|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 24, tháng 02, 2024 Sinh hoạt đặc biệt- ĐẠI LỄ THƯỢNG NGUYÊN-MĀGHA PŪJĀ
Lời mở đầu
Đạo từ Nghi thức cúng dường đại lễ THƯỢNG NGUYÊN Ý nghĩa Đại lễ Tưởng niệm nhân ngày huý nhật Hoà thượng Giác Chánh Cung tuyên tiểu sử Nghi thức huý nhật Cảm niệm một bậc thầy Hồi hướng – hoàn mãn
Ý Nghĩa Đại Lễ Rằm Tháng Giêng
Tỳ khưu Giác
Ðẳng
Người Việt có
câu "phép vua thua lệ làng." Những phong
tục dân gian lắm lúc được biết nhiều hơn
là những nguyên tắc chánh truyền. Lễ
Thượng Nguyên Rằm Tháng Giêng là một
trường hợp điển hình. Tên Phạn ngữ của
đại lễ là Māgha Pūjā có nghĩa là lễ hội
ngày rằm tháng Māgha - tương đương với
tháng Giêng theo lịch Trung Hoa. Gọi là
Thượng Nguyên là cách phân chia theo Âm
Lịch cùng với Rằm tháng Bảy là Trung
Nguyên và Rằm tháng Mười là Hạ Nguyên.
Người Phật tử Việt Nam thường đi chùa
xin dâng sớ cầu an cúng sao giải hạn. Vì
là ngày Rằm đầu năm nên các chùa tổ chức
lễ rất trọng thể.
Ðại lễ Rằm Tháng
Giêng theo truyền thống Phật Giáo mang
hai ý nghĩa: Thứ nhất kỷ niệm ngày đức
Phật thuyết kinh Giải Thoát Giáo tại
Thánh Hội Tăng Già. Thứ hai kỷ niệm đánh
dấu ngày Ðức Phật công bố Giáo Pháp đã
được thiết lập vững vàng và Ngài sẽ viên
tịch trong ba tháng nữa.
Kinh Giải Thoát
Giáo - Ovadàpatimokkha- là bài kinh cô
đọng về giáo pháp của chư Phật, căn bản
của đời sống tu tập và tôn chỉ hoằng
pháp. Mở đầu bài kinh đức Thế Tôn dạy
rằng sự cúng dường đức Phật bằng cách
cao quí nhất là sự hành trì Phật Pháp:
Ai hành trì chánh Pháp Pháp mà Ngài dạy có thể tóm lược trong ba điều: không làm các ác nghiệp, huân tu hạnh lành và thanh lọc tâm ý. Câu kinh nầy đã trở thành lời toát yếu Phật Pháp quen thuộc với mọi người Phật tử:
Không làm các nghiệp ác Tiếp theo đức Phật nhấn mạnh khả năng kham nhẫn trong cuộc sống tu tập. Vị sa môn trên đường đạo phải học đức chịu đựng nhẫn nại. Trước hết là đối với bản thân. Ðức Từ Phụ nhắc nhở về con đường giải thoát mà chư Phật truyền dạy đều đòi hỏi sự kiên tâm. Tự chế không nuôi hiềm hận, nghiêm trì giới luật, phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, sống thanh tịnh độc cư, sống với tâm hướng thượng là những pháp căn bản của người cầu đạo giải thoát:
Diệt ác bằng nhẫn nại Ði xa hơn đức Phật dạy thế nào là cái đẹp, cái được, cái nổi bật mà một người trên đường đạo nên mong mỏi. Pháp nhẫn nại là trang sức đẹp nhất; là điều kiện tất yếu cho các thiện pháp phát triển; là trang sức của người trí; là vẻ đẹp của người hiền; là điều kiện dẫn đến những thành tựu trong cuộc sống. Nhẫn nại là phương cách diệu dụng hoá giải mọi tranh chấp:
Tất cả các hạnh lành Ðức Phật cũng nêu rõ tôn chỉ hoằng pháp khi Ngài dạy chư Tăng: Ðời sa môn sống vì lợi ích của muôn loài. Không dụ dỗ, hăm dọa, hay dùng phỉ báng, phá hoại tha nhân. Con đường giải thoát giác ngộ là con đường của những người tự giác:
Không mê hoặc, doạ hẩm
Một học giả Phật
giáo gọi kinh Giải Thoát Giáo là bản
tuyên ngôn về tôn chỉ tu tập và hoằng
pháp của Tăng lữ. Bản tuyên ngôn đó đã
được Ðức Phật long trọng trình bày trước
một thính chúng toàn bậc thánh nhơn giải
thoát. Tất cả đã im lặng mặc nhiên đón
nhận.
Thánh Hội Tăng
Già là một sự cố hy hữu xẩy ra duy nhất
một lần trong thời Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni. Thuở ấy, Ðức Ðiều Ngự đang trú ở
chùa Trúc Lâm tại thành Ràjagaha. Ðó
ngày trăng Rằm tháng Magha (tháng
Giêng). Mặc dù không một lời mời nào,
1250 vị thánh Tăng tự vân tập về. Tất cả
đều là bậc thánh tứ quả vô lậu giải
thoát và đều xuất gia bằng lời gọi của
Ðức Phật: "ehi bhikkhu - thiện lai tỳ
kheo". Những bậc phước huệ vẹn toàn đó
đã ngồi vây quanh dưới chân của Ðấng Ðại
Giác trong sự im lặng tuyệt đối. Những
lời giản dị nhưng thâm sâu của Phật được
đón nhận bởi những tâm hồn cao khiết.
Dưới ánh trăng vằng vặc sáng trong vườn
trúc, tiếng nói giác ngộ được nói lên
bởi con người giác ngộ cho một hội chúng
giác ngộ. Quả là một cuộc gặp gỡ vô tiền
khoáng hậu.
Rằm Tháng Giêng
cũng kỷ niệm ngày Ðức Phật tuyên bố đạo
tròn duyên mãn và Ngài sẽ viên tịch
trong ba tháng nữa. Sau 45 năm hoằng
đạo, đức Phật kết thúc năm sau cùng bằng
cuộc hành trình dài. Năm ấy Ngài đã 80
tuổi. Con đường từ Ràjagaha về Kusinara
ghi lại nhiều sự cố quan trọng. Tại
Vesalì, Ðức Ðiều Ngự "với cái nhìn của
con voi chúa" đưa mắt quanh núi đồi
thanh tú của xứ Vajji lần sau cùng. Buổi
trưa hôm đó tôn giả Ananda vị thị giả
của đức Như Lai cảm nhận sự rung chuyển
mạnh của một cơn động đất trong khi đang
thiền tịnh. Tôn giả đến gặp bậc Ðạo Sư
và từ kim khẩu của Phật tôn giả được
biết rằng Ðức Phật đã quyết định sẽ viên
tịch sau 3 tháng tới. Không cầm được
nước mắt, người đệ tử trung kiên nầy đã
khẩn cầu đức Phật trụ thế lâu hơn. Ðức
Phật ôn tồn:
- Hỡi Ananda,
các con còn chờ đợi gì nữa ở Như Lai.
Giáo pháp đã được truyền dạy đầy đủ
không có gì giấu kín. Bốn chúng đệ tử đã
được hướng dẫn đầy đủ trong việc tu học.
Pháp và Luật đã được giảng giải tường
tận.
Rất dễ dàng cho
hậu thế chia sẻ tâm trạng của tôn giả
Ananda nhưng cũng không thể quên rằng sự
hoàn tất ngôi nhà giáo pháp của Ðức Phật
là một sự kiện thiêng liêng để kỷ niệm.
Rằm Tháng Giêng
cũng được gọi là Ngày Pháp Bảo - Dhamma
Day. Cùng với ngày Phật Bảo (đại lễ Rằm
Tháng Tư) và ngày Tăng Bảo (Lễ Kathina
tháng Mười.) Bởi vì nội dung kinh Giải
Thoát Giáo được xem là tôn chỉ của giáo
Pháp nên đại lễ nầy được gọi là Ngày
Pháp Bảo.
Giáo Hội Tăng
Già Nguyên Thủy Việt Nam tại hải ngoại
đã thông qua ba ngày lễ trên là những
ngày truyền thống của Phật giáo và những
ngày lễ chính thức khác trong năm như
ngày Cha Mẹ (Vu lan), Ngày Thiếu Nhi
(Trung thu) ... Quyết định được công bố
vào tháng 11 năm 1997.
Thọ Trì Hạnh Ðầu
Ðà là cách cúng dường bằng sự tu tập.
Lời xưa Phật dạy ai hành trì chánh pháp
là cúng dường Như Lai bằng cách cao
thượng. Nay những đệ tử cúng dường Phật
bằng một đêm tu học không ngủ. Chữ đầu
đà là phạn âm của từ ngữ Dhutanga có
nghĩa là pháp tiêu trừ phiền não. Có tất
cả là 13 hạnh đầu đà. Quyển Thanh Tịnh
Ðạo (Visuddhimagga) giải thích tường tận
về mỗi hạnh với hiệu năng đối trị những
phiền não khác nhau. Hạnh đầu đà trong
đại lễ là hạnh sau cùng của mười ba
hạnh. Ðây là pháp tiết chế sự mê ngủ
bằng cách chỉ đi, đứng, ngồi chứ không
nằm. Nói cách khác đây là một đêm không
ngủ tu tập cúng dường đức Phật. Thiền sư
Buddhadàsa ghi lại những kinh nghiệm bản
thân khi Ngài thức đêm thiền định trong
rừng: "thế giới về đêm quả có nhiều điểm
kỳ diệu. Hình như trong sự yên tĩnh của
màn đêm có cả bao nhiêu sự sống động
tiềm ẩn. Những ai theo đuổi cuộc sống
tinh thần không nên bỏ qua kinh nghiệm
quí báu nầy."
Tùy theo mỗi
chùa, đêm đầu đà có thể bao gồm nhiều
tiết mục tu học. Thường thì gồm có
thuyết pháp, luận đạo, tụng kinh, kệ
kinh, hành thiền, kinh hành, v.v... Nói
chung là những sinh hoạt tu học khó tìm
thấy ở những đại lễ khác.
Cúng đèn cũng là
một nghi thức đặc biệt của đại lễ. Túc
Sanh Truyện cho chúng ta biết không phải
chỉ có trong thời Ðức Phật đến nay mới
có việc cúng đèn. Từ thời xa xưa đã có
cách dúng dường như vậy. Nền văn minh Ấn
hà có tục thờ lửa nên xem đèn như như
một lễ phẩm quan trọng trong nghi thức
tôn giáo. Thời xưa đèn là một nhu yếu
cho các pháp hội buổi tối. Vì thế cúng
đèn cũng là cúng dường Pháp Bảo. Dù làm
cho sáng hay cho đẹp thì theo lý Nhân
Quả người cúng đèn có phước quả sanh làm
người có gương mặt sáng lạng ngoài ra
nếu có nguyện lực cũng là nhân sanh trí
huệ. Người Phật tử Việt nam xem hương,
đăng, hoa, quả là bốn lễ phẩm cúng dường
chính cho bàn thờ.
Vì lễ thọ đầu đà
tổ chức buổi tối nên cúng đèn mang lại
không khí thiêng liêng đặt biệt. Hai
mươi tám (28) ngọn đèn được thắp để cúng
dường 28 vị Chánh Ðẳng Chánh Giác như
trong Buddhavamsa (Phật sử) ghi chép.
Một trăm lẻ tám (108) ngọn đèn để tiêu
tai bạt nghiệp từ 6 căn, 6 cảnh, 6 thức
thuộc nội phần và ngoại phận trong ba
thời quá khứ, hiện tại, vị lai
((6+6+6)xx 2 x 3=108). Tục cúng cúng sao
giải hạn vào lễ Thượng Nguyên cũng lấy
việc cúng đèn làm nghi thức chánh.
Nói chung dù
theo truyền thống hay tập tục thì lễ
Thượng Nguyên vẫn có hai điểm nổi bật là
cúng dường ngày Pháp Bảo và cầu an cho
bản thân và gia đình.
Kệ
Tụng Đại Lễ Rằm Tháng Giêng Tiết nguyên tiêu sự tích còn ghi Hào quang rạng ánh từ bi Tăng già thắng hội nan nghì nhân duyên Cả hội chúng thánh hiền cụ túc Nghìn hai trăm năm chục Tỳ khưu Thiện Lai nhập đạo tối ưu Viên thông tứ quả gương lưu cõi đời Tự vân tập không lời mời thỉnh Chốn đạo tràng thanh tịnh Trúc Viên Hướng về hội chúng trang nghiêm Phật ban giáo chỉ thiêng liêng bảo tồn Hỡi Tăng chúng Thế Tôn quá khứ Hội Thánh Tăng đầy đủ ba lần Tháng Giêng bố tát ngày rằm Biệt Giải Thoát Giáo pháp âm lưu truyền Nay ta chỉ một phiên thánh hội Bởi nhân duyên tùy mỗi thời kỳ Vì rằng tuổi thọ hiện thời Ngắn hơn những kiếp loài người thịnh hưng Hỡi Tăng chúng lắng lòng nghe rõ Thầy Tỳ khưu sùng mộ Như Lai Là người chơn chánh triển khai Tam học diệu pháp Như Lai giáo truyền Các điều ác cần chuyên dứt bỏ Những hạnh lành gắng cố trau giồi Giữ tâm thanh tịnh trọn đời Ấy lời chư Phật ba thời dạy khuyên Pháp nhẫn nại thắng duyên tối thượng Quả niết bàn lạc tịnh tối ưu Xuất gia không hận không thù Giữ lòng từ ái cho dù hiểm nguy Không phỉ báng không gây thương tổn Giữ mình theo giới bổn thọ trì Uống ăn tiết độ quán tri Ðộc cư thiền định chuyên trì công phu Nhẫn nại pháp tối ưu căn bản Khiến hạnh lành giới định đặc thù Diệu năng nhẫn nại đoạn trừ Căn nguyên lầm lỗi cho dù tế thô Mọi tranh chấp hơn thua phải quấy Dùng nhẫn kham hoá giải chấp tranh Nhẫn nại trang phục tuyệt trần Của hàng trí giả đạo căn kiên cường Pháp nhẫn nại là nguồn cội phúc Là bạn hiền tài lộc uy danh Tự tha lợi lạc phúc lành Trời người quí kính thác sinh cõi trời Cuối sanh tử chứng ngôi bất tử Liễu niết bàn bất khứ bất lai Ðúng là ngưỡng mộ Như Lai Cúng dường chư Phật cách này tối ưu Nam Mô Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo
Tiểu sử
Hoà thượng Giác Chánh Bodhisamma Mahathero
Ngài sinh năm
1947 tại Vĩnh Long, thế danh là
Phạm Văn Chánh. Thân phụ ngài là
cụ ông Phạm Văn Trị (1904-1996),
thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hai
(1910-1966). Thời tuổi trẻ ngài
sống chung với cha mẹ, đến năm 20
tuổi lập gia đình với cô Nguyễn
Thị Mười và có một cô con gái
duy nhất tên Phạm Thị Lý. Năm
1967, chỉ vài tháng sau khi cô con
gái chào đời, ngài bỏ nhà đi xuất
gia với hòa thượng Tịnh Sự ở
chùa Viên Giác (Long Hồ, Vĩnh Long)
và theo chân thầy học đạo, đặc
biệt chuyên tâm tạng A-Tỳ-Đàm
suốt 5 năm.
Năm 1970, ngài
tháp tùng hòa thượng bổn sư tìm
ra Hòn Nghệ nằm ngoài khơi biển
Kiên Giang để tu tập thiền định
trong hoàn cảnh một thầy một trò.
Năm 1971 ngài xin phép thầy ra chùa
Tam Bảo (Vũng Tàu) học thiền Tứ
Niệm Xứ với hòa thượng Giới
Nghiêm trong một năm. Năm 1973,
ngài vào tòng học ở Phật Học
Viện Phật Bảo cũng của hòa
thượng Giới Nghiêm.
Trong khoảng
thời gian từ 1970 đến 1975, ngài là
một giảng sư ở Sài Gòn và các
tỉnh ( Vũng Tàu, Mỹ Tho, Vĩnh Long)
và đã dành thời giờ biên soạn,
ấn hành các đầu sách như Pháp Âm
(2 tập), Pháp Thừa (2 tập), Chánh
Đạo Ngâm Khúc (Thi hóa nội dung
kinh Cát Tường - Mangalasutta), Đạo
Trường Siêu Thanh (không xuất
bản), Vi Diệu Pháp Nhập Môn (in sau
1975).
Năm 1976, ngài
đã cùng hòa thượng Thiện Pháp
vào rừng Bình Sơn (liền dãy với
An Diễn, Suối Trầu, Cẩm Đường bây
giờ) để xây dựng ngôi chùa Thiền
Quang mái tranh vách đất và nuôi
dạy gần 20 sa di cùng giới tử (Sư
TK cũng có trong số này). Đây
chính là chỗ xuất thân của một
thế hệ vàng gồm nhiều vị tăng
thành tựu đạo nghiệp sau này như
ngài Giác Giới viện chủ tổ đình
Viên Giác hôm nay, ngài Bửu Chánh
viện chủ thiền viện Phước Sơn,
ngài Giác
Đẳng viện chủ chùa Pháp Luân
(Hoa Kỳ), ngài Giác Trí viện chủ
chùa Hộ Pháp (Vũng Tàu), ngài
Chánh Minh viện chủ chùa Bồ Đề
(Vũng Tàu) lúc đó là cư sĩ ngoại
thiền cũng biết đến A-Tỳ-Đàm vào
thời điểm này. Bên cạnh đó là
những vị đã hồi tục như sư Giác
Liêm, sư Giác Hải (hiện ở Canada),
sư Giác Quang là dịch giả Luật
Tạng hiện ở Vũng Tàu, hoặc đã
viên tịch như ngài Giác Lý, ngài
Giác Niệm, ngài Giác Tâm viện chủ
chùa Tứ Phương Tăng ở Bình
Phước, sư Ngộ Đạo (vừa viên tịch
trước tết 2020).
Điều đáng nói
là trong thời điểm 1977-1980 điều
kiện sinh hoạt cực kỳ khó khăn,
cả chùa phải ăn cơm độn khoai mì,
nhưng các lớp học A-Tỳ-Đàm vẫn
đều đặn. Có vị, như hoà thượng
Giác Đẳng, vừa tu học ở rừng vùa
vào
dạy ở Sài Gòn (ở hai tư gia cư
sĩ đường Nguyễn Thiện Thuật và
Trần Hưng Đạo). Đặc biệt với số
lượng vừa vặn 12 vị tăng trẻ,
ngài Giác Chánh và hòa thượng
Thiện Pháp (nay là viện chủ chùa
Thiền Quang I) đã thành lập Ban
Hoằng Pháp với các tiểu ban Pháp
Chế, Giảng Sư, Giám Luật... Người
ít nhưng làm việc hiệu quả, với
sự hỗ trợ đắc lực của các cư sĩ
như Cô Bảy Vĩnh Phúc (một giáo
thọ A-Tỳ-Đàm), gia đình cô Song
Ánh, cô Diệu Lạc (nay đã xuất gia
với thiền sư Kim Triệu), cô Nguyễn
Thị Bền (nay đang ở Đức) và cả cụ
Đốc Hiểu (đã cúng dường bộ Tam
Tạng tiếng Thái trước khi mất năm
1978).
Chính ngài sơ
tổ Hộ Tông và đại lão hòa
thượng Hộ Giác cũng từng vào tận
ngôi chùa rừng này để hỗ trợ tinh
thần nhóm tăng trẻ. Xúc động nhất
là ngài tăng thống đương nhiệm
của Nam Tông Việt Nam lúc đó là
đại lão Ấn Lâm ở trụ sở Kỳ Viên
đã tự tay phơi khô từng ổ bánh
mì khất thực được ở Sài Gòn để
gởi người mang ra chùa rừng Thiền
Quang nuôi nhóm tăng trẻ và tạo
điều kiện cho các vị vào dạy học
tại chùa Kỳ Viên là trụ sở giáo
hội thời đó.
Số lượng
thành viên Ban Hoằng Pháp tuy không
nhiều, nhưng phần hành của mỗi
tiểu ban rất rõ ràng và làm việc
hiệu quả. Ban Giảng Sư đến từ các
từ các tỉnh, mỗi ba tháng có cuộc
họp mặt tại chùa rừng Thiền Quang
để báo cáo những việc đã làm
được hay trình bày những khó khăn
đang gặp phải. Ban Giám Luật có
trách nhiệm quan sát và kiểm tra
các giới tử trước khi chư tăng
bỏ phiếu quyết định có đồng thuận
cho đắp y thọ giới hay không. Tất
cả đều là phiếu kín. Các giới tử
muốn thọ giới sa di phải thuộc
lòng 105 giới sa di bằng tiếng Pāli
và 14 phận sự tăng sĩ bằng tiếng
Việt, cùng với phần hạnh kiểm
được chư tăng tại chùa nhận xét.
Hoạt động của
Ban Hoằng Pháp kéo dài đến cuối
năm 1981 thì vì nhiều chướng
duyên đã đình chỉ sau gần 20 phiên
họp tam cá nguyệt. Sau đó ngài
Giác Chánh đã rời khỏi chùa Thiền
Quang về an cư một mùa mưa tại
chùa Bửu Long (khi đó ngài sơ tổ
Hộ Tông đã đi Pháp). Sau mùa an cư
này, ngài trở về Long Thành nhận
đất cúng dường của bà Đại Tín
để xây dựng chùa Thiền Quang II.
Và tất cả chư tăng huynh đệ gọi
chùa Thiền Quang cũ trong rừng là
Thiền Quang I. Cả hai Thiền Quang I
và Thiền Quang II tiếp tục tồn tại
cho đến bây giờ.
Đầu năm 1983,
ngài Giác Chánh phát động phong
trào học thuộc Tam Tạng Pāli bằng
cách giao cho mỗi vị một bộ kinh
để học thuộc lòng, đều bằng tiếng
Pāli, và mỗi 3 tháng lại có một
cuộc thi trùng tụng. Bất cứ chư
tăng hay cư sĩ nào trong 3 tháng
trước đó đã học xong 120 trang kinh
tạng Pāli thì được trao tặng một
phần thưởng có tên gọi là Giải
Nibbāna. Ba lần Nibbāna thì được
một lần Saddhamma với phần thưởng
nhiều gấp đôi. Những người nhận
học và thi Tam Tạng Pāli thời đó
theo phát động của ngài có khoảng
20 người, có thể kể lại đại khái
như sau: Sư Giác Tấn và cô Diệu
Ngọc chịu trách nhiệm bộ
Paṭṭhāna, sư Ngộ Giới chịu trách
nhiệm bộ Yamaka, sư Chánh Ngữ chịu
trách nhiệm bộ Kathāvatthu, sư
Chánh Pháp chịu trách nhiệm bộ
Vibhaṅga, sư TK và sư Chánh Nghiệp
chịu trách nhiệm bộ Dhammasaṅganī,
sư Giác Tông chịu trách nhiệm bộ
Tăng Chi,... Bên cạnh phong trào
học thuộc Tam Tạng, các giảng sư
phải trải qua các buổi khảo nghiệm
trình độ A-Tỳ-Đàm với chính ngài
Giác Chánh. Lúc này hòa thượng
Tịnh Sự vẫn còn tại tiền. Và
nhân chứng cho các sự kiện trên
đây hiện vẫn còn không ít người.
Cũng do nhân
duyên, phong trào học thuộc lòng
Tam Tạng cũng chỉ kéo dài khoảng
được 3 năm thì ngừng hẳn. Đến
đầu năm 1987, ngài Giác Chánh lại
tiếp tục phát động phong trào
phiên dịch kinh điển từ các nguồn
tiếng Anh và tiếng Thái. Phần
tiếng Thái là do cư sĩ Ngô Văn
Kỷ đứng ra hướng dẫn tiếng Thái
cho chư Tăng. Các sách tiếng Thái
được đặt mua từ Thái Lan do cư sĩ
Trần Bá Thế mang về. Do xét thấy
phần Luật Tạng chưa được phiên
dịch ở Việt Nam nên ngài đã ra
phần thưởng hậu hỷ cho những vị
nào dịch sách Luật. Chính nhờ
phong trào này mà toàn bộ giáo
trình A-Tỳ-Đàm của đại học Rakhang
của Thái được dịch toàn bộ sang
tiếng Việt và phổ biến rộng rãi
trong chư tăng.
Chính ngài
Giác Chánh là người đầu tiên mà
cũng là duy nhất tổ chức pháp hội
mỗi ba tháng ở các chùa trong nhóm
đệ tử hòa thượng Tịnh Sự. Nội
dung của các pháp hội này là
những chư tăng hay cư sĩ nào có
viết bài thuyết trình về các đề
tài giáo lý đều có thể ghi danh
và được sắp xếp thời gian để thay
phiên nhau lên thuyết trình trong
mỗi kỳ pháp hội với thời gian kéo
dài suốt đêm. Ở các chùa ngoài
nhóm thì mỗi năm chỉ có nhiều
lắm là 2 đêm pháp hội và nội dung
không dày đặc như vậy. Thường
chỉ là một hai thời pháp của chư
tăng rồi tiếp theo là các tiết
mục tụng kinh, ngâm kệ Pāli, ngồi
thiền đại chúng và đố vui Phật
Pháp. Việc khích lệ chư tăng và
cư sĩ thuyết trình Phật Pháp đã
được ngài đặc biệt quan tâm và
tổ chức từ trước năm 1980 cho đến
sau 1990.
Từ năm 1989,
ngài rời khỏi Long Thành và về
xây dựng chùa Bửu Đức ở Biên Hòa
trên ngôi chùa cũ được gia đình
sư Pháp Bửu hiến cúng. Tại đây
mỗi chủ nhật chùa đều có một
buổi giảng pháp cho Phật tử địa
phương do chính ngài hoặc chư
tăng trong chùa đảm nhiệm.
Theo thời gian,
tuổi đời càng lớn, ngài từ chối
dần công việc của giáo hội, chỉ
còn giữ lại vai trò giảng sư cho
các trường hạ trong tỉnh Đồng Nai,
không còn hoằng pháp nơi xa nữa.
Thời gian tịnh
cư tại chùa Bửu Đức đã cho ngài
cơ hội đọc sách và biên soạn kinh
điển theo đúng ước mơ từ thời
trẻ. Năm 1991, theo lời yêu cầu
của một phật tử thân tín, ngài
đã tra lục kinh điển để thực hiện
bộ trường thi có tên là Phật Sử
Diễn Ca dài 10.000 câu, gấp năm
lần truyện Kiều. Bộ này khi được
tái bản được đặt tựa mới là
Đấng Thiên Nhân Sư Gotama. Từ sau
năm 2000, ngài dành nhiều thời gian
để nghiên cứu và thực tập pháp
môn Niệm Xứ.
Đương nhiên
không ai ở Việt Nam có đủ thẩm
quyền để đưa ra một đánh giá so
sánh là vị nào hơn kém vị nào,
nhưng những ai đã từng đọc và nghe
ngài, chắc chắn đều phải nhận
rằng ngài là một chuyên gia về
A-Tỳ-Đàm của Nam Truyền và Duy
Thức Học của Bắc phái. Ngài không
sở hữu bất cứ một bằng cấp học
vị nào mà mọi sở tri đều là tự
học, nhưng có nghe và đọc ngài
mới hiểu kiến văn của ngài là
không bờ mé.
Từ năm 2005,
ngài đã dành trọn thời gian để
đọc kỹ và san định hai bộ Thanh
Tịnh Đạo và Vô Ngại Giải Đạo.
Tiếc là mãi cho đến lúc viên
tịch, công trình này dầu đã hoàn
tất, vẫn chưa được ấn hành. Bên
cạnh công việc này ngài đã nhận
lời thỉnh cầu của chư tăng vào
góp mặt trong các buổi giảng
Paltalk. Ngài khiêm tốn nói rằng
chỉ đảm nhận vai trò của một lão
tướng thủ thành, điền khuyết vào
những buổi giảng mà các giảng sư
trẻ tuổi vắng mặt. Sự có mặt của
ngài đã làm cho các buổi giảng
trở nên ấm cúng và chắc chắn là
có phần thâm hậu hơn.
Song song theo
đó, sau các buổi thiền tập một
mình, ngài đã viết lại tất cả
kinh nghiệm vào trong bộ Chiếu Kiến
Nghiệp Xứ dày khoảng 400 trang, tất
cả chỉ được phát hành nội bộ.
Mong là chúng ta có đủ nhân duyên
để phát hành bộ sách này và
những công trình khác của ngài
vào một ngày gần nhất.
Đời ngài chỉ
vỏn vẹn 74 năm với 50 năm mặc áo
tu nhưng tâm nguyện của ngài không
biết cho đến thế hệ nào mới có
thể làm tròn được. Và dấu ấn mà
ngài để lại cho Phật Giáo Việt Nam
biết bao lâu mới có thể phai mờ.
Thậm chí nhiều người đã nhận
được nguồn ân trạch của ngài qua
các trung gian cũng không hề biết
đến điều này. Đối với hòa thượng
Tịnh Sự, ngài giống như Khuy Cơ
của ngài Huyền Trang hay Tăng Triệu
với La Thập. Không có hòa thượng
Tịnh Sự thì người Việt không
biết đến tạng A-Tỳ-Đàm và ngài
Giác Chánh chính là người thay
mặt thầy giao phó viên ngọc báu
này đến tận tay nhiều người, qua
nhiều phương tiện và nhiều trung
gian. Thậm chí có thể nói rằng
pháp môn Tứ Niệm Xứ và giáo lý
Duyên Khởi đã nhờ hai ngài mà
được xiển dương và nhận thức
đúng đắn dù chỉ ở một số ít
người tại Việt Nam giữa một thời
buổi mà Phật Giáo hình thức đã
đẩy lùi Phật Giáo nội dung.
Mối quan tâm lớn
nhất thuở bình sinh của hòa thượng không
phải là kiến tạo chùa chiền, mà lại nhằm
vào hai việc khác là đào tạo các thế hệ
tăng tài và truyền bà giáo pháp, đặc
biệt giáo lý A Tỳ Đàm và pháp môn Tứ
Niệm Xứ. Hòa thượng đã để lại những
người học trò có thể ít nhiều tiếp nối
được lý tưởng của ngài và một số ngôi
chùa do ngài khai
sơn hoặc tiếp nhận mà mục đích
vẫn là để hoằng truyền Phật Pháp. Có thể
kể ra đây một số ngôi chùa do ngài trực
tiếp hoặc gián tiếp xây dựng như Thiền
Quang II (thượng tọa Chí Tâm trụ trì),
chùa Nguyên Thủy (Cát Lái), chùa Quảng
Nghiêm (thượng tọa Tuệ Quyền trụ trì),
chùa Cồ Đàm (thượng tọa Chơn Thiện trụ
trì), chùa Siêu Lý Vĩnh Long, chùa Ngọc
Đạt Phước Tân (hòa thượng Trí Đức trụ
trì)....chưa kể những ngôi chùa có quan
hệ đặc biệt như Thiền Quang I, Siêu Lý
Phú Định (thượng tọa Pháp Nhiên trụ
trì), Viên Giác Vĩnh Long, Tứ Phương
Tăng Cần Thơ.
Ngài không có
nhiều đệ tử truyền giới, trước sau có lẽ
không hơn 20 vị. Hai vị đệ tử đầu tiên
của ngài là thượng tọa Trí Quảng (hiện
là trụ trì chùa Bửu Môn, Texas, Hoa Kỳ),
thượng tọa Trí Tịnh (trụ trì chùa Phật
Pháp, Florida, Hoa Kỳ) và người đệ tử
cuối cùng là đại đức Pháp Tín, người thị
giả tận tụy đã chăm sóc
ngài trong những năm tháng cuối
đời cho đến tận phút viên tịch và hiện
cũng đang là người kế thừa tổ đình Bửu
Đức (Biên Hòa), đồng thời cũng là một
giảng sư trên Paltalk.
Ngài đã ra đi
nhưng vẫn còn đó. Cho đến bao giờ
còn có người cần đến ánh nắng
cho hơi ấm và ánh sáng, còn cần
đến dưỡng khí để mà thở và còn
cần biết đến cái gì là biển rộng
trời cao giữa nhân gian tù đọng
này.
Tampa, mùa
tang 2020
|