
Gia chủ Hāliddikāni là một cư sĩ thuần thành ở xứ Avanti.
Tôn giả Mahākaccāna là một trong những đại đệ tử của Đức
Phật được xác chứng là bậc đệ nhất về giảng rộng những gì
được nói ngắn gọn (sankhittena bhāsitassa vitthārena attham
vibhajantānam) (A.i.23). Ngài đến từ sanh quán Avanti.
Avanti được biết là vùng đất gần Mumbai ngày nay thuộc Nam
Ấn. Thời Phật trụ thế là vương quốc lớn tương đương với
Maghadha và Kosala.
Nhiều bài kinh như một số kinh khác
ghi lại pháp học thời
Đức Phật trụ thế đã hình thành một số quyển kinh với bố cục
hẳn hòi giúp ích đối với sự tụng đọc, học hỏi cho cả hai
giới xuất gia và tại gia.
Bài kinh nầy nói về chữ xuất gia với cả hai nghĩa đen và
nghĩa bóng. Sự xuất gia bỏ nhà đi tù là hình tướng. Sự xuất
gia chân thực là không chấp thủ năm uẩn nội tại, sáu cảnh
ngoại tại, không quan hệ gắn kết với người đời, không tranh
luận hơn thua với ai.
Theo Sớ giải chữ dhātu (nguyên tố, thành tố) ở đây tương
đương với chữ khandha (uẩn) Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |