|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 02, tháng 02, 2025 Sinh hoạt đặc biệt-TẾT NGUYÊN ĐÁN ẤT TỴ 2025 Năm Tỵ Học Kinh Rắn
Kinh Rắn(Uragasutta)
(Sn 1)
1
Yo uppatitaṁ vineti kodhaṁ
Ai dập tắt phẩn nộ,
Bài kệ này do Đức Phật tự mình
thuyết giảng, không phải do
thầy tổ nào khác truyền lại.
Ngài đã giảng bài kinh này
tại thành phố Āḷavī,
nhân dịp quy định giới luật
liên quan đến sự bảo vệ môi
trường tự nhiên
(bhūtagāma-sikkhāpada).Khi
ấy Đức Phật ngự tại
Āḷavī, các tỳ khưu ở đó đang
xây cất am thất. Một số vị
đã chặt cây hoặc bảo người
chặt cây để lấy gỗ. Một vị
Tỳ kheo nọ đã chặt một cái
cây mà trong đó có một vị
thọ thần
trú ngụ. Vị thần ấy
buồn bực và phẫn nộ vì mất
nơi ở. Ban đầu, vị thần muốn
hại vị Tỳ kheo, nhưng sau đó
nghĩ lại rằng tốt hơn nên
bạch chuyện này lên Đức
Phật.Đức Phật khuyên vị thần
không nên gây hại, vì làm
như vậy sẽ tạo ra nhiều
nghiệp bất thiện. Thay vào
đó, Ngài chỉ cho vị thần một
nơi khác để ở.
Sau đó, Đức Phật đã thuyết bài
kệ trên để nhấn mạnh rằng
người biết hàng phục cơn sân
hận là người có thể vượt qua
sanh tử.
Từ bỏ cả hai bờ (jahāti
orapāraṁ) là đoạn tận sở
chấp. Cụm từ ora+pāraṁ (bờ
gần, bờ xa) chỉ cho sự đối
đãi lưỡng biên như vui khổ,
hữu vô, thường đoạn..
2
Yo rāgamudacchidā asesaṁ,
Ai dứt sạch dục vọng,
Chữ rāga thường chỉ cho dục vọng, nhục dục, hay sự đam mê thị
dục mạnh mẽ.
3 Saritaṁ sīghasaraṁ visosayitvā; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.
Ai đoạn tận khát ái,
Theo Sớ giải thì chữ taṇhā ở
đây chỉ hát vọng tái sinh
(là dòng chảy không ngừng
khiến chúng sinh tiếp tục
trôi lăn trong luân hồi.
Giống như một dòng sông
nhanh chóng hòa vào
biển lớn, khát vọng sinh tồn
của con người không bao giờ
chấm dứt trừ khi nó bị cắt
đứt hoàn toàn.
4 Naḷasetuṁva sudubbalaṁ mahogho; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.
Ai dẹp lòng kiêu mạn,
Ngã mạn (māna) là chướng ngại
lớn trên con đường giác ngộ.
Mạn là sự so sánh bản thân
với người khác dù là trong
cái nhìn kém cỏi, ngang
bằng, hay vượt trội. Giống
như cây cầu làm từ cỏ lau
không thể chống lại dòng
nước lũ, ngã mạn cũng phải
bị phá hủy hoàn toàn để đạt
được giải thoát.
5
Yo nājjhagamā bhavesu sāraṁ,
Ai không tìm thực hữu,
Một thuở, Đức Phật đang ngự
tại Sāvatthī (Xá Vệ). Lúc
bấy giờ, có một vị Bà-la-môn
đang chuẩn bị gả con gái.
Ông muốn trang trí con gái
bằng những bông hoa chưa
từng có ai dùng đến, xem đó
như biểu tượng của sự thuần
khiết. Với ý nghĩ đó, ông
lang thang khắp Sāvatthī,
tìm kiếm một bông hoa chưa
ai từng chạm vào. Nhưng dù
là hoa cỏ dại hay hoa trong
vườn, ông vẫn không thể tìm
thấy một bông nào hoàn toàn
như ý muốn. Khi đi tìm, ông
gặp một nhóm thanh niên
Bà-la-môn và hỏi họ. Nhóm
thanh niên đùa cợt, bảo ông
rằng:
“Chỉ có hoa Udumbara (hoa
sung) là chưa từng ai chạm
vào. Ông hãy đi tìm nó.”
Vị Bà-la-môn tin lời họ, nên
sáng hôm sau, sau khi dùng
bữa xong, ông đi đến bờ sông
Aciravatī, nơi có nhiều cây
Udumbara (sung), để tìm kiếm
hoa.
Lúc đó, vị Tỳ-kheo hỏi:
“Này Bà-la-môn, ông đang tìm
gì vậy?”
Ông đáp:
“Tôi đang tìm hoa Udumbara.”
Vị Tỳ-kheo nói:
“Hoa Udumbara không có trên
thế gian này. Đừng phí công
tìm kiếm.”
"Yo nājjhagamā bhavesu sāra"
Chữ sāra nghĩa là cốt lõi,
thực hữu, cái hằng hữu
Theo Sớ giải chữ "Bhavesu"
(trong các cõi hiện hữu)
gồm: Itibhavābhavatañca vītivatto; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.
Ai không nuôi sầu muộn,
Sự bực bội khó chịu sanh khởi
do chấp thủ “hữu và vô”. Nói
cách khác là chuộng nầy,
không ưa cái khác. Người
không chấp hữu vô thì không
còn bực tức.
Theo Sớ giải chữ antarato
(khoảng cách) ở đây chỉ cho
nội tâm. Sớ giải cũng chú thích bài kệ nầy nói về tâm thái của vị a na hàm.
7 Ajjhattaṁ suvikappitā asesā; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ. ![]()
Ai xoá tan tà niệm,
Chữ vitakkā (tầm) chỉ cho suy
nghĩ, ý niệm. Tàm niệm có ba
thứ: dục tư duy
(kāma-vitakka), sân tư duy
(byāpāda-vitakka),
hại tư duy
(vihiṃsā-vitakka).
8 Sabbaṁ accagamā imaṁ papañcaṁ; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.
Không quá ít, quá nhiều
Sớ Giải nêu lên một số “cực
đoan”: |