|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 20 tháng 02, 2024 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 252-Kinh Tịnh Cự (Paṭisallāṇasuttaṃ. Tập III – Uẩn. Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phần I-Phẩm Nakulapitā (S,ii,291)
Bài kinh nầy có nội dung giống bài kinh trước – Kinh Thiền
Định - chỉ một điểm khác biệt nhỏ là câu đầu thay vì “Này
chư Tỳ Khưu, hãy tu tập thiền định” thì đổi thành “Này chư
Tỳ Khưu, hãy sống tịnh cư”. Đức Phật dạy kinh nầy do thấy
một số tỳ khưu không tiếp tục sống tịnh cư. Bậc Đạo sư biết
nếu các vị ấy tiếp tục sống tịnh cư sẽ có những thành tựu
quan trọng trong sự tu tập.
Bài 253. LO
LẮNG ĐẾN TỪ CÁI NHÌN SAI LẠC
Kinh Chấp Thủ Và Âu Lo (Upādāparitassanāsuttaṃ) Tập III – Uẩn -Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phần I-Phẩm Nakulapitā (S,ii,292)
Âu lo là căn bệnh tâm lý lớn của nhân loại. Từ âu lo tạo
thành căng thẳng, trầm cảm, khủng hoảng tâm lý và những bệnh
trạng của thân như áp huyết, đau tim, loét dạ dày….. Cái
nhìn thông thường thì nguyên nhân của âu lo đến từ sự bất an
của cuộc sống - thường quy trách lý do bên ngoài” như chiến
tranh, lạm phát, thiên tai… Người ta ít khi nhận ra sự lo âu
bắt nguồn từ cái nhìn sai lạc nội tại. Người có hiểu biết
chánh pháp và có tu tập thấy được mấu chốt ở nội tâm. Càng
tu tập thì tâm càng tự tại với những đổi thay của cuộc sống.
Sāvatthinidānaṃ.
“Upādāparitassanañca vo, bhikkhave,
desessāmi anupādāaparitassanañca. Taṃ suṇātha, sādhukaṃ
manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṃ, bhante”ti, kho te bhikkhū
bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca:
Nhân duyên ở
Sāvatthi …
—Này chư Tỳ
Khưu, Ta sẽ giảng cho các Thầy về sự chấp thủ và âu lo; sự
không chấp thủ và không âu lo. Hãy lắng nghe và suy nghiệm
kỹ, Ta sẽ nói.
—Dạ vâng, bạch
Thế Tôn.
Chư Tỳ Khưu trả
lời và Đức Thế
Tôn dạy như sau:
“Kathañca, bhikkhave,
upādāparitassanā hoti? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano
ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme
avinīto, sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido
sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati,
rūpavantaṃ vā attānaṃ; attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ.
Tassa taṃ rūpaṃ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa
rūpavipariṇāmaññathābhāvā rūpavipariṇāmānuparivatti viññāṇaṃ
hoti. Tassa rūpavipariṇāmānuparivattijā paritassanā
dhammasamuppādā cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso
pariyādānā uttāsavā ca hoti vighātavā ca apekkhavā ca
upādāya ca paritassati.
Vedanaṃ attato samanupassati, vedanāvantaṃ vā attānaṃ;
attani vā vedanaṃ, vedanāya vā attānaṃ. Tassa sā vedanā
vipariṇamati aññathā hoti. Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā
vedanāvipariṇāmānuparivatti viññāṇaṃ hoti. Tassa
vedanāvipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā
cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso pariyādānā uttāsavā ca
hoti vighātavā ca apekkhavā ca upādāya ca paritassati.
Saññaṃ attato samanupassati …pe…
Saṅkhāre attato samanupassati, saṅkhāravantaṃ vā attānaṃ;
attani vā saṅkhāre, saṅkhāresu vā attānaṃ. Tassa te saṅkhārā
vipariṇamanti aññathā honti. Tassa
saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā saṅkhāravipariṇāmānuparivatti
viññāṇaṃ hoti. Tassa saṅkhāravipariṇāmānuparivattijā
paritassanā dhammasamuppādā cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti.
Cetaso pariyādānā uttāsavā ca hoti vighātavā ca apekkhavā ca
upādāya ca paritassati.
Viññāṇaṃ attato samanupassati, viññāṇavantaṃ vā attānaṃ;
attani vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. Tassa taṃ
viññāṇaṃ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa
viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā viññāṇavipariṇāmānuparivatti
viññāṇaṃ hoti. Tassa viññāṇavipariṇāmānuparivattijā
paritassanā dhammasamuppādā cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti.
Cetaso pariyādānā uttāsavā ca hoti vighātavā ca apekkhavā ca
upādāya ca paritassati. Evaṃ kho, bhikkhave,
upādāparitassanā hoti.
—Này chư Tỳ Khưu, thế nào là sự chấp thủ và âu lo?
Này chư Tỳ Khưu, ở đây phàm phu không học hỏi và tham kiến các bậc
thánh, không thiện xảo, không tu tập pháp các bậc thánh,
xem sắc là tự ngã; tự ngã có sắc;
sắc ở trong tự ngã; tự ngã trong sắc. Khi sắc thay đổi hay
biến hoại, tâm người ấy bị chiếm ngự bời sự biến đối của
sắc. Sự âu lo và những phức cảm liên hệ
sanh khởi chi phối và ngự trị tâm của vị ấy. Do tâm
bị chi phối nên sợ hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ
khiến người ấy âu lo.
Người
ấy xem thọ là tự ngã; tự ngã có thọ; thọ ở trong tự ngã; tự
ngã trong thọ. Khi thọ thay đổi hay biến hoại, tâm người ấy
bị chiếm ngự bời sự biến đối của thọ. Sự âu lo và những phức
cảm liên hệ sanh
khởi chi phối và ngự trị tâm của vị ấy. Do tâm bị chi phối
nên sợ hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ khiến người ấy
âu lo.
Người
ấy xem tưởng là tự ngã; tự ngã có tưởng; tưởng ở trong tự
ngã; tự ngã trong tưởng. Khi tưởng thay đổi hay biến hoại,
tâm người ấy bị chiếm ngự bời sự biến đối của tưởng. Sự âu
lo và những phức cảm liên hệ
sanh khởi chi phối và ngự trị tâm của vị ấy. Do tâm
bị chi phối nên sợ hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ
khiến người ấy âu lo.
Người
ấy xem hành là tự ngã; tự ngã có hành; hành ở trong tự ngã;
tự ngã trong hành. Khi hành thay đổi hay biến hoại, tâm
người ấy bị chiếm ngự bời sự biến đối của hành. Sự âu lo và
những phức cảm liên hệ
sanh khởi chi phối và ngự trị tâm của vị ấy. Do tâm
bị chi phối nên sợ hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ
khiến người ấy âu lo.
Người
ấy xem thức là tự ngã; tự ngã có thức; thức ở trong tự ngã;
tự ngã trong thức. Khi thức thay đổi hay biến hoại, tâm
người ấy bị chiếm ngự bời sự biến đối của thức. Sự âu lo và
những phức cảm liên hệ
sanh khởi chi phối và ngự trị tâm của vị ấy. Do tâm
bị chi phối nên sợ hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ
khiến người ấy âu lo.
Này chư Tỳ Khưu, như vậy là sự chấp thủ và âu lo.
Kathañca, bhikkhave, anupādāaparitassanā hoti? Idha,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako ariyānaṃ dassāvī
ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṃ
dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṃ attato samanupassati, na rūpavantaṃ vā attānaṃ; na
attani vā rūpaṃ, na rūpasmiṃ vā attānaṃ. Tassa taṃ rūpaṃ
vipariṇamati aññathā hoti. Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā
na rūpavipariṇāmānuparivatti viññāṇaṃ hoti. Tassa na
rūpavipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā
cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso apariyādānā na
cevuttāsavā hoti na ca vighātavā na ca apekkhavā, anupādāya
ca na paritassati.
Na vedanaṃ attato samanupassati, na vedanāvantaṃ vā attānaṃ;
na attani vā vedanaṃ, na vedanāya vā attānaṃ. Tassa sā
vedanā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa
vedanāvipariṇāmaññathābhāvā na vedanāvipariṇāmānuparivatti
viññāṇaṃ hoti. Tassa na vedanāvipariṇāmānuparivattijā
paritassanā dhammasamuppādā cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti.
Cetaso apariyādānā na cevuttāsavā hoti na ca vighātavā na ca
apekkhavā, anupādāya ca na paritassati.
Na saññaṃ …pe… na saṅkhāre attato samanupassati,
na attani vā saṅkhāre, na saṅkhāresu vā attānaṃ. na
saṅkhāravantaṃ vā attānaṃ; Tassa te saṅkhārā vipariṇamanti
aññathā honti. Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā na
saṅkhāravipariṇāmānuparivatti viññāṇaṃ hoti. Tassa na
saṅkhāravipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā
cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso apariyādānā na
cevuttāsavā hoti na ca vighātavā na ca apekkhavā, anupādāya
ca na paritassati.
Na viññāṇaṃ attato samanupassati, na viññāṇavantaṃ vā
attānaṃ …pe… tassa taṃ viññāṇaṃ vipariṇamati aññathā hoti.
Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā na
viññāṇavipariṇāmānuparivatti viññāṇaṃ hoti. Tassa na
viññāṇavipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā
cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso apariyādānā na
cevuttāsavā hoti na ca vighātavā na ca apekkhavā, anupādāya
ca na paritassati. Evaṃ kho, bhikkhave, anupādā
aparitassanaṃ hotī”ti.
—Này chư Tỳ Khưu, thế nào là không chấp thủ và âu lo?
Này chư Tỳ Khưu, ở đây một đệ tử cao quý có học hỏi và tham kiến các bậc
thánh, thiện xảo, tu tập pháp các bậc thánh, không xem sắc
là tự ngã; tự ngã có sắc; sắc ở trong tự ngã; tự ngã trong
sắc. Khi sắc thay đổi hay biến hoại, tâm người ấy không bị
chiếm ngự bời sự biến đối của sắc. Sự âu lo và những phức
cảm liên hệ sanh khởi không chi phối và ngự trị tâm của vị
ấy. Do tâm không bị chi phối nên không có sợ hãi, bất an,
giao động qua sự chấp thủ khiến người ấy phải âu lo.
Người
ấy không xem thọ là tự ngã; tự ngã có thọ; thọ ở trong tự
ngã; tự ngã trong thọ. Khi thọ thay đổi hay biến hoại, tâm
người ấy không bị chiếm ngự bời sự biến đối của thọ. Sự âu
lo và những phức cảm liên hệ sanh khởi không chi phối và ngự
trị tâm của vị ấy. Do tâm không bị chi phối nên không có sợ
hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ khiến người ấy phải
âu lo.
Người
ấy không xem tưởng là tự ngã; tự ngã có tưởng; tưởng ở trong
tự ngã; tự ngã trong tưởng. Khi tưởng thay đổi hay biến
hoại, tâm người ấy không bị chiếm ngự bời sự biến đối của
tưởng. Sự âu lo và những phức cảm liên hệ sanh khởi không
chi phối và ngự trị tâm của vị ấy. Do tâm không bị chi phối
nên không có sợ hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ khiến
người ấy phải âu lo.
Người
ấy không xem hành là tự ngã; tự ngã có hành; hành ở trong tự
ngã; tự ngã trong hành. Khi hành thay đổi hay biến hoại, tâm
người ấy không bị chiếm ngự bời sự biến đối của hành. Sự âu
lo và những phức cảm liên hệ sanh khởi không chi phối và ngự
trị tâm của vị ấy. Do tâm không bị chi phối nên không có sợ
hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ khiến người ấy phải
âu lo.
Người
ấy không xem thức là tự ngã; tự ngã có thức; thức ở trong tự
ngã; tự ngã trong thức. Khi thức thay đổi hay biến hoại, tâm
người ấy không bị chiếm ngự bời sự biến đối của thức. Sự âu
lo và những phức cảm liên hệ sanh khởi không chi phối và ngự
trị tâm của vị ấy. Do tâm không bị chi phối nên không có sợ
hãi, bất an, giao động qua sự chấp thủ khiến người ấy phải
âu lo.
Này chư Tỳ Khưu, như vậy là không chấp thủ và âu lo
Chú Thích
Theo Sớ Giải thì mặc dù Phật ngôn trong bài kinh nầy như dạy
về thân kiến nhưng ý nói về ba “nắm giữ (gāha)”: “đây là của
ta” (etam mama) thuộc ái chấp; “đây là ta” (eso ’ham asmi),
thuộc mạn chấp; và “đây là tự ngã của ta” (eso me attā),
thuộc kiến chấp. Ba chấp thủ nầy là nguồn cội của lo âu.
Thân kiến được xem là tà kiến hay kiến chấp vốn bàng bạc bao
trùm cuộc sống trong lúc ba sự thủ chấp kể trên được xem là
cái nhìn đối với từng trường hợp hay sự việc. Chính cái nhìn
như vậy tạo nên âu lo. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |