|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 28 tháng 02, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 258, 259, 260-HÀNH TRÌNH GIÁC NGỘ DẪN ĐẾN GIẢI THOÁT- Kinh Vô Thường (Aniccasuttaṃ). Kinh Khổ não (Dukkhasuttaṃ). Kinh Vô Ngã (Anattasuttaṃ). ****** 258. Kinh Vô Thường (Aniccasuttaṃ) Tập III – Uẩn - Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phần I-Phẩm Vô Thường (S,ii,297)
Evaṃ me sutaṃ—sāvatthiyaṃ.
Tatra kho …pe…
“rūpaṃ, bhikkhave, aniccaṃ, vedanā aniccā, saññā aniccā,
saṅkhārā aniccā, viññāṇaṃ aniccaṃ.
Evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi
nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati,
saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṃ
virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti.‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Tôi
được nghe như vầy,
Tại Sāvatthi
Tại đấy …
-- Này chư Tỳ khưu, sắc là vô thường …,
thọ là vô thường…, tưởng là vô thường … các hành là vô
thường…, thức là vô thường.
Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu thấy vậy nhàm
chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với
tưởng, nhàm chán đối với hành, nhàm chán đối với thức. Do
nhàm chán vị ấy ly tham. Do ly tham tâm được giải thoát. Khi
giải thoát, trí sanh khởi nhận rõ: “Đã được giải thoát”; vị
ấy biết: “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì cần làm
đã làm, không có thêm sự trạng nầy nữa” 259. Kinh Khổ Não (Dukkhasuttaṃ) Tập III – Uẩn -Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phần I-Phẩm Vô Thường (S,ii,298)
Sāvatthinidānaṃ.
“Rūpaṃ, bhikkhave, dukkhaṃ, vedanā dukkhā, saññā dukkhā,
saṅkhārā dukkhā, viññāṇaṃ dukkhaṃ.
Evaṃ passaṃ …pe… nāparaṃ itthattāyāti
pajānātī”ti.
Tại
Sāvatthi
Tại đấy
…
-- Này
chư Tỳ khưu, sắc là khổ…, thọ là khổ…, tưởng là khổ…, các
hành là khổ…, thức là khổ ….
Này chư
Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu thấy vậy nhàm chán đối
với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng,
nhàm chán đối với hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán
vị ấy ly tham. Do ly tham tâm được giải thoát. Khi giải
thoát, trí sanh khởi nhận rõ: “Đã được giải thoát”; vị ấy
biết: “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì cần làm đã
làm, không có thêm sự trạng nầy nữa” 260. Kinh Vô Ngã (Anattasuttaṃ) Tập III – Uẩn - Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phần I-Phẩm Vô Thường (S,ii,299)
Sāvatthinidānaṃ.
“Rūpaṃ, bhikkhave, anattā, vedanā anattā, saññā anattā,
saṅkhārā anattā, viññāṇaṃ anattā.
Evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati,
saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi
nibbindati. Nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati.
Vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Tại Sāvatthi
-- Này chư Tỳ
khưu, sắc là vô ngã…, thọ là vô ngã…, tưởng là vô ngã…, các
hành là vô ngã…, thức là vô ngã …
Này chư Tỳ khưu,
vị thánh đệ tử có học hiểu thấy vậy
nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối
với tưởng, nhàm chán đối với hành, nhàm chán đối với thức.
Do nhàm chán vị ấy ly tham. Do ly tham tâm được giải
thoát. Khi giải thoát, trí sanh khởi nhận rõ: “Đã được giải
thoát”; vị ấy biết: “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những
gì cần làm đã làm, không có thêm sự trạng nầy nữa”
Chú Thích
Chữ nibbindati
– thường
được dịch là nhàm chán hay yểm ly như
trong các mệnh đề “nhàm
chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với
tưởng, nhàm chán đối với hành, nhàm chán đối với thức” không mang ý nghĩa chán nản tiêu cực mà là trạng thái
thấy biết rõ bản chất nên không hứng thú đeo bám.
Câu “Do nhàm chán vị ấy ly tham
-
Nibbindaṃ virajjati” có nghĩa là trạng thái không vướng mắc
đến từ sự nhàm chán do biết rõ bản chất vô thường, khổ não,
vô ngã.
Câu:”Do
ly tham tâm được giải thoát
-
virāgā vimuccati” có nghĩa là sự giải thoát do đoạn tận ái
chấp và vô minh.
Câu “Khi giải thoát, trí sanh khởi nhận rõ: Đã được giải thoát
-
Vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti “ có nghĩa là một bậc
giác ngộ giải thoát luôn tự mình biết rõ sở đắc chứ không
đợi đến khi được xác chứng hay phong tặng.
Câu “vị ấy biết:
Sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, những gì cần làm đã làm, không có thêm sự trạng nầy
nữa
-
Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ
itthattāyā’ti pajānātī” có nghĩa là vị nầy biết không còn
sanh tử với năm uẩn; hành trình phạm hạnh đã viên mãn, không
cần phải tu tập gì nữa, không có thêm năm uẩn bị vô thường,
khổ não chi phối ở tương lai. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |