|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 04 tháng 02, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 368. SỰ MÊ LẦM SÂU KÍN TRONG TÂM THỨC- Kinh Từ Bỏ Vô Minh (avijjāpahānasuttaṃ). ******
Vô minh là sự mê lầm nhưng không phải là sự ngu ngốc
nhất thời mà là cái nhìn sai lạc
bao trùm lên cuộc sống đến mức
độ không thể thấy được đó là cái
nhìn sai. Lịch sử nhân loại có
vô số thí dụ như vậy. Thí dụ như
niềm tin trái đất bằng phẳng,
hay thế giới chỉ mới 10 ngàn
tuổi từ lúc “tạo thiên lập địa”,
hoặc không biết về vi trùng
truyền nhiễm bệnh mà mắt thường
không thấy được. Đức Phật dạy về
sự chấp thủ sai lạc của chấp ngã
hằng hữu trong thế giới hiện
tuợng vốn tụ tán da nhiều nhân,
nhiều duyên. Sáu nội xứ, sáu
ngoại xứ đều vô thường với bản
chất “hữu sanh, hữu diệt”. Chỉ
khi thành thật chấp nhận thì vô
minh diệt và minh sanh khởi.
53. sāvatthinidānaṃ. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ
nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca — “kathaṃ
nu kho, bhante, jānato kathaṃ
passato avijjā pahīyati, vijjā
uppajjatī”ti? “cakkhuṃ kho,
bhikkhu, aniccato jānato passato
avijjā pahīyati, vijjā
uppajjati. rūpe aniccato jānato
passato avijjā pahīyati, vijjā
uppajjati. cakkhuviññāṇaṃ...
cakkhusamphassaṃ... yampidaṃ
cakkhusamphassapaccayā uppajjati
vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
aniccato jānato passato avijjā
pahīyati, vijjā uppajjati.
sotaṃ... ghānaṃ... jivhaṃ...
kāyaṃ... manaṃ aniccato jānato
passato avijjā pahīyati, vijjā
uppajjati. dhamme ...
manoviññāṇaṃ...
manosamphassaṃ... yampidaṃ
manosamphassapaccayā uppajjati
vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
aniccato jānato passato avijjā
pahīyati, vijjā uppajjati. evaṃ
kho, bhikkhu, jānato evaṃ
passato avijjā pahīyati, vijjā
uppajjatī”ti. paṭhamaṃ.
53. Tại Sāvatthī. Khi ấy, một vị tỳ khưu đi đến gần Đức Thế Tôn, đảnh lễ
Ngài, ngồi xuống một bên, và
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người có thể hiểu biết, có thể thấy rõ,
để vô minh được từ bỏ và minh
sinh khởi ?”
Đức Phật dạy:
“Này khưu, khi một người biết và thấy rằng mắt là vô thường, thì vô minh
được từ bỏ và trí tuệ khởi sinh.
Khi một người biết và thấy rằng
sắc là vô thường, thì
vô minh
được từ bỏ và minh sinh khởi
.Khi một người biết và thấy rằng
nhãn thức là vô thường... khi
biết và thấy rằng nhãn xúc là vô
thường...Khi biết và thấy rằng
bất cứ cảm thọ nào khởi sinh do
duyên nhãn xúc—dù là lạc thọ,
khổ thọ hay thọ không khổ không
lạc—là vô thường, thì vô minh
được từ bỏ và minh sinh khởi.
(Tương tự), khi biết và thấy rằng tai,,,, mũi,,,, lưỡi,,,, thân,,,, ý là
vô thường, thì vô minh được từ
bỏ và trí tuệ khởi sinh.Khi biết
và thấy rằng các pháp là vô
thường... khi biết và thấy rằng
ý thức là vô thường... khi biết
và thấy rằng ý xúc là vô
thường...Khi biết và thấy rằng
bất cứ cảm thọ nào khởi sinh do
duyên ý xúc—dù là lạc thọ, khổ
thọ hay thọ không khổ không
lạc—là vô thường, thì vô minh
được từ bỏ và minh sinh khởi .
Này tỳ khưu, khi một người biết và thấy như vậy, vô minh được từ bỏ và
minh sinh khởi.”
Chú Thích
Phẩm Vô Minh gồm 10 bài kinh khởi đầu với Kinh Diệt Tận Vô Minh.
Định nghĩa về vô minh theo sớ giải là không biết về thực tại qua bốn
phương diện: khổ, nhân sanh khổ,
sự diệt khổ, và con đường diệt
khổ. Đối ngược lạ, minh là tuệ
giác thấy rõ tính phổ quát của
toàn bộ cuộc sống.
Sớ giải cũng ghi rằng “minh” đối lập với vô minh là tuệ giác của chư vị a
la hán.
Theo Sớ Giải, khi Đức Phật giảng bài kinh nầy Ngài đặc biệt nới về bản
chất vô thường vì với phần đông
người tu tập hiện tượng sinh và
diệt dễ nắm bắt nhất.
Sớ Giải
53-62. avijjāvagge avijjāti catūsu saccesu aññāṇaṃ. vijjāti
arahattamaggavijjā. aniccato
jānato passatoti
dukkhānattavasenāpi jānato
passato pahīyatiyeva, idaṃ pana
aniccavasena kathite
bujjhanakapuggalassa ajjhāsayena
vuttaṃ. eseva nayo sabbattha.
api cettha saṃyojanāti dasa
saṃyojanāni. āsavāti cattāro
āsavā. anusayāti satta anusayā.
sabbupādānapariññāyāti sabbesaṃ
catunnampi upādānānaṃ tīhi
pariññāhi parijānanatthāya.
pariyādānāyāti khepanatthāya.
sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Chú thích các bài kinh từ số 53 đến 62
"Avijjā" (Vô minh) Là sự không biết về bốn sự thật (catūsu saccesu
aññāṇaṃ), tức là không hiểu
rõ Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt,
Đạo).
"Vijjā" (Trí tuệ): Ở đây đề cập đến trí tuệ của tứ đạo a la hán (arahattamaggavijjā),
tức là sự giác ngộ hoàn toàn.
"Aniccato jānato passato" (Biết và thấy theo khía cạnh vô thường) Khi biết
và thấy vô thường, thì vô minh
được đoạn trừ và trí tuệ sinh
khởi. Mặc dù vô minh cũng có thể
được từ bỏ khi thấy sự khổ (dukkha)
và vô ngã (anatta), nhưng
ở đây nhấn mạnh vào sự vô thường
(anicca), vì đó là cách
dễ làm thức tỉnh một người chưa
giác ngộ (bujjhanakapuggala).
"Eseva nayo sabbattha" (Cũng theo cách này ở mọi chỗ khác) Điều này có
nghĩa là nguyên tắc này được áp
dụng cho tất cả các căn và pháp
khác.
"Saṃyojanā" (Các kiết sử) Đây là mười
kiết sử (dasa saṃyojanāni),
"Āsavā" (Các lậu hoặc)
Gồm bốn loại lậu hoặc (cattāro
āsavā):"Anusayā" (Các tùy
miên – phiền não tiềm ẩn) Gồm
bảy loại tùy miên (satta
anusayā):Sabbupādānapariññāyā"
(Liễu tri các thủ) Gồm bốn loại
chấp thủ (catunnampi
upādānānaṃ):"Pariyādānāya" (Sự diệt tận hoàn toàn) có nghĩa là sự tiêu diệt hoàn toàn
(khepanatthāya), tức là
đoạn trừ tất cả các kiết sử và
lậu hoặc.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
I. Phẩm Vô Minh
Nhân duyên ở Sàtthi.
53.I. Vô Minh (S.iv,30)
1) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn
rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, vô
minh được đoạn tận, minh được sanh khởi?
4) -- Này Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, vô minh
được đoạn tận, minh được sanh khởi. Do biết, do thấy các sắc là
vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi... nhãn
thức... nhãn xúc... Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc,
khổ hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô
thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.
5-8) Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...
9) Do biết, do thấy ý là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh
được sanh khởi... Các pháp... Ý thức... Ý xúc... Do duyên ý xúc
khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc ; do biết, do
thấy cảm thọ ấy là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được
sanh khởi.
10) Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, vô minh
được đoạn tận, minh được sanh khởi.
-ooOoo- |